BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
LUẬN VĂN TIẾN SỸ UĐỀ TÀIU:
ĐỒNG ÂM VÀ ĐA NGHĨA
TRONG TIÊNG VIỆT
(ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI) Mã số: 62.22.01.01
GVHD : PGS. HỒ LÊ, TS. TRẦN HỒNG
SVTH : ĐÀO MẠNH TỒN
0T 58
0T2.1. HIỆN TƯỢNG ĐỒNG ÂM TRONG TIẾNG VIỆT0T 58
0T2.1.1. Tổng quan về hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt0T 58
0T2.1.2. Phân loại hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt0T 58
0T2.1.2.1. Phân loại hiện tượng đồng âm từ tiêu chí nguồn gốc0T 58
0T2.1.2.2. Phân loại HTĐÂ từ tiêu chí SLÂT và từ tiêu chí quan hệ ngữ nghĩa0T 60
0T2.1.2.3. Phân loại hiện tượng đồng âm từ góc độ các đơn vị ngôn ngữ0T 61
0T2.1.2.5. Những hiện tượng đồng âm khác0T 76
0T2.2. ĐỐI CHIẾU MỘT SỐ HTĐÂ TRONG TIẾNG VIỆT VỚI THHĐ0T 76
0T2.2.1. HTĐÂ trong THHĐ nhìn từ tiêu chí SLÂT tham gia cấu tạo0T 77
0T2.2.2. HTĐÂ trong THHĐ nhìn từ tiêu chí hình - âm – nghĩa0T 78
0T2.2.2.1. Hiện tượng đồng âm đồng hình trong THHĐ0T 78
0T2.2.2.2. Hiện tượng đồng âm dị hình trong THHĐ0T 86
0T2.3. TIỂU KẾT0T 88
0TChương 3 : HIỆN TƯỢNG ĐA NGHĨA TRONG TIẾNG VIỆT ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG HÁN
HIỆN ĐẠI
0T 90
0T3.1. HIỆN TƯỢNG ĐA NGHĨA TRONG TIẾNG VIỆT0T 90
0T3.1.1. Tổng quan về hiện tượng đa nghĩa trong tiếng Việt0T 90
0T3.1.2. Phân loại hiện tượng đa nghĩa trong tiếng Việt0T 90
0T3.1.2.1.Hiện tượng đa nghĩa biểu vật0T 91
0T3.1.2.2. Hiện tượng đa nghĩa biểu niệm và việc phân loại đa nghĩa biểu niệm0T 91
0T3.1.2.3. Hiện tượng đa nghĩa thường gặp0T 94
0T3.1.2.4. Hiện tượng đa nghĩa ít gặp0T 94
0T3.1.2.5. Hiện tượng từ đa nghĩa0T 96
0T3.1.2.6. Hiện tượng ngữ đa nghĩa0T 96
0T3.2. ĐỐI CHIẾU MỘT SỐ HTĐN TRONG TIẾNG VIỆT VỚI THHĐ0T 97
0T3.2.1. Các đơn vị đa nghĩa trong THHĐ0T 97
0T3.2.2. Phân loại các đơn vị đa nghĩa trong THHĐ0T 102
0T3.2.2.1. Phân loại các ĐVĐN trong THHĐ từ tiêu chí SLÂT tham gia cấu tạo0T 103
0T4.3.4.1. Mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các đơn vị trong loạt đồng âm0T 131
0T4.3.4.2. Mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các nghĩa trong một đơn vị ĐÂ&ĐN0T 131
0T4.4. ĐẶC ĐIỂM CỦA NHỮNG ĐV ĐÂ&ĐN TRONG KHU VỰC ĐÂCG0T 133
0T4.4.1. Về số lượng0T 133
0T4.4.2. Về cấu tạo0T 133
0T4.4.3. Về dung lượng nghĩa0T 136
0T4.5. BƯỚC ĐẦU ĐỐI CHIẾU TỪ ĐÂ&ĐN KHÁC GỐC NGHĨA TRONG TIẾNG VIỆT VỚI THHĐ0T
138
0T4.5.1. Về số lượng và nguồn gốc0T 138
0T4.5.2. Về dung lượng nghĩa0T 138
0T4.5.3. Về chữ viết và cấu tạo0T 138
0T4.5.4. Về quan hệ ngữ nghĩa0T 139
0T4.6. BƯỚC ĐẦU ĐỐI CHIẾU TỪ ĐÂ&ĐN CÙNG GỐC NGHĨA TRONG TIẾNG VIỆT VỚI THHĐ0T
140
0T4.6.1.Những điểm tương đồng0T 140
0T4.6.2. Những điểm khác biệt0T 142
0T4.7. TIỂU KẾT0T 143
0TKẾT LUẬN0T 144
0TTÀI LIỆU THAM KHẢO 150 0T
DẪN NHẬP
1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đồng âm (ĐÂ), đa nghĩa (ĐN) là hiện tượng (HT) có tính phổ quát trong ngôn ngữ, nó bao gồm:
ĐÂ và ĐN trong từ, ĐÂ và ĐN trong ngữ, ĐÂ và ĐN trong câu. Trong đó, ĐÂ và ĐN trong từ là HT
phổ biến nhất. Với tư cách là trung tâm của HTĐÂ và HTĐN, từ ĐÂ và từ ĐN đã được bàn đến từ
khá sớm. Tuy vậy, cho tới nay, HT này vẫn còn nhiều bất đồng trong giới nghiên cứu. Những công
trình khảo sát về từ ĐÂ và từ ĐN cho thấy HT này đã được tiếp cận từ nhiều hướng và mỗi hướng
tiếp cận đều cho ta những phát hiện khác nhau. Ngay trong một hướng tiếp cận thì những đặc điểm,
những khía cạnh liên quan đến từ ĐÂ và từ ĐN cũng được nhìn nhận không hoàn toàn giống nhau
giữa các tác giả.
Năm 1925, ở Sài Gòn, Nguyễn Văn Mai [91] là người đầu tiên đề cập tới HTĐÂ của TV với
việc xuất bản ĐÂ tự vị. Công trình này thu thập “những chữ khó viết hoặc những chữ ĐÂ cùng
những chữ không nhằm ĐÂ mà phải viết dấu hỏi hay dấu ngã, hoặc viết d hay g ở trước, c hay là t,
có g hay là không có g ở sau”. Khảo sát công trình này chúng tôi thấy: cấu tạo của ĐÂ tự vị gồm hai
phần (1) phần thu thập những “chữ” ĐÂ với SL lên tới 1779 ĐV, (2) Phần phụ thêm thu thập những
ĐV mà theo tác giả là sẽ có vấn đề về chính tả, những ĐV gốc Ấn Âu không được thu thập và giải
thích trong công trình này. Mặc dù tác giả không hiển ngôn thế nào là ĐÂ song qua cách giải thích,
sắp xếp của tác giả, ta vẫn có thể thấy được. Đó là những ĐV có âm đọc giống nhau, có nghĩa khác
nhau và là những ĐV đơn tiết. Do hạn chế về thời đại nên ĐÂ tự vị của Nguyễn Văn Mai mới chỉ
thống kê được một SL rất nhỏ các ĐVĐÂ của TV, chưa xử lí thỏa đáng các vấn đề của HTĐÂ
trong TV, ngữ liệu mới chỉ dừng lại trong ngôn ngữ sinh hoạt và trong văn ngôn tiếng Hán song
bước đầu cũng đã gợi mở ra một số vấn đề lí luận liên quan đến HTĐÂ của TV như: HTĐÂ giữa từ
thuần Việt với từ gốc Hán, giữa từ
địa phương với từ toàn dân, vấn đề các ĐVĐÂ đơn tiết.… Đó là
những đóng góp không thể phủ nhận.
Năm 1931, có thêm sự góp mặt của Việt Nam tự điển [63]. So với Đại Nam quấc âm tự vị của
Huỳnh Tịnh Của, Việt Nam tự điển đã chú trọng tới việc phân biệt các ĐVĐÂ và các ĐVĐN, các
ĐVĐÂ đều được phân tách và giải thích khá rõ ràng. Nếu là ĐÂ Hán Việt thì còn dẫn cả chữ Hán
để phân biệt. Nghĩa của các ĐVĐN được phân biệt bằng kí số Ả Rập 1, 2, 3…, sau mỗi nghĩa đều
có ví dụ minh họa. Các ĐV ĐÂCG được xếp liền nhau và phân biệt với nhau bằng kí số La Mã. Sau
cùng là việc liệt kê những kết hợp có chứa mục từ đó. Chẳng hạn, loạt ĐÂ có âm đọc là A được giải
thích và sắp xếp như sau:
A. I. Đồ làm ruộng để cắt rạ ở ruộng chiêm, Nam-Kỳ gọi là cái trang, cái gạc: Rèn một lưỡi a
bằng ba lưỡi hái. Cắt rạ thì dùng bằng a, quét nhà thì dùng bằng chổi.
II. Cắt rạ bằng cái a: Ruộng đã gặt rồi cầm cái a đi a rạ. (…)
Việt Nam tự điển đã phân biệt rõ từ ĐÂ và hình vị ĐÂ. Tuy vậy, công trình này vẫn còn bỏ sót
những HTĐÂ khác mà thời ấy chắc chắn đã có như HTĐÂ giữa những ĐV thuần Việt với những
ĐV có nguồn gốc Ấn Âu…
Năm 1932, đáng chú ý là công trình Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh [01]. Đây là một bộ TĐ có
ảnh hưởng lớn ở Việt Nam. Khảo sát vấn đề thu thập, giải thích, phân loại các ĐVĐÂ và ĐN của Hán
riêng, chứ không phải là một tiếng minh mà có sáu nghĩa ” (Việt Nam văn phạm; tr.19).
Trong Lời tựa, họ đưa ra nhận xét: “Chữ quốc – ngữ rất tiện – lợi là nhờ có năm cái dấu giọng
có thể phiên – dịch đúng hết thảy các âm. Chỉ hiềm vì các âm tuy đúng, song khi gặp những tiếng
đồng – âm thì viết giống nhau cả, thành ra người nào không biết chữ nho, không làm thế nào phân -
biệt những nghĩa khác nhau trong những tiếng ấy ” (Việt Nam văn phạm; tr. III).
Có thể nói rằng, ngay từ rất sớm, HTĐÂ, ĐN trong TV đã được quan tâm lưu ý. Ở giai đoạn
này, do những hạn chế về thời đại nên chưa có những công trình có tính lí luận, những công trình
tập thể còn ít, chủ yếu là những công trình dựa trên sự nỗ lực, cố gắng và kinh nghiệm của một số
học giả nên thành tựu nghiên cứu chưa nhiều, còn bỏ sót nhiều vấn đề liên quan đến HTĐÂ, ĐN
trong TV song bước đầu đã hé mở những vấn đề lí luận như: (1) tầm quan trọng và cái khó của việc
phân biệt những ĐVĐÂ thuần Việt và những ĐVĐÂ gốc Hán khi không có chữ Hán chú kèm, (2)
HTĐÂ giữa từ toàn dân với từ địa phương, (3) việc chuẩn hóa chính tả, chữ viết, (4) sự xung đột
giữa các loại văn tự đã và đang được sử dụng (chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ) trong việc nhận
diện các ĐVĐÂ, ĐN của TV, (5) nhược điểm của chữ Quốc ngữ trong phản ánh các cách phát âm
vùng miền, (6) phân biệt những ĐVĐÂ với những ĐVĐN
Từ sau 1945 đến 1975, HTĐÂ, ĐN tiếp tục nhận được sự quan tâm của các nhà Việt ngữ học.
Khảo sát những công trình này chúng tôi nhận thấy, trong khi các học giả phía Nam vẫn tuân theo
tôn chỉ chuẩn hóa chính tả, chữ viết và góp phần truyền bá chữ Quốc ngữ là chính thì các học giả
phía Bắc lại có xu thế nghiêng nhiều về lí luận. Những quan điểm có tính lí luận ở giai đoạn này
phần lớn là về vấn đề từ điển học. Đáng chú ý là các công trình và quan điểm sau:
Năm 1947, ở Sài Gòn có Đồng âm vận tuyển của Trần Văn Khải [68]. Tiến bộ hơn Nguyễn
Văn Mai, Trần Văn Khải đã phát hiện và chỉ ra những nhược điểm, những bất cập của chữ Quốc
ngữ trong việc ghi âm, thể hiện giọng nói của ba miền. Tác giả đã rất chú trọng đến thao tác so sánh
đối chiếu và chọn mẫu trong việc thu thập ngữ liệu: “trong quyển từ điển nầy, chúng tôi đối chiếu
các tự điển ở ba kỳ và chọn lấy cách viết của phần đông, hầu ngày sau điển - chế và thống - nhứt
văn – tự Việt – Nam” (Phàm lệ). Trần Văn Khải cũng đã có những cải tiến, sáng tạo hơn về phương
pháp biên soạn, điều này thể hiện ở phương pháp sắp xếp các ĐVĐÂ của tác giả: thứ nhất, sau mỗi
một đầu mục từ hay sau mỗi một hình vị được giải thích đều có đánh số Ả-Rập chỉ rõ những từ hay
hình vị ĐÂ trong đầu mục ấy. Thứ hai, nghĩa của những hình vị ĐÂ được cho vào ngoặc đơn để
phân biệt với hình vị được giải thích. Sau cùng, là việc liệt kê những kết hợp từ có chứa hình vị
Trong phần thứ nhất của bài viết, ông nhấn mạnh tầm quan trọng và những khó khăn của việc
biên soạn từ điển một thứ tiếng, đặc biệt là những khó khăn trong việc giải thích nghĩa của từ TV và
khẳng định: “điều quan trọng nhất là tính hệ thống trong cách làm việc”.
Ở phần thứ hai, ông chỉ ra những nhược điểm thường thấy trong những quyển từ điển của ta
trước đó. Trong đó, nhược điểm lớn nhất theo ông là “rời rạc, thiếu tính hệ thống”. Nhược điểm này
thể hiện ở ba điểm sau: (1) Bộc lộ ở cách sắp xếp theo thứ tự chữ cái mà hệ quả của nó là “không
thể giúp cho người đọc thấy được những mối quan hệ giữa các ĐV từ vựng [ ] cho rằng từ
vựng chỉ là một tập hợp hỗn độn những ĐVcô lập với nhau”.(2) Bộc lộ ở cách giải thích các
nghĩa khác nhau cho cùng một ĐV từ vựng mà hệ quả của nó là “người đọc từ cách giải thích đó
thường không thấy được mối quan hệ giữa các nghĩa ấy như thế nào”. (3) Bộc lộ ở cách tách từ ĐÂ
và tách nghĩa của từ với những biểu hiện sau: ở những từ có cấu trúc ngữ nghĩa giống nhau thì trong
trường hợp A được tách thành 04 hay 05 nghĩa nhưng ở trường hợp B lại gộp thành 01 hay 02 nghĩa.
Có khi, với hai nghĩa khác nhau của cùng một từ, tác giả tách làm hai từ nhưng ở một từ khác tương
tự lại được nhập làm một như trường hợp các từ băng, đèn, bay.
Trong phần thứ ba, ông trình bày quan điểm của mình về cơ sở phân tách nghĩa của từ, các
nguyên tắc cần chú ý khi giải thích nghĩa của từ trong từ điển. Tác giả đưa ra 02 nguyên tắc và 03
tiêu chuẩn khi giảng nghĩa của các từ như sau:
Nguyên tắc thứ nhất, “khi xử lí một ĐV từ vựng nào đó về mặt nghĩa cần chú ý đến các HT
giống nhau xảy ra trong toàn nhóm, tránh tình trạng cô lập đối tượng. […] Vì việc tách một ĐV
thành những từ riêng rẽ có liên quan tới lí luận về ranh giới giữa HT nhiều nghĩa và HTĐ”. Đỗ
Hữu Châu đề ra tiêu chuẩn tách từ ĐÂ như sau: “nếu HT chuyển nghĩa xảy ra một cách cá biệt
mà ngày nay không thể giải thích mối quan hệ giữa nghĩa ấy với các nghĩa khác của từ thì có
thể tách nghĩa ấy thành một từ ĐÂ hay một quán ngữ Không thể tách các từ ĐÂ nếu HT
chuyển nghĩa đó xảy ra giống nhau trong cả một loạt từ. Còn đối với các HT cá biệt thì việc có
tách thành từ ĐÂ hay không là tùy vào cách xử lí của người biên soạn và việc ấy không có ảnh
hưởng gì tới toàn hệ thống”.
Nguyên tắc thứ hai, “khi xử lí một từ cần nêu được thuộc tính thường trực tổ chức và chi phối
các nghĩa khác nhau của từ đó”. Theo Đỗ Hữu Châu, “đối với các từ một nghĩa thì việc so sánh nó
với các từ khác cùng nhóm (trái nghĩa, đồng nghĩa) là điều quan trọng. Còn đối với từ nhiều nghĩa
thì ngoài việc cần so sánh với các từ cùng nhóm còn cần so sánh các nghĩa khác nhau của nó với
trình này Hồ Lê còn có một số công trình khác hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp bàn về HT từ ĐÂ, ĐN
trong TV như: [80, tr.59-152] (khi trình bày về đặc điểm ngữ nghĩa – cú pháp của các từ loại dt, đg,
tt, phụ từ; khi trình bày những tiểu loại chính trong từng loại từ, đặc biệt là khi bàn về sự phân loại
đg). Về HTĐN nói chung và về từ ĐN nói riêng, ông cũng có những đóng góp và kiến giải sâu sắc
về lí luận [82].
Năm 1978, Đinh Văn Đức [40, tr.31-39] đã gián tiếp bày tỏ quan điểm của mình về từ ĐÂ (ĐÂ
do chuyển loại) và việc phân loại từ ĐÂ. Theo ông, những ĐVĐÂ do chuyển loại có SL không lớn, là
những ĐV có chung biểu vật nhưng thuộc về những từ loại khác nhau, không có sự phân biệt về hình
thái học nhưng có những đặc trưng cú pháp khác nhau, có những quan hệ mới trong những trường
hợp khác nhau (khi làm chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ), bởi vậy tác giả cho rằng nên tách ra hai từ riêng biệt
và nên xếp chúng vào hai từ ĐÂ ngữ pháp và chỉ có thể phân biệt với nhau bởi các ý nghĩa ngữ pháp.
Và như vậy, chúng trở thành một tiểu loại ĐÂ (ĐÂ ngữ pháp) bên cạnh loại ĐÂ truyền thống là ĐÂ
ngẫu nhiên.
Năm 1978, Nhữ Thành [124, tr.40-48] tìm hiểu từ ĐÂ dưới góc độ tu từ học. Qua việc khảo
sát bốn kiểu hoạt động của âm tiết TV (hoạt động độc lập thành một từ, hoạt động hạn chế với tư
cách là một yếu tố CTT, hoạt động láy âm, hoạt động kết hợp đơn nhất), tác giả đưa ra 05 nhóm
đối lập có thể tạo nên ĐÂ trong cách chơi chữ cổ và 03 cách đối lập khác do vai trò của từ phiên
âm trong TV hiện đại có thể tạo nên HTĐÂ. Từ việc đưa ra những nhóm đối lập trên, tác giả đã
loại trừ hai HT: (1) Âm tiết phiên âm ĐÂ với âm tiết phiên âm và (2) âm tiết láy âm ĐÂ với âm
tiết láy âm. Tiếp đó, tác giả đi vào khảo sát năm nhóm đối lập đầu tiên và kết luận “hình thức âm
tiết tự do ĐÂ với âm tiết tự do xuất hiện nhiều nhất”.
Năm 1978, còn có quan điểm của Nguyễn văn Tu [138]. Quan điểm của ông tập chung chủ yếu ở
chương VI (Nghĩa từ vựng và kết cấu nghĩa của từ, tr.93-179) và ở chương XV (Từ điển Việt Nam, tr.321-
337). Trong chương VI, ông bàn về: nguồn gốc, cách phân loại, cách phân giới hạn từ ĐÂ. Ông chia từ ĐÂ
thành hai kiểu: (1) Từ ĐÂ từ vựng và (2) từ ĐÂ từ vựng – ngữ pháp. Theo tác giả, từ ĐÂ có ba nguồn gốc
sau: (1) Từ ĐÂ ngẫu nhiên, (2) từ ĐÂ tạo ra do sự diễn biến về ngữ âm, (3) những từ ĐÂ do sự tách rời các
ý nghĩa của một từ ĐN. Tác giả đề ra 03 cách phân biệt từ ĐÂ và từ nhiều nghĩa: (1) tìm những dấu hiệu
khách quan, (2) áp dụng “tiêu chuẩn nội dung”, (3) chú ý cả đến mặt lôgích, mặt tâm lí của nghĩa và mặt
ngôn ngữ mà trong đó nghĩa tồn tại. Theo ông, trong ba cách trên, cách thứ ba là cách có hiệu năng hơn
trong việc phân biệt từ nhiều nghĩa và từ ĐÂ trong TV.
01vào ĐÂ hình vị. Theo ông, khi phân biệt các hình vị ĐÂ cũng nhất thiết phải dựa vào tiêu chuẩn ý
nghĩa (ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa ngữ pháp, ý nghĩa tạo từ, ý nghĩa cấu trúc). Theo ông, “Trong TV,
các hình vị ĐÂ là các âm tiết, chúng có SL lớn…, TV có nhiều ĐÂ khác bậc (từ - hình vị; từ thuần
– hình vị Hán Việt)” (tr.140).
Bàn về các dạng thể hiện ĐÂ từ, ông cho rằng “loại ĐV thể hiện ĐÂ điển hình hơn cả là từ, vì
rằng từ là ĐV phức tạp về cấu trúc và ý nghĩa. Từ cũng là ĐV đảm nhiệm nhiều chức năng khác
nhau và có nhiều hình thức thể hiện trong ngôn ngữ và trong lời nói. Xét về mặt ý nghĩa, từ cũng là
ĐV phức tạp, điển hình về nghĩa”. Theo Lê Quang Thiêm “đối với ĐÂ từ vựng, cần phải xem xét:
các dạng biểu hiện ĐÂ của từ (có ý nghĩa từ vựng khác nhau) và ĐÂ hình thái của từ (có ý nghĩa
ngữ pháp khác nhau)”. Đáng chú ý là những nhận xét của tác giả về 02 khái niệm “hình thức từ” và
“âm thanh từ”. Theo ông, “hình thức từ đối với nhiều ngôn ngữ hiện đại biểu hiện ở mặt âm thanh
và cả chữ viết. Khi nói về sự giống nhau hay đồng nhất về hình thức thì trước hết và quan trọng nhất
là âm thanh. Song mặt khác không kém phần quan trọng, mặc dầu không hoàn toàn chính xác là
giống nhau về chữ viết. Chữ viết là biểu hiện kèm theo, vì hệ thống chữ viết dù là “ghi âm vị” như
TV cũng còn nhiều bất hợp lí cho nên không thể dựa vào chữ viết làm chính mà chỉ xem là biểu
hiện kèm theo. ĐÂ là giống nhau về âm thanh. Đó là điều kiện tiên quyết, bắt buộc…” (tr.142).
Theo tác giả, ĐÂ hình thái là: “khi 02 hình thái từ (nói và viết) như nhau, có ý nghĩa ngữ pháp khác
nhau thì đó là ĐÂ hình thái”. Theo ông, TV và các ngôn ngữ đơn lập không có ĐÂ hình thái.
Theo Lê Quang Thiêm, khi nói về ĐÂ cần chú ý tới các dạng ĐÂ và các thuật ngữ sau: (1) ĐT
dạng: là dạng viết giống nhau của các từ khác nhau (xét về ý nghĩa từ vựng), (2) ĐÂ dạng: là dạng
nói giống nhau của những từ khác nhau (xét về ý nghĩa từ vựng), là ĐÂ theo nghĩa rộng, (3) từ ĐÂ:
là những từ khác nhau mà viết và nói như nhau, hay là từ ĐÂ hoàn toàn, ĐÂ theo nghĩa hẹp, (4) ĐÂ
hình thái: là ĐÂ ngữ pháp, đó là những hình thái của cùng một từ, giống nhau về mặt âm thanh và
chữ viết, có ý nghĩa ngữ pháp khác nhau.
Khi bàn về đặc điểm của sự thể hiện ĐÂ ở các ngôn ngữ (tr 144) Lê Quang Thiêm cho rằng:
“ (1) TV là ngôn ngữ không biến đổi hình thái từ để biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp nên tiêu chuẩn quan
trọng để xác định từ ĐÂ hoàn toàn là khả năng kết hợp của từ, (2) ĐÂ bộ phận (thường là các từ ĐÂ
khác từ loại, khả năng kết hợp ngữ pháp khác nhau) như: về
R
1
ngôn ngữ như là sản phẩm sáng tạo, như là thành tựu được tập thể ngôn ngữ ấy xây dựng nên. Nó
cũng cho phép thấy rõ cái chung và cái riêng của từ ĐN trong tất cả các lớp từ, các từ loại cơ bản
của ngôn ngữ.” (tr.178).
Trong công trình này, Lê Quang Thiêm sau khi phân tích các dt, đg, tt trong 37.088 từ TV đã đưa ra
số liệu: trong TV, từ đơn nghĩa chiếm 61,48 %; từ ĐN chiếm 38,52 %. Và chỉ ra sự phân bố về tỷ lệ ĐN
qua các từ loại chính như sau:
DANH TỪ
ĐỘNG TỪ
TÍNH TỪ
ĐN
Đơn nghĩa
ĐN
Đơn nghĩa
ĐN
Đơn nghĩa
30,16 %
69,84 %
31,48 %
69,52 %
27,70 %
72,30 %
Nguồn: Lê Quang Thiêm, Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ; tr.178, 179.
Bàn về đặc điểm tổ chức nội dung của từ ĐN, ông chỉ ra tình hình phân bố DLN của các ĐVĐN
trong TV (tính theo tỷ lệ %) như sau:
02
03
04
05
06
Với quan điểm đồng đại, Lê Quang Thiêm cho rằng: nghĩa cơ bản là nghĩa có chứa các nét
nghĩa được đặt điều kiện chủ yếu bằng các quan hệ hệ hình. Nghĩa không cơ bản là nghĩa mà các
nét nghĩa tạo nên chúng phụ thuộc nhiều vào các quan hệ cú đoạn. Trong một từ ĐN, có một nghĩa
cơ bản và một số nghĩa không cơ bản. Sự phân biệt nghĩa cơ bản, không cơ bản của một từ có thể
dựa vào các mức độ khác nhau của sự phụ thuộc nhiều hơn vào các quan hệ hệ hình và ít hơn vào
các quan hệ cú đoạn. Theo Lê Quang Thiêm, mối quan hệ về nghĩa về mặt đồng đại được tổ chức
theo 03 loại hình là: loại kế tiếp, loại song song, xen kẽ kế tiếp với song song. Trong đó: (1) mối
quan hệ kế tiếp là quan hệ đặc trưng cho từ chỉ có 02 nghĩa và những từ nhiều hơn hai nghĩa mà các
nghĩa liên kết nhau theo tổ chức đơn tuyến, (2) mối quan hệ song song chỉ xuất hiện ở những từ trên
hai nghĩa mà các nét nghĩa liên kết theo tổ chức đa tuyến (tổ chức hình cây, tẽ nhánh), (3) mối quan
hệ xen kẽ giữa kế tiếp và song song xẩy ra với những từ trên 03 nghĩa và theo một tổ chức phức hợp.
Bàn về giới hạn của việc phân li ĐN thành ĐÂ và tiêu chuẩn xác định những ĐVĐÂ ngữ
nghĩa ông cho rằng: “sự tồn tại hay vắng mặt nét nghĩa chung trong các nghĩa của từ ĐN là tiêu
chuẩn xác định ĐN và ĐÂ ngữ nghĩa”.
Trong công trình này, tác giả còn nhấn mạnh đến việc cần thiết phải phân biệt các loại quan hệ
tôn ty giữa các loại nghĩa trong từ ĐN khi biên soạn TĐ đồng đại và TĐ lịch đại. Theo ông, cần
phân biệt hai loại quan hệ tôn ty sau: (1) tôn ty theo tuần tự phái sinh, phát triển (tôn ty lịch đại) để
phân biệt nghĩa gốc, nghĩa phái sinh và các nghĩa phái sinh thứ cấp, (2) tôn ty hiện hành (tôn ty
đồng đại) để phân biệt nghĩa cơ bản, nghĩa không cơ bản định danh, nghĩa không cơ bản hình
tượng (nghĩa bóng). Theo ông thì: “đối với những từ có từ 2 nghĩa trở lên thì việc phân biệt theo tôn
ty nhiều khi không thực hiện được vì rất khó xác định niên đại và mô tả 2 ý nghĩa cùng loại. Đặc
biệt là đối với kiểu sơ đồ cấu trúc nghĩa có quan hệ hình nhánh”. Đây là một nhận xét rất chính xác.
Năm 1992, đáng chú ý là quan điểm của Nguyễn Đức Dân, Trần Thị Ngọc Lang [31]. Hai tác
giả này khi phân tích các câu mơ hồ trên chữ viết, các kiểu câu mơ hồ về từ vựng đã gián tiếp bình
luận tới nguyên nhân và tác dụng của từ ĐÂ và từ ĐN (tr. 88, 91- 93) đồng thời chỉ ra các kiểu ĐÂ
trong các từ loại, nhất là trong các từ loại có SL lớn như dt, đg, tt (tr.113-116). Họ không những
khảo sát và chỉ ra HT mơ hồ do việc sử dụng những từ đơn tiết ĐÂ mà còn khảo sát sự mơ hồ do sử
dụng những ngữ ĐÂ, chuỗi ĐÂ (tr.113-120) và từ ĐÂ Hán Việt gây ra như: đồng tử
R
1
Theo ông, HTĐN trong TV có những đặc điểm riêng sau đây: (1) để biểu thị những SV, HT hoặc
khái niệm mới, TV có thiên hướng cấu tạo các ĐV từ vựng mới hơn là phát triển nghĩa của các ĐV từ
vựng đã có từ trước, (2) số ĐV có nhiều nghĩa cũng như số nghĩa trong những từ ĐN của TV đều thấp
hơn so với nhiều ngôn ngữ khác, trong khi đó, SL các ĐV từ vựng mới tăng lên rất nhanh, đặc biệt là
những ĐV hai âm tiết, (3) HTĐN của TV chủ yếu xảy ra ở các từ, ở các ngữ thì tỷ lệ ĐN chỉ khoảng
1/10 và cũng chỉ có hai hoặc ba nghĩa mà thôi. Các ngữ ĐN phần lớn là có nguồn gốc Hán.
Theo Nguyễn Thiện Giáp, HT từ ĐN của TV chỉ bao gồm 2 kiểu sau đây: (1) HTĐN của các
từ kiểu một (nhà, đẹp, đi) và (2) HTĐN của các từ kiểu ba (quốc, thủy, hỏa). Tiến hành thống kê,
phân tích những từ ĐN kiểu một trong TĐTV do Văn Tân chủ biên, ông nhận xét: (1) số từ ĐN
chiếm khoảng 33% tổng số (33% tổng số từ kiểu một, là những từ thuần Việt và đều là đơn tiết),
trong đó những từ có 2 và 3 nghĩa chiếm khoảng 86% tổng số từ ĐN, từ nhiều nghĩa nhất là 19
nghĩa, (2) về tỉ lệ ĐN ở các từ loại, đg có tỉ lệ cao nhất (32%), kế đó là dt (23%), cuối cùng là
tt (20%).
Phân tích các nghĩa của mỗi từ ĐN, tác giả đi đến 2 nhận xét sau: (1) Các nghĩa của mỗi từ ĐN
có thể thuộc hai loại là: nghĩa tự do (là nghĩa liên hệ trực tiếp với sự phản ánh các HT của TTKQ),
sự hoạt động của các nghĩa này không bị hạn chế vào các ngữ cố định, có mối quan hệ đa dạng.
Nghĩa hạn chế (là nghĩa chỉ được thể hiện trong những kết hợp hạn chế, do quy luật nội tại của hệ
thống từ vựng quy định, không do nội dung lô gích của các từ quy định). Theo tác giả, đối với TV
thì nghĩa hạn chế là HT phổ biến hơn trong các ngôn ngữ khác vì TV đã và đang phát triển mạnh
khả năng cấu tạo các ngữ bởi chính các nghĩa hạn chế góp phần tạo ra tính cố định của các cụm từ.
(2) Trong các nghĩa của một từ ĐN, có một nghĩa là cơ bản còn các nghĩa khác là phái sinh. Theo
ông, nghĩa cơ bản thường phải là nghĩa tự do. Trong trường hợp từ có một vài nghĩa tự do thì sẽ có
một nghĩa tự do là cơ bản, các nghĩa khác là nghĩa tự do phái sinh.
Trong phần III của Từ vựng học TV (tr.147-189), HTĐÂ cũng là một trong sáu trọng tâm được
Nguyễn Thiện Giáp đề cập tới. Trong phần Nhận xét chung, trước tiên, ông coi HTĐÂ là một phổ
niệm trong ngôn ngữ. Kế đó, tác giả đi vào phân tích, so sánh HTĐÂ trong các loại hình ngôn ngữ
đơn lập và biến hình với ngữ liệu từ tiếng Anh, tiếng Nga, TV, tiếng Hán. Đáng chú ý là 5 nhận xét
sau:
(1) HTĐÂ thường xảy ra trong phạm vi những từ ngắn, có cấu trúc đơn giản do có tính võ
đoán cao.
R (theo tác giả là hai từ ghép); ý thứcR
1
R và ý thứcR
2;
R hy vọngR
1
R và hy vọngR
2…
Rcũng
không phải là do ĐÂ của những từ đơn tiết tạo ra mà được hình thành từ HTCL.
Căn cứ vào năm kiểu từ khác nhau về nghĩa đã được phân chia, tác giả chia từ ĐÂ thành 14
kiểu quan hệ. Theo Nguyễn Thiện Giáp, bức tranh về HTĐÂ của TV rất đa dạng, trong một loạt ĐÂ
của TV có thể có trên dưới 10 từ thuộc các kiểu khác nhau (tr.173). Nguyễn Thiện Giáp còn bình
luận về tác dụng của từ ĐÂ. Theo ông, trong 14 kiểu quan hệ trên, chỉ có hai kiểu quan hệ có thể
gây ra sự hiểu lầm đó là: kiểu từ thuần việt - từ Hán Việt (kiểu 1.3) và kiểu từ Hán Việt - từ Hán
Việt (kiểu 3.3). Theo ông, sở dĩ các từ kiểu 1.3 và 3.3 dễ gây hiểu lầm bởi chúng không hoạt động
tự do nhưng cũng không chỉ nằm trong những kết hợp đơn nhất, nghĩa của chúng ít nhiều có sự
cộng hưởng với nghĩa của các từ cùng kết hợp với chúng, vì vậy người ta khó nhận ra nghĩa riêng
của từng từ. Ví dụ: nghĩa của các từ đại trong các kết hợp đại ác; đại biểu, thời đại…
Theo Nguyễn Thiện Giáp, có bốn con đường hình thành nên các ĐVĐÂ của TV, đó là: (1) do
sự tiếp nhận các từ nước ngoài, trong đó, các từ gốc Hán tạo nên SL lớn các loạt ĐÂ trong TV, (2)
do sự biến đổi ngữ âm, (3) do sự phân hóa ý nghĩa của từ ĐN, (4) do sự hình thành các ĐV từ vựng
mới trên chất liệu cũ.
Bàn về vấn đề phân biệt ĐVĐN và ĐVĐÂ trong TV, tác giả cho rằng: “TV là ngôn ngữ không
biến hình cho nên không thể áp dụng tiêu chuẩn hình thái của từ vì hoàn toàn không có tác dụng”.
Ông chủ trương vận dụng tiêu chuẩn ngữ nghĩa, theo ông “khi một ý nghĩa của một ĐV nhiều nghĩa
bị phân hóa xa đến mức cái nghĩa tố chung vốn có của ý nghĩa này với các ý nghĩa khác của từ trở
nên không quan yếu đối với nó nữa, đặc trưng cho ý nghĩa này là một nghĩa tố khác, chính nghĩa tố
đó đưa từ nhập vào một trường HT mới, khi đó có thể coi như đã xuất hiện một từ mới”.
Năm 1998, có quan điểm của tập thể tác giả Hoàng Văn Hành, Hà Quang Năng, Nguyễn Văn
R
(thuần Việt) có nghĩa là “tha đi” như trong chim công mồi và công
R
2
R (Hán Việt) có ý nghĩa
là “chung cho mọi người” như trong của công, ruộng công
Năm 1999, Lê Biên [05, tr.177-183] dưới góc độ cú pháp học, gián tiếp trình bày quan điểm
của mình về từ ĐÂ và ĐN khi trình bày HTCL trong TV. Theo tác giả, HTCL có liên quan đến
HTĐÂ, ĐN của từ: chuyển loại không phải là HTĐÂ từ vựng mà là ĐÂ – ngữ pháp (ĐÂCG). Theo
tác giả, “đây là những từ giống nhau về hình thức ngữ âm (ĐÂ), cùng gốc (xét về nghĩa) mà hiện
nay được sử dụng thành hai từ khác nhau về bản chất từ loại” (tr.179).
Năm 1999, Bùi Minh Toán [133, tr.61-68; tr.79,101] trình bày quan điểm của mình về từ ĐÂ và
ĐN trong TV. Tác giả cho rằng: “từ là ĐV nhỏ nhất mà có nghĩa và có thể dùng độc lập để tạo câu,
đồng thời là ĐV nhỏ nhất mà thực hiện được một số chức năng đối với tư duy và giao tiếp” (tr 39).
Theo ông, nghĩa của từ bao gồm: (1) thành phần NBV, (2) thành phần NBN, (3) thành phần nghĩa tình
thái.
Ông cho rằng: “Từ ĐÂ là những từ có hình thức âm thanh hoàn toàn giống nhau nhưng lại
khác hẳn nhau về ý nghĩa và có thể khác nhau cả về các phương diện khác như bản chất ngữ pháp,
chức năng trong giao tiếp, sắc thái phong cách ” (tr. 61). Theo ông, từ ĐÂ là HT có trong nhiều
ngôn ngữ. Nhưng có những ngôn ngữ, từ ĐÂ chỉ tồn tại trong dạng ngôn ngữ nói, còn khi hoạt động
giao tiếp tiến hành bằng ngôn ngữ viết thì chữ viết hiện thực hóa sự khác nhau giữa những từ ĐÂ
khác nghĩa. Lúc đó, các từ ĐÂ chỉ giống nhau khi nói hoặc khi đọc, còn khi viết, chúng được hiện
thực hóa theo các dạng chữ viết khác nhau. Điều này thể hiện rõ trong các loại chữ viết như chữ
Hán. Ông nêu ví dụ : trung
R
1
R中 có nghĩa là: ở giữa và: trungR
2
R忠có nghĩa là: sự trung thành, một
lòng một dạ.
lí của họ vẫn còn tồn tại những nhược điểm như: bỏ sót khá nhiều ĐV ĐÂST của TV… song đóng góp của
họ là quan trọng và rất đáng ghi nhận.
Năm 2007, đáng chú ý là quan điểm của Nguyễn Văn Khang [69, tr.144-198]. Những nội dung
liên quan tới HT từ ĐÂ, ĐN trong TV chủ yếu được tác giả khai thác từ góc độ từ ngoại lai.
Theo tác giả, khi các từ Hán Việt hoạt động trong TV đã tạo ra xung đột ĐÂ: Thứ nhất là HTĐÂ xảy
ra giữa các từ Hán Việt với từ Việt như: 埃 (ai) bụi ĐÂ với ai (đại từ);布(bố) vải ĐÂ với bố (cha);车(xa)
xe ĐÂ với xa (nói về khoảng cách). Thứ hai, là HTĐÂ xảy ra giữa các từ Hán Việt với nhau như:平 (bình)
bằng ĐÂ với评 (bình) bình luận;人(nhân)
ng
ười ĐÂ với仁 (nhân) nhân đức (tr.144).
Theo tác giả, HTĐÂ có thể xảy ra giữa từ với từ, giữa hình vị với hình vị, giữa hình vị với từ
như: yếu要(quan trọng, là hình vị) ĐÂ với yếu (không khỏe, là từ) lưu留(giữ, ở lại; là từ) ĐÂ với
lưu流 (chảy, là hình vị). Mặt khác, ĐÂ không chỉ liên quan tới các từ đơn tiết mà còn liên quan tới
cả những từ Hán Việt đa tiết như: yếu điểm
R
1
R (điểm quan trọng) và yếu điểmR
2
R (điểm chưa đạt, chưa tốt).
Ông còn thảo luận về HT: người Việt khi sử dụng từ Hán Việt đã đem những từ Hán Việt có âm đọc
giống nhau, có nghĩa gần nhau, chữ viết gần giống nhau nhập lại thành một từ ĐN do phiên chuyển
những ĐV này sang hệ chữ la tinh như những trường hợp có âm đọc là chi, luyện, bản, dục, man,
phản trong một số cuốn từ điển của người Việt.
Về những từ ngoại lai gốc Pháp (tr.257-320), theo tác giả, cũng như những từ Hán Việt, từ
mượn Pháp khi nhập vào TV, do quá trình Việt hóa về mặt ngữ âm đã làm cho các từ mượn Pháp
một mặt ĐÂ với các từ Việt vốn có, mặt khác ĐÂ với các từ mượn Pháp khác (vốn trong tiếng Pháp
chúng không ĐÂ), thậm chí là ĐÂ với những từ mượn trong các ngôn ngữ khác như: can (canne và
calque) với can (can ngăn) và can (can đảm); băng (đạn) và băng (tuyết), băng (qua cánh đồng)
Theo tác giả, “cũng giống như HT du nhập của các từ mượn Hán, do sự gần nhau về nghĩa và
ĐÂ nhờ Việt hóa mà có HT nghĩa của các từ Pháp khác nhau được xếp thành một từ ĐN như cách
giai đoạn này. Chẳng hạn, Vương Cần – Võ Chiếm Khôn [159] một mặt cho rằng “trong từ vựng, từ
có âm nghĩa khác nhau, chỉ có hình thức chữ viết giống nhau, nhìn từ góc độ văn tự ta gọi nó là từ
đồng hình”, mặt khác, họ bổ sung thêm: “phạm vi của từ đồng hình đương nhiên không phải là tuyệt
đối, không phải là không mở rộng được… nhưng nếu khảo sát từ phương diện ngữ nghĩa thì nên đẩy
nó vào đối tượng nghiên cứu của từ đồng hình dị âm”.
Thôi Hạ Ái [150] lại cho rằng: “một tổ hợp từ mà có ý nghĩa hoàn toàn không giống nhau, âm
đọc không giống nhau, chỉ giống nhau về hình thể gọi là từ đồng hình. Hai tổ hợp từ mà có hình
thức chữ viết giống nhau còn thì khác nhau thì đó chính là đặc điểm của từ đồng hình”. Theo chúng
tôi, quan niệm trên của Thôi Hạ Ái là không chính xác bởi bản chất của từ đồng hình là chỉ xét ở
phương diện hình thức (văn tự), chỉ cần hình thức văn tự giống nhau thì đó là từ đồng hình, nhưng
nếu gặp hai tổ hợp từ có hình thức văn tự giống nhau, có nghĩa khác nhau (vốn là hai từ ĐÂĐH với
nhau) thì xử lí sẽ mâu thuẫn bởi chúng không thể vừa là từ đồng hình lại vừa là từ ĐÂĐH được.
Một số tác giả thời kỳ này còn đi vào bình luận về tác dụng của từ ĐÂ (tác dụng tích cực và
tiêu cực) đối với quá trình giao tiếp của con người cũng như chỉ ra những đặc trưng nổi bật của
tiếng Hán. Theo họ, một trong những nét đặc thù của tiếng Hán là “có nhiều từ đơn tiết ĐÂ, tiếng
Hán đang phát triển theo xu thế là đơn âm đến đa âm” [Cao Danh Khải, 169].
Năm 1975, đáng lưu ý là quan điểm của Lưu Thúc Tân và Lí Hành Kiện [186]. Công trình
gồm 08 chương với 26 tiết. Trong chương 02 có đề cập tới vấn đề từ và nghĩa của từ. Họ thừa nhận
những phương thức làm biến đổi ý nghĩa của từ là: mở rộng, rút gọn, chuyển di và đưa ra hai thuật
ngữ mới là 深化 (thâm hóa: làm sâu sắc thêm) và 分割 (phân cát: chia cắt) trong đó: 深化 (thâm
hóa) có hàm nghĩa là có thêm nhận thức mới về sự vật cũ, HT cũ còn 分割 (phân cát) có hàm nghĩa
là chỉ một từ ĐN biến đổi thành hai từ ĐÂ khác nhau vì những mối quan hệ vốn có về nghĩa đã bị
triệt tiêu hoàn toàn.
Giai đoạn (1977 – 1989) đáng chú ý là quan điểm của Trương Vĩnh Ngôn [182] và Phù Phó
Thanh [189]. Đây là những công trình khảo cứu chuyên sâu về từ vựng ngữ nghĩa học, có ứng dụng
lí luận của nước ngoài vào việc nghiên cứu từ vựng tiếng Hán.
Từ vựng học giản luận của Trương Vĩnh Ngôn gồm 06 chương, trong đó chương 05 là chương
có đề cập khá nhiều và khá sâu về vấn đề ĐÂ, ĐN trong tiếng Hán. Về vấn đề từ ĐÂ, Trương Vĩnh
Ngôn cho rằng: đã là ĐÂ thì phải thỏa mãn ba điều kiện: (1) giống nhau về âm thanh, (2) giống
nhau về hình thức chữ viết, (3) có ý nghĩa khác nhau. Ông đặt ra thuật ngữ 等音词(đẳng âm từ) và
về từ vựng học có tầm ảnh hưởng lớn ở Trung Quốc đương thời và cho đến tận bây giờ.
Bên cạnh ba công trình có ảnh hưởng lớn ở trên, trong giai đoạn này còn có một số chuyên đề,
bài viết nghiên cứu khá sâu về vấn đề từ ĐÂ và từ ĐN. Tiêu biểu là nhóm Vương Cần, Võ Chiếm
Khôn [159], Cát Bản Nghi [179], Tôn Tích Quân [184], Cao văn Đạt, Vương Lập Ứng [162], Tạ
Văn Khánh, Vương Chấn Côn [170], Từ Thanh [191]…. Những nghiên cứu về HTĐN trong những
công trình này tập trung chủ yếu vào hai vấn đề là: quan hệ giữa các ý nghĩa của từ ĐN và những
nguyên nhân sản sinh ra từ ĐN.
Về HT từ ĐÂ, các tác giả chủ yếu tập chung vào ba phương diện sau: những nhận định về tính
chất của từ ĐÂ, những nguyên nhân hình thành từ ĐÂ và việc phân loại từ ĐÂ, tác dụng của từ ĐÂ.
Nhận định về tính chất của từ ĐÂ, nhiều nhà nghiên cứu kiên trì quan điểm âm giống, nghĩa
khác. Chẳng hạn: năm 1982, Cao Văn Đạt và Vương Lập Ứng [162] cho rằng: “một tổ hợp từ trong
kho từ vựng có ý nghĩa hoàn toàn khác nhau mà có âm thanh tương đồng gọi là từ Đ”. Cát Bản
Nghi [179] cũng cho rằng: “…giữa các từ ĐÂ không có quan hệ gì về nghĩa”.… Một số nhà nghiên cứu
Hán ngữ khác còn đề xuất thêm tiêu chí giống nhau về trọng âm đối với những từ ĐÂ đa tiết bên cạnh
tiêu chí có thanh, vận, điệu tương đồng.
Về nguyên nhân hình thành từ ĐÂ cũng có rất nhiều ý kiến. Ngoài quan điểm của Phù Phó Thanh
[189], Võ Chiếm Khôn và Vương Cần [172] còn đưa ra 4 nguyên nhân hình thành từ ĐÂ là: (1) do ĐÂ
ngẫu nhiên, (2) do lịch sử ngữ âm biến đổi làm cho một số từ có âm đọc khác nhau trở thành có âm đọc
giống nhau, (3) do sự tiếp nhận vốn từ địa phương, từ có nguồn gốc nước ngoài cũng tạo nên một SL từ
ĐÂ, (4) do sự phân hóa của từ ĐN.
Về tác dụng của từ ĐÂ, Tạ Văn Khánh, Vương Chấn Côn [170] cho rằng: “từ ĐÂ trong quá
trình phát triển của ngôn ngữ học có tác dụng vô cùng quan trọng và tích cực” Còn Cao Văn Đạt và
Vương Lập Ứng [162] thì cho rằng: “con người khi tiến hành giao tiếp, đặc biệt là trong khẩu ngữ
thì việc sử dụng từ ĐÂ có khi tạo ra những trường hợp không rõ ràng […] nhưng không thể phủ
nhận những khả năng gây ra nhầm lẫn do từ ĐÂ tạo nên”. Còn Từ Thanh [191] thì viết: “sự tồn tại
của từ ĐÂ cần phải cho rằng đó là một chuyện không tốt, nó gây ra những trở ngại cho quá trình
biểu đạt tư tưởng […] sự tồn tại của từ ĐÂ đối với yêu cầu biểu đạt rõ ràng hiển nhiên là rất bất lợi
[…] tác dụng của từ ĐÂ là thứ yếu, không thể bù đắp cho những điều mà nó gây ra”.
Trong thời kì này, vấn đề thống kê từ ĐÂ cũng đã được chú ý tới, đáng chú ý là số liệu thống
kê từ ĐÂST trong Hiện đại Hán ngữ từ điển của Tạ Văn Khánh, Vương Chấn Côn [170]. Theo số
P(nguyệt) tháng và: 月P
2
P (nguyệt) trăng; 满
月
P
1
P (mãn nguyệt) đầy tháng, đầy cữ trẻ con và: 满月P
2
P (mãn nguyệt) chỉ trăng rằm; 快P
1
P (khoái)
nhanh
R Rvà: 快P
2
P (khoái) sắp; 顶子P
1
P (đỉnh tử) chỉ chóp của tháp, kiệu…, chỉ ngọc (đính trên đỉnh mũ)
và: 顶子
P
2
P (đỉnh tử) chỉ nóc nhà thì ông coi là “những từ ĐÂ được phân hóa từ những từ ĐN mà ra,
giữa chúng đã từng là một từ, không phải là ĐÂ ngẫu nhiên. Nếu xem xét từ góc độ nghĩa thì những
từ này về mặt lịch sử có quan hệ cội nguồn hay quan hệ diễn sinh nhưng hiện nay đã không còn