PHƯƠNG PHÁP KIỂM SOÁT CHI PHÍ CHẤT LƯỢNG:
TÌM HIỂU THỰC TẾ BÊN TRONG CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP.
TÓM TẮT:
Bài báo này báo cáo về nghiên cứu thực tế việc áp dụng quản lý chi phí chất lượng trong 4 công
ty đa quốc gia lớn thành công. Cả 4 công ty này đều sử dụng những sáng kiến quản lý chất lượng
theo hệ thống, tuy nhiên,phương pháp chi phí chất lượng chỉ được áp dụng tại 1 trong 4 công ty
trên. Điều này tương ứng với tranh luận ở các nghiên cứu rằng tiếp cận COQ thì không được tận
dụng ở hầu hết các chương trình quản lý chất lượng. Bài nghiên cứu này thảo luận và so sánh
chương trình chất lượng của cả 4 công ty và giải thích lợi ích của việc ngẫu nhiên áp dụng CoQ
trong mỗi trường hợp. Những phân tích cung cấp một sự tìm hiểu mới chuyên sâu vào thực tế áp
dụng tại các công ty, nó hữu ích không chỉ với những nghiên cứu học thuật mà còn cho lĩnh vực
công nghiệp.
GIỚI THIỆU:
Cải tiến chất lượng thường được cân nhắc bởi nhiều người như là phương pháp tốt nhất để tăng
sự thỏa mãn của khách hàng, giảm chi phí sản xuất và tăng năng xuất. Mọi nỗ lực để cải tiến chất
lượng đều phải được xem xét trong tương quan giữa chi phí và chất lượng đạt được, vì ngày nay
khó có thể đáp ứng những yêu cầu của khách hàng, vấn đề đó cần phải được thực hiện với mức
chi phí tối thiểu. Điều đó chỉ có thể xảy ra bằng cách giảm chi phí cần để đạt chất lượng, và việc
giảm những chi phí đó chỉ khả thi khi chúng được nhận diện và đo đạc. Nhận diện được những
chi phí đó không hề dễ dàng vì không có những tiêu chuẩn chung cho những chi phí liên quan
đến chất lượng. Tuy nhiên, theo Dale and Plunkett (1995), có sự chấp nhận rộng rãi rằng chi phí
chất lượng là những chi phí xuất hiện trong quá trình thiết kế, áp dụng, vận hành và bảo trì của
hệ thống quản lý chất lượng, chi phí các nguồn lực cam kết với sự cải tiến liên tục, chi phí hệ
thống, sản xuất và dịch vụ hư hỏng, cũng như tất cả chi phí cần thiết khác và những hoạt động
không đem lại giá trị gia tăng được yêu cầu để đạt được sản phẩm và dịch vụ chất lượng. Đo
lường và báo cáo những chi phí này cần được cân nhắc như là vấn đề tối quan trọng cho mọi
quản lý những người có nhiệm vụ đạt được sự cạnh tranh trong thị trường ngày nay.
Có một vài phương pháp để tập hợp, phân loại và đo lường chi phí chất lượng. Phương pháp
truyền thống P-A-F đề xuất bởi Juran (1951) và Feigenbaum (1956) chia chi phí chất lượng
thành ngăn ngừa, đánh giá và chi phí sai sót. Chi phí ngăn ngừa tương ứng với những hành động
được thực hiện để đảm bảo rằng quá trình sản xuất cho ra những sản phẩm và dịch vụ chất
và đo lường thực tế như thế nào. Những miêu tả chi tiết hơn của hệ thống CoQ từ ngành công
nghiệp có thể được tìm thấy trong Whitehall (1986),Hesford and Dale (1991) and Purgslove and
Dale (1996). Bài nghiên cứu này mong muốn đóng góp vào lĩnh vực này bằng cách cung cấp một
phân tích của quản lý chi phí chất lượng thực tế của 4 công ty thành công.
MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Mục tiêu của bài nghiên cứu này là thu thập và phân tích dữ liệu liên quan đến thực tế của 4 công
ty thành công trong lĩnh vực quản lý chất lượng. Một cách cụ thể, điều thích thú chính yếu đó là
tìm hiểu rằng nếu những công ty đó tập hợp, đo lường và kiểm soát những chi phí chất lượng, thì
những loại chi phí nào được cân nhắc trong tính toán, và có cách tiếp cận CoQ nào được sử dụng
hay ko. Những phân tích cung cấp một tìm hiểu mới chuyên sâu hơn vào thực tế công ty, hữu ích
không chỉ như một nghiên cứu học thuật nhưng sẽ được ứng dụng để sử dụng cho công nghiệp.
Bốn công ty đã được chọn để tham gia vào nghiên cứu. Mục đích chính của việc lựa chọn là
nhận diện những tổ chức áp dụng tốt các chương trình chất lượng trong những lĩnh vực công
nghiệp khác nhau. Những công ty phục vụ trong cùng lĩnh vực có thể sẽ không sẵn long chia sẻ
những chi tiết liên quan đến chất lượng cho đối thủ cạnh tranh. Nghiên cứu này giữ bí mật tên
công ty và chỉ gọi là cty A, B, C,D.
Buổi họp thống nhất thang điểm chuẩn đã diễn ra tại McGill University. Chương trình quản lý
chất lượng tại 4 công ty được miêu tả bởi những đại diện công ty. Những tổ chức cũng tận dụng
cơ hội này như là 1 cơ hội để thu thập những thông tin mới trong thực tế tại những công ty khác
và so sánh với nhau về kinh nghiệm, nỗ lực và sự thành công.
TỔNG KẾT THANG ĐIỂM CHUẨN:
Phần này sẽ tổng kết những sáng kiến trong lĩnh vực CoQ của 4 đơn vị. Sẽ có một bảng phân tích
so sánh những chiến lược chất lượng của họ và kết quả cuối cùng bên dưới.
CÔNG TY A:
Công ty A là một công ty viễn thông. Nó có nhiều sản phẩm đa dạng, vì vậy, xác suất có lỗi trên
1 đơn vị sản phẩm là rất cao (có khoảng 45.000 lỗi có thể có khi lắp đặt). Tuy nhiên, khách hàng
cty A mong muốn không có lỗi. Vì vậy chất lượng đóng vai trò quan trọng đối với người quản lý
sản phẩm của công ty.
Mô hình của công ty A cho việc đo lường và tính toán chi phí chất lượng áp dụng theo mô hình
P-A-F, trong đó CoQ=(P+A+F(bên trong + bên ngoài)+những chi phí khác)/ giá vốn hàng bán.
Mặc dù có quan tâm lớn đến việc giảm chi phí không phù hợp, công ty B không đo lường, báo
cáo hoặc biểu đồ COQ. Họ không sử dụng bất kỳ mô hình COQ chính thức và không cố gắng để
tối ưu hóa chi phí chất lượng. Tuy nhiên, nó làm giảm chi phí kém chất lượng thông qua các hoạt
động cải tiến liên tục. Công ty có những hoạt động mạnh và tập trung vào quá trình tạo ra năng
suất quá trình và cải tiến thời gian chu kỳ. Họ tin rằng một chương trình cải tiến chất lượng liên
tục tập trung vào quá trình sẽ cung cấp các cơ hội cải tiến chất lượng và từ đó giảm chi phí chất
lượng.
CÔNG TY C
Công ty C trong ngành công nghiệp hàng không vũ trụ và nhấn mạnh các sản phẩm với khuyết
tật gần bằng zero. Công ty C miêu tả mô hình chi phí chất lượng kém như một ký thuyết tảng
băng trôi, nơi mà chỉ vài loại chi phí kém chất lượng được đo và theo dõi. Đây là đỉnh của tảng
băng trôi vì hầu hết các yếu tố chi phí dẫn đến chất lượng kém là không nhìn thấy được hoặc
hoàn toàn ẩn (và không có khả năng định lượng).
Công ty C đã thực hiện một quá trình cho phép theo dõi tất cả các sự kiện không đạt chất lượng
và nguyên nhân gốc rễ gây ra cũng như các hành động khắc phục và bài học kinh nghiệm. Nó đặt
tất cả sự chú ý vào việc đo lường chi phí chất lượng kém. Nó có 4 đánh giá chất lượng chính: đo
lường không phù hợp (phế liệu, làm lại,…), không tuân thủ những thông số kỹ thuật (nội bộ, bên
ngoài, khách hàng, nhà cung cấp), số bộ phận bị lỗi mỗi triệu bộ phận và thời gian giao hàng.
Chi phí không chất lượng của họ được giảm một cách có hệ thống thông qua sáng kiến toàn công
ty dựa trên cải tiến liên tục. Nó sử dụng một hệ thống công nghệ thông tin phức tạp để theo dõi
chất lượng. Mặc dù công ty C đã thành công trong việc cải tiến chi phí chất lượng không phù
hợp, họ không sử dụng bất kỳ mô hình COQ, và nó không bao gồm chi phí chất lượng giữa
những yếu tố tính toán của nó.
CÔNG TY D
Công ty D là công ty sản xuất các sản phẩm tại nhà. Họ thiết lập mức chất lượng với một mức
bảo hành nhất định, và họ cố gắng tối ưu hóa các hoạt động chất lượng để đạt được mục tiêu này.
Tại thời điểm tìm hiểu, công ty đã không đo lường COQ; tuy nhiên công ty đã được lên kế hoạch
để làm điều đó và đang xây dựng một mô hình COQ. Chương trình COQ được dựa triên mô hình
P-A-F. Công ty D tấn công trực tiếp chi phí hư hỏng và cố gắng giảm nó xuống, đầu tư vào các
hoạt động phòng ngừa đúng để mang lại những cải tiến, giảm chi phí thẩm định theo kết quả đạt
Tình hình của công ty D thì hơi khác. Mặc dù công ty cũng không đo lường chi phí phù hợp, bản
chất của chiến lược chất lượng của riêng nó cho thấy rằng nó sẽ hưởng lợi rất nhiều nếu nó bắt
đầu làm như vậy. Xác định và đo lường của cả hai loại chi phí chất lượng chắc chắn sẽ cải thiện
chính sách chất lượng Công ty D. Chính sách có tỷ lệ xác định lợi nhuận như giới hạn chất lượng
của nó. Có thể tìm thấy một sự trao đổi thích hợp giữa chi phí phù hợp và không phù hợp sẽ giúp
công ty D xác định mức nỗ lực tối ưu nhắm vào chất lượng.
PHƯƠNG PHÁP COQ CHÍNH THỨC
Tài liệu (ví dụ , Porter và Rayner năm 1992; Schiffauerova và Thomson , 2004) cho thấy rằng ,
nếu chi phí chất lượng được đo bởi các công ty, sau đó mô hình PAF cổ điển là một trong những
mô hình thường xuyên nhất được sử dụng trong thực tế. Ngay cả trong các mẫu giới hạn của bốn
công ty , PAF là mô hình duy nhất gặp phải. Một công ty hiện đang tính toán chi phí chất lượng
theo phân loại truyền thống chi phí phòng ngừa , thẩm định và hư hỏng. Hơn nữa, Công ty
Dclaims đang có kế hoạch để sử dụng mô hình này trong tương lai gần là rất tốt. Kết quả của
nghiên cứu này xác nhận những phát hiện của nghiên cứu khác trên tần số sử dụng phương pháp
P-A-F trong công nghiệp. Các công ty này tập trung về phương pháp P-A-F cổ điển không phải
là đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên, có một số lựa chọn thay thế khác có thể theo dõi COQ. Các
phương pháp chi phí chất lượng khác như là mô hình Crosby hoặc mô hình chi phí quá trình
đang được sử dụng thành công (Schiffauerova and Thomson, 2004). Mỗi công ty có thể lựa chọn
một phương pháp COQ thích hợp với nhu cầu và tình hình tốt nhất của công ty. Đối với một
danh sách kiểm tra chi tiết về các vấn đề cần xem xét khi quyết định một cách tiếp cận COQ ,
xem Dale và Plunkett (1995).
Tính toán chi phí dựa trên hoạt động (ABC) được coi là tương thích với các hệ thống đo lường
chi phí chất lượng hơn so với kế toán truyền thống. Mặc dù hầu hết các phương pháp đo lường
COQ là hoạt động / quá trình có định hướng, kế toán chi phí truyền thống thiết lập các tài khoản
chi phí của các loại chi phí thay vì các hoạt động. Vì thế, nhiều yếu tố COQ cần phải được ước
tính hoặc thu thập bằng các phương pháp khác. Không có phương pháp đồng thuận về cách thức
phân bổ chi phí chung cho các thành phần COQ và không có phương pháp thích hợp để theo dõi
chi phí chất lượng các nguồn của chúng (Tsai, 1998). Do đó, việc sử dụng ABC cho tính toán
COQ là một thay thế hấp dẫn, và công ty A được hưởng lợi từ sự kết hợp mạnh mẽ này. Việc sử
dụng cách tiếp cận COQ cùng với ABC cho phép công ty A có được thông tin chính xác về mỗi