biện pháp nâng bậc học sinh yếu môn Toán tại trường THPT - Pdf 14

A, ĐẶT VẤN ĐỀ
I,CƠ SỞ LÍ LUẬN:
- Toán học là một môn khoa học cơ bản nhất để phát triển tư duy , trí tuệ. Từ
xa xưa loài người đã ứng dụng những thành tựu của toán học vào cuộc sống.
Ngày nay với tốc độ phát triển của nền kinh tế thị trường, xu thế đạt tới đỉnh cao
của công nghệ, con người đang dần khám phá và chinh phục tự nhiên thì hơn lúc
nào hết việc đầu tư vào giáo dục nói chung và lĩnh vực Toán học nói riêng là hết
sức cần thiết .
- Đất nước ta vốn rất coi trọng vấn đề giáo dục, và đã có được những thành
quả nhất định. Nhưng vẫn chưa xứng tầm với những nước phát triển khác, nền
kinh tế tri thức vẫn chưa phát triển mạnh mẽ. Chính vì lẽ đó Đảng, nhà nước đã
xác định “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu”.
- Con người ngày nay cần phải có sự sáng tạo, tinh tế linh hoạt và có khả năng
phán đoán nhận định tốt mọi vấn đề. Chính vì vậy cần phải phát triển và học tập
tốt khả năng Toán học để đáp ứng được nhu cầu trên.
- Thế nhưng điều mà tôi cảm nhận sâu sắc là hiện nay một số không nhỏ học
sinh không có tinh thần học tập , không có niềm đa mê , không có hoài bão ước
mơ và học không có mục đích. Điều này phải chăng là hệ lụy một số chính sách
chưa thực sự hiệu quả của nền giáo dục? Hàng loạt các trường Cao Đẳng, Đại
học được mở ra điều kiện đầu vào của một số trường còn quá dễ so với yêu cầu
và rồi hàng chục nghìn học sinh, sinh viên trong tỉnh không có việc làm sau khi
được đào tạo xong.
- Hơn thế tâm lý của bộ phận lớn phụ huynh hiện nay cảm nhận sâu sắc về
thực trạng của kết quả học tập của con em họ. Hơn nữa công cuộc mưu sinh
khiến họ không thể có nhiều thời gian kèm cặp , tìm hiểu và định hướng học tập
cho con cái. Vậy nên họ chỉ mong con họ tốt nghiệp THPT rồi đi lao động phổ
thông. Tất nhiên không phải tất cả đều như thế.
1
- Vì vậy các em đâu cần phải cố gắng học tập nhiều làm gì, bên cạnh các em
có rất nhiều những trò chơi, những vui thú mà những người thiết kế nó rất giỏi
khai thác tâm lý tuổi trẻ để moi tiền. Nhưng tại sao chúng ta không khai thác

tròn để đánh giá . Đơn giản như lớp 10A7 khi hỏi về công thức nghiệm của
phương trình bậc hai mà hầu như các em không nắm được , sau một thời gian
gợi mở lại có và ba cánh tay tôi gọi tất cả các em lên bảng trình bày và cho điểm
cao mỗi bài làm đúng. Hoặc là trong bài giảng khi hỏi về vấn đề khá dễ có
những em trả lời được ý tưởng đúng tôi phân tích rõ hơn và khích lệ em bằng
con điểm cao. Tôi cảm thấy việc làm đó khiến các em hưng phấn vá tích cực
nghe giảng, tìm tòi để “đi săn” điểm cho mình. Dĩ nhiên tôi luôn thay đổi cách
lấy điểm và luôn tăng mức độ điểm ví dụ đạt đến đâu tôi cho 10 hoặc 8,9.
2, Kết quả thực trạng:
Xuất phát từ thực trạng trên và với sự kiên trì không mệt mỏi để tìm giải pháp
tối ưu nhất cho bản thân cũng như các đồng chí trong tổ trong phạm vi trường là
làm thế nào đó để nâng dần kiến thức cho các em và mục tiêu thấp nhất là đạt
mức trung bình. Và kết quả bản thân tôi cũng như các đồng chí khác trong tổ đã
thu được một kết quả như mong muốn . môn toán của khối 10 chỉ có 11,97%
loại yếu kém. Riêng hai lớp tôi dạy đạt dưới 9% yếu kém.
B . GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1, Giải pháp thực hiện:
Đúc rút từ sau một năm dạy thực tế tại trường THPT Đinh Chương Dương.
2, Một vài kinh nghiệm trong vấn đề nâng bậc.
Thứ nhất : Phân loại đối tượng học sinh .
Với kết quả thi đầu vào của các em tôi thu thập và phân loại thông báo rõ vị trí
của từng em xếp theo thứ tự của lớp từ cao xuống thấp để các em biết rõ vị trí cụ
3
thể của mình. Sau đó lấy danh sách trên coi các em như mỗi “đội bóng” lần lượt
được thay đổi thứ hạng sau mỗi lần các em ghi điểm. Điều này khiến các em rất
háo hức và muốn thể hiện mình trong mắt các bạn còn lại.
Thứ hai :Lấy điểm trong tất cả những sự cố gắng.
Sau mỗi lần kiểm tra bài cũ tôi cố gắng gạn lấy những ý đúng của các em để cho
điểm, tất nhiên tôi luôn cho các em cơ hội để lần sau nếu lần đầu không nhớ.
Trong bài giảng mỗi lần vấn đáp tôi luôn đặt những câu hỏi ban đầu sau đó gợi

này ảnh hưởng không nhỏ đến tác phong, phong cách của người thầy. Điều này
là điểm yếu và là bất lợi trong việc gợi sự đa mê cho các em. Buộc tôi phải suy
nghĩ, và một trong ngững điều tôi làm tìm tòi những mẫu chuyện vui về toán để
nói cho các em nghe trong những lần “rỗi” của bài giảng. Bên cạnh đó là những
câu đó vui , trí tuệ để các em hiểu biết thêm về sự phong phú của suy luận toán
học kể cả những câu văn phong diễn đạt trong từng câu đó. Chẳng hạn như tôi
đố các em “ Hai vợ, chồng , ăn ba quả chuối hỏi mỗi người ăn mấy quả” hay “
Hai bố hai con ngồi trên mâm cỗ hỏi có mấy người”….thậm chí những câu
chuyện lãn mạn của những nhà toán học cho đến sự đa dạng của toán học mà
trong tự nhiên các em gặp, đến sự huyền bí của những con số….Điều này làm
được buộc tôi phải dành rất nhiều thời gian để tìm tòi và sưu tầm . Và kết quả
đạt được tôi thấy các em phấn khích và tò mò hơn trước sự kể chuyện cũng như
đưa ra câu hỏi giống như kiểu kể chuyện “Tam Quốc”.
Thứ năm: Cách giao công việc về nhà.
Tình trạng học sinh không tự tìm tòi lao động là còn nhiều đó cũng phần nhỏ do
chúng ta chưa biết vận dụng cách giao việc cho các em. Ngầm hiểu bài tập ở nhà
các em làm hoặc “chép” đều có thể chấp nhận. Nhưng sau mỗi bài dạy tôi luôn
dành những bài tập theo cấp độ và thực hiện nâng hạng cho những em vượt kế
hoạch . Có những bài treo giải thưởng bằng một món quà nhỏ khi các em thực
hiện được. Việt làm này tôi phát huy rất tốt sự đa mê của những em học khá
5
giỏi. Thậm chí có những em đặt cho mình chỉ tiêu thu lượm quà của thầy thành
bộ sưu tập.
Thứ sáu: Thái độ của thầy giáo khi gặp những học sinh quá lười nhác.
Đây là vấn đề khó khăn nhất đối với tôi khi thực hiện quy trình nâng bậc của
mình.Có những học sinh không thèm quan tâm gì đến những vấn đề tôi đưa ra
em vẫn chơi, vẫn đam mê vui thú của mình. Ngay cả gia đình cũng không điều
chỉnh nổi em. Bình tĩnh kềm chế là giải pháp tốt nhất tôi làm không bao giờ tôi
làm em cảm thấy xấu hổ trước bạn bè, tôi luôn tôn trọng em luôn cố gắng gần
gũi em và luôn giao cho em một công việc rất đặc biệt . Ví dụ như khi nhóm làm

nhà trường. Và tôi đã thu được một số kết quả hài lòng . Vì vậy tôi viết thành
một sáng kiến kinh nghiệm để đồng nghiệp tham khảo.
C, THỰC TIỄN CỦA VIỆC ÁP DỤNG KINH NGHIỆM TRÊN.
1, Đối với các lớp:
+ Năm học 2012-2013 tôi nhận 2 lớp 10A
1
-10A
7
.
TT Lớp Thời
gian
Sĩ số Giỏi Khá TB Yếu Kém
1 10A
1
Đầu
năm
40 6 7 7 20 0
Giữa
năm
40 10 14 6 10 0
Cuối
năm
38 13 17 5 3 0
10A
7
Đầu
năm
51 0 0 0 12 39
7
52HS Giữa

SKKN thuộc môn: Toán học
THANH HÓA NĂM 2013
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status