BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI
HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH TRẦN THỊ MƠ TRẦN THỊ MƠ Chuyên ngành : Tài chính doanh nghiệp Chuyên ngành : Tài chính doanh nghiệp
Mã số : 60. 31. 12 Mã số : 60. 31. 12 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN TS. NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN
UBCK : Uỷ ban chứng khoán
TTGDCK : Trung tâm giao dịch chứng khoán
SGDCK : Sở giao dịch chứng khoán
CTCK : Công ty chứng khoán
UBCKNN: Uỷ ban chứng khoán nhà nước
CBTT : Công bố thông tin
TTTC : Thị trường tài chính
BCXTT : Bất cân xứng thông tin
CTNY : Công ty niêm yết
TP. HCM : Thành Phố Hồ Chí Minh
NĐT : Nhà đầu tư
TTCK VN: Thị trường chứng khoán Việt Nam
CK : Chứng khoán
CP : Cổ phiếu
TP : Trái phiếu
TK : Tài khoản
DN : Doanh nghiệp
CTCP : Công ty cổ phần
VN-Index : Chỉ số trung bình giá chứng khoán trên thị trường Việt Nam.
IPO : Initial Public Offering – Việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công
chúng.LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các phân tích, số liệu và kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6. Kết cấu của luận văn
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN VÀ BẤT CÂN XỨNG
THÔNG TIN
1.1 Thông tin
1.1.1 Thông tin là gì?
1.1.2 Vai trò của thông tin trên thị trường chứng khoán
1.2. Thị trường chứng khoán
1.2.
1. Khái niệm về thị trường chứng khoán
1.2.2. Thành phần tham gia thị trường chứng khoán
1.3. Bất cân xứng thông tin
4
4
4
4
5
5
6
7
7
7
8
9
9
10
10
10
11
12
14
14
16
18
18
19
19
21
Kết luận chương 1
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRÊN THỊ
lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán
2.3.1.3 Quyết định số 79/2000/QĐ- UBCK về việc ban hành quy chế
thành viên, niêm yết, công bố thông tin và giao dịch chứng khoán
2.3.1.4 Thông tư 57/2004/TT-BTC ngày 17/6/2004 hướng dẫn về việc
công bố thông tin trên thị trường c
hứng khoán
2.3.2 Giai đoạn từ sau khi Luật chứng khoán ra đời vào ngày 29/06/2006
Kết luận chương 2
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM GIẢI QUYẾT TÌNH TRẠNG
BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
22
23
23
23
24
24
25
26
30
35
36
36
44
48
50
50
1.3 Cải thiện hệ thống kế toán, kiểm toán
3.3.1.4 Các công ty niêm yết
3.3.1.5 Các công ty chứng khoán
3.3.1.6 Đối với trung tâm giao dịch chứng khoán, sở giai dịch chứng
khoán nói chung
3.3.2 Giải pháp về cơ sở hạ tầng thông tin
3.3.2.1 Hướng tới việc xây dựng và phát triển một hệ thống thông tin số
hóa sử dụng XML
3.3.2.2 Nâng cấp và phát triển hệ thống công nghệ thông tin trong hệ
thống giao dịch
3.3.
2.3 Nâng cao chất lượng các bản tin thị trường chứng khoán, các
website của SGDCK, TTGDCK và UBCKNN
3.3.2.4 Nâng cao năng lực của giới truyền thông
3.3.3 Giải pháp về tiếp nhận thông tin
3.3.4 Các giải pháp hỗ trợ
3.3.
4.1 Phát triển nguồn nhân lực - con người
3.3.
4.2 Nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với đội ngũ cán bộ
3.3.
4.3 Nâng cao cơ chế quản lý giám sát của nhà nước
Kết luận chương 3
Kết luận
Tài liệu tham
khảo
Phụ lục 1
Phụ lục 2
Phụ lục 3
Phụ lục 4
90
93
97
104
117
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Biểu đồ chỉ số VN-Index và khối lượng giao dịch tăng trong tuần đầu
tháng 4/2008, giảm dần sau đó
Hình 2.2: Biểu đồ chỉ số VN-Index và tổng khối lượng giao dịch hằng ngày
trong giai đoạn từ 01/05/2008 đến 31/12/2008
Hình 2.3: Biểu đồ chỉ số VN – Index sàn TP. Hồ Chí Minh
Hình 2.4: Biểu đồ chỉ số HASTC – Index Hà Nội
Hình 2.5a. VN- Index và khối lượng giao dịch từ 28/7/2000 đến 25/6/2001
Hình 2.5b. REE, SAM, HAP, TMS. LAF từ 28/7/2000 đến 25/6/2001
Hình 2.6a: VN-Index và khối lượng giao dịch từ 25/
6/2001 đến 31/12/2003
Hình 2.6b: REE, SAM, HAP, TMS, LAF, BBC, DPC Từ 25/6/2001 đến
31/12/2003
Hình 2.7a VN-Index và khối lượng giao dịch từ 01/01/2004 đến 31/01/2006
Hình 2.7b: REE, SAM, HAP, LAF, BBC, DPC từ 01/01/2004 đến
31/01/2006
Hình 2.8a VN-Index và khối lượng giao dịch từ 06/02/2006 đến 27/12/2007
Hình 2.8b: REE, SAM, HAP, LAF, BBC, DPC từ 06/02/2006 đến
27/12/2007
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Hệ số tương quan giữa 4 chứng khoán trong giai đoạn từ 28/7/2000
đến 25/6/2001
Bảng 2.2: Hệ số tương quan giữa các cổ phiếu REE, SAM, HAP, TMS, LAF,
BBC, DPC trong khoảng thời gian từ 25/6/2001 đến 31/12/2003
Bảng 2.3. Hệ số tương quan giữa các cổ phiếu REE, SAM, HAP, LAF, BBC,
DPC trong khoảng thời gian từ 01/01/2004 đến 31/01/2006
Bảng 2.4: Hệ số tương quan giữa các cổ phiếu REE, SAM, HAP, LAF, BBC,
DPC trong khoảng thời gian từ 06/02/2006 đến 27/12/2007
Bảng 2.5: Kết quả kiểm định Jarque-Bera của VN-Inde
x và các cổ phiếu
38
40
42
44
45
- 1 -
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Năm 2008 đã đi vào lịch sử của những biến động kinh tế và cũng là năm mà
doa
nh thị trường chứng khoán có vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế: Thúc
đẩy việc tích lũy và tập trung vốn để đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật của nền ki
nh tế. Thị trường chứng khoán tạo điều kiện thuận lợi cho việc
thực hiện chính sách mở cửa, cải cách kinh tế thông qua việc phát hành chứng
- 2 -
khoán ra nước ngoài. Thị trường chứng khoán rất nhạy cảm đối với các hoạt động
kinh tế, là thước đo hiệu quả các hoạt động kinh tế. Thị trường chứng khoán tạo
điều kiện để sử dụng vốn có hiệu quả hơn đối với cả người có tiền đầu tư và người
vay tiền để đầu tư. TTCKVN đã và đang phát triển như một kênh sử dụng vốn
nhà
n rỗi của xã hội, góp phần tối đa hoá nguồn lực xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, vẫn còn tồn tại một số vấn đề bất cập.
Một trong số đó là vấn đề bất cân xứng thông tin trong thị trường tài chính nói
chung và thị trường chứng khoán nói riêng. Vấn đề này có tác động không những
lâu dài mà còn gây ra những ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý, niềm tin của nhà đầu tư
vào thị trường chứng khoá
n và những cơ quan quản lý. Cùng với quá trình toàn
cầu hoá thế giới và tiến trình hội nhập của Việt Nam với các nền kinh tế trong khu
vực và cả thế giới, yêu cầu làm sao để hạn chế bất cân xứng thông tin trong TTCK,
làm cách nào để nâng cao chất lượng công bố thông tin, đảm bảo cho TTCK vận
hành công bằng, hiệu quả, công khai và minh bạch được đặt ra rất cấp thiết.
Trên cơ sở nhận thức đư
ợc tầm quan trọng của những vấn đề trên, và với
mong muốn góp phần xây dựng và phát triển TTCKVN thành một thị trường bền
vững và ổn định, em đã chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp cho vấn đề bất cân
xứng thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ.
2. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hoá các lý luận cơ bản về thị trường chứng khoá
thông ti
n trong TTCK nhằm giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư, tạo điều kiện cho
những người ít vốn tham gia thị trường. Vì vậy luận văn nêu lên tầm quan trọng
của sự bất cân xứng thông tin ảnh hưởng đến thị trường tài chính nói chung và thị
trường chứng khoán nói riêng
Tìm hiểu tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam từ khi
thành lập 7/2000 đến nay và sự bất cân xứng thông tin trên thị trường c
hứng khoán
Việt Nam. Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm giải quyết tình trạng bất cân xứng
thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn có kết cấu như sau:
- Lời mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý luận về thông tin và bất cân xứng thông tin
- Chương 2. Thực trạng bất cân xứng thông t
in trên thị trường chứng khoán
Việt Nam
- Chương 3: Các giải pháp nhằm giải quyết tình trạng bất cân xứng thông
tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Kết luận.
- Tài liệu tham khảo.
- 4 -
- Phụ lục.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN
VÀ BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN
1.1 Thông tin
1.1.1. Thông tin là gì?
Thông tin đựơc hiểu là sự truyền đạt các tin tức giữa con người với con
người về một sự vật, hiện tượng nào đó mà các bên đều hiểu rõ. Khái niệm thông
tin (information) được sử dụng thường ngày. Con người có nhu cầu đọc báo, nghe
là chi phí bình thường mà nhà đầu tư phải bỏ ra. Hoạt động của thị trường được
xem là hiệu quả nhất khi nó có chi phí giao dịch bằng không. Thực tế thì điều này
không xảy ra vì phí môi giới là nguồn thu giúp các nhà tạo lập thị trường, nhà môi
giới được tồn tại.
- Thông tin hiệu quả: Khi giá giao dịch phản ảnh đầy đủ và tức thời các
thông ti
n có ảnh hưởng tới thị trường.
Để đánh giá được vai trò của thông tin, chúng ta hãy xem xét hành vi mua
bán cổ phiếu của nhà đầu tư trên thị trường theo phương pháp của Kendall, theo
Ông các nhà đầu tư sẽ tìm cách mua khi giá có khuynh hướng tăng và bán khi giá
có khuynh hướng giảm. Thực tế, khi nhà đầu tư dự đoán giá có khuynh hướng tăng
thì ngay lập tức giá chứng khoán trên thị trường sẽ tăng.
Vì vậy giá chứng khoán sẽ phản ứng ngay lập tức khi có thông tin dự đoá
n
giá sẽ tăng và ngược lại đối với trường hợp dự đoán giá sẽ giảm.
Như vậy, thông tin là một trong ba yếu tố cấu thành để làm nên một thị
trường chứng khoán hiệu quả. Trong đó thông tin có vai trò quyết định đến giá
chứng khoán trên thị trường. Thị trường có thông tin minh bạch và đầy đủ sẽ hình
thành nên giá chứng khoán hợp lý và tạo được niềm tin của công chúng vào thị
trường chứng khoá
n.
1.2. Thị trường chứng khoán
1.2.1. Khái niệm về thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi giao dịch chứng khoán. Nghĩa là ở đâu có
giao dịch mua bán chứng khoán thì đó là hoạt động của thị trường chứng khoán.
Tuy nhiên, đó có thể là thị trường chứng khoán có tổ chức hoặc không có tổ chức,
tập trung hay không tập trung.
Thị trường tập trung là các Sở giao dịch chứng khoán hay Trung tâm giao
dịch chứng khóan. Tại Sở giao dịch chứng khoá
n, các giao dịch được tập trung tại
à môi giới kinh doanh chứng khoán: Có thể là tổ chức hoặc cá nhân.
Đa phần các hoạt động môi giới hiện nay là những công ty chứng khoán. Ngoài
nghiệp vụ môi giới các công ty này có thể thực hiện nhiều chức năng khác như tự
doanh, quản lý quỹ đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán.
- Người tổ chức thị trường: Ch
iếm vai trò chủ yếu của người tổ chức thị
trường là các Trung tâm giao dịch chứng khoán hay Sở giao dịch chứng khoán.
Các Trung tâm, Sở này cung cấp địa điểm và phương tiện để thực hiện việc mua
bán chứng khoán cho các chủ thể tham gia giao dịch, điều hành thị trường để các
giao dịch diễn ra công bằng và minh bạch. Ngoài các Trung tâm và Sở giao dịch,
Trung tâm lưu ký, công ty dịch vụ máy tính chứng khoán, cũng có chức năng
không kém
phần quan trọng làm cho thị trường hoạt động hiệu quả.
- Nhà nước: Góp phần đảm bảo cho thị trường hoạt động theo đúng các qui
định của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của người đầu tư, đảm bảo thị
- 7 -
trường hoạt động bền vững và hiệu quả. Ngoài ra Nhà nước cũng có thể tham gia
thị trường với tư cách là nhà phát hành. Đó là thông qua Chính phủ hoặc các chính
quyền địa phương phát hành các trái phiếu nhằm huy động vốn trên thị trường
chứng khoán để vay nợ hoặc tài trợ các dự án công. Nhà nước cũng có thể bán
hoặc mua các chứng khoán của các doanh nghiệp nhằm kiểm soát quyền chi phối
các doanh nghiệp theo mục đích.
1.3. Bất cân xứng thông tin
1.3.
1. Bất cân xứng thông tin là gì ?
Trong khoảng 2 thập kỉ vừa qua, một bộ phận trong lĩnh vực nghiên cứu
kinh tế, đôi khi được biết đến như là môn kinh tế học thông tin, đã mở rộng phạm
vi nghiên cứu của nó đến việc thị trường sản sinh và truyền tải các thông tin như
thế nào. Nhiều thông tin có giá trị trên thị trường đã có tác động lên những nét
riêng của thị trường, và gây ra một số vấn đề nhất định trên t
gắn liền với những hành động bị che dấu của người đi vay, họ tận dụng những
thông ti
n tốt hơn để đưa ra một mức lợi nhuận thấp hơn thực tế.
Trước khi tiếp tục, chúng ta cần phải chú ý những điểm khác nhau giữa ba
dạng biểu hiện của vấn đề bất cân xứng thông tin. “Lựa chọn trái ngược” xảy ra
trước khi bên cho vay giải ngân khoản vay, trái ngược lại là “tâm lí ý lại” và “Chi
phí giám sát”. Trong trường hợp “lựa chọn tr
ái ngược” và “chi phí giám sát” bên đi
vay đã chọn trước dự án đầu tư, trong khi trong trường hợp “tâm lí ý lại” hay “mối
nguy đạo đức” bên đi vay có thể sử dụng vốn vay vào mục đích khác khi đã nắm
đựơc khoản vay.
1.3.2.1 Sự lựa chọn trái ngược
Lựa chọn trái ngược hay lựa chọn bất lợi không phải là một quyết định ngẫu
nhiên mà quyết định này xuất phát việc che đậy thông tin của một bên trong thị
trường, và sự lựa chọn một bên sẽ gây bất lợi cho một bên khác trước khi xảy ra
giao dịch
(hợp đồng), sự lựa chọn này có thể làm một phân khúc thị trường trở nên
rủi ro và thậm chí đi đến xụp đổ hoàn toàn.
Điều mà bất kỳ nhà đầu tư nào cũng mong muốn là lợi nhuận, đối với thị
trường chứng khoán lợi nhuận được thể hiện thông qua việc mua cổ phiếu giá thấp
bán với giá cao (lợi vốn) hoặc đạt được giá trị cổ tức (lợi tức) kỳ vọng m
à nhà đầu
tư dự kiến. Nếu kết quả đầu tư của nhà đầu tư không hiệu quả tức nhà đầu tư vi
phạm những điều đã nói trên, thì ít nhiều đã tồn tại thông tin bất cân xứng trong
hoạt động đó và hệ quả của nó là chi phí lựa chọn bất lợi m
à nhà đầu tư phải gánh
chịu.
Thông thường trong hoạt động mua bán, người bán là người nắm rõ thông
tin về sản phẩm của mình và dĩ nhiên khi đó chi phí lựa chọn bất lợi sẽ do người
mua gánh chịu và trong thị trường hàng hoá lẫn lộn hàng thật và hàng copy cat thì
của các nhà đầu tư phải thông qua một số người đại diện để điều hà
nh công ty.
Tâm lý ỷ lại sẽ gia tăng nếu như tỷ lệ sở hữu cổ phần của những người đại diện
thấp. Vì nếu hoạt động sản xuất kinh doanh không hiệu quả thì trách nhiệm của họ
không cao và sự thiệt hại trên phần vốn góp là thấp. Chính vì thế, hiện nay tiêu chí
đầu tiên để những cổ đông muốn là thành viên của Hội đồng quản trị thì họ phải có
một tỷ lệ vốn góp nhất định nà
o đó.
1.3.2.3. Chi phí giám sát
Nếu người đi vay lợi dụng được những thông tin tốt hơn của họ đánh lừa
người cho vay bằng cách cố ý báo cáo lợi nhuận thấp hơn thực sự, thì người cho
vay – những người không thể trực tiếp theo dõi kết quả của việc đầu tư, sẽ bắt buộc
phải giám sát người đi vay bất cứ khi nào anh ta tuyên bố rằng anh ta không có khả
năng thanh toán tất cả khoản va
y. Để làm được điều đó, trong hợp đồng có đặt
những điều kiện là, mỗi người đi vay thông báo sự vỡ nợ, người cho vay có quyền
kiểm toán họ và phong toả tất cả những dòng tiền đã được kiểm tra. Mỗi lần kiểm
- 10 -
toán sẽ tốn chi phí, chi phí này được dùng để thuê những kế toán viên và luật sư để
làm công việc kiểm toán. Khi không có chi phí giám sát, những người không trung
thực sẽ có lợi hơn, nhưng sự gian lận sẽ không còn tác dụng khi có chi phí giám
sát. Khi người cho vay có khả năng kiểm toán bất cứ lúc nào, điều này khiến
những người đi vay không trung thực phải xem laị chiến lược của họ – nghĩa là,
việc giám sát sắp xếp lại động cơ của cả bê
n vay và bên cho vay
Một khía cạnh mới của vấn đề bất cân xứng thông tin là sự xuất hiện của
bên kiểm toán, họ có thể được một phần trong giá trị trông đợi của dự án. Mặc dù
người cho vay mới là người có quyền kiểm soát, việc giám sát làm nổi lên một vấn
đề nằm ngoài vấn đề bất cân xứng thông tin, nó tượng trưng cho một sự phung phí
nguồn lực xã hội mà có thể kết thúc trong tay của các doanh nghiệp.
hóa thị trường của doanh nghiệp. Do vậy, khi bất cân xứng thông tin ảnh hưởng
đến việc định giá tài sản, tăng chi phí sử dụng vốn, hạn chế mức vốn hóa của thị
trường của doa
nh nghiệp.
1.3.3.2 Tác động của bất cân xứng thông tin đối với thị trường
Bất cân xứng thông tin làm hạn chế tính hiệu quả của thị trường, nó làm
cho môi trường đầu tư cũng như kinh doanh trở nên khó dự đoán được những rủi
ro và cơ hội đầu tư. Giá cả hàng hóa trên thị trường phản ánh không đúng giá trị
thực của nó. Thật vậy, Tr
ong những giai đoạn đầu khi thị trường chứng khoán
mới xuất hiện thì thị trường chứng khoán của một quốc gia có thể hoạt động độc
lập và tách biệt với các thị trường chứng khoán khác trên thế giới. Trong vòng
hai thập niên trở lại đây, các thị trường chứng khoán trên thế giới đã ngày càng
liên kết nhiều hơn; hiện nay các nhà quản lý và các nhà đầu tư tổ chức thường
theo dõi các thị trường khác trên thế giới để tìm ra những cơ hội đầu tư. Vấn đề
qua
n trọng nhất là một số lượng lớn (và ngày càng tăng) các loại chứng khoán
không chỉ giao dịch trên thị trường trong nước. Vì vậy, hiện nay nhiều thị trường
cạnh tranh để có được sự giao dịch của những loại cổ phiếu chính.
Nhìn chung, ảnh hưởng của xu hướng này là tích cực. Hiện nay những
nguồn vốn mới có thể “chảy” đến những nhà
phát hành trên toàn thế giới và sự liên
kết đó tạo điều kiện cho sự phân bổ nguồn vốn trên toàn cầu. Tuy nhiên, xu hướng
này cũng đã tạo ra sự phân khúc ở cấp độ quốc tế. Sự phân khúc này đã dẫn đến sự
phổ biến ngày càng nhiều của các luồng vốn đầu tư và ngày càng nhiều các loại
chứng khoán giao dịch trên những thị trường khác nhau (và có thể là hiệu quả cũng
khác nha
u) ở những mức giá khác nhau.
Tính không hiệu quả trong việc định giá phần lớn được tạo ra bởi
một thực tế là những chứng khoán có thể thay thế đang được giao dịch “trong
không hiệu quả.
1.3.4 Các nguyên nhân gây ra bất cân xứng thông tin trên thị trường chứng
khoán
Thông tin bất cân xứng trên TTCK xuất hiện khi người mua và người bán
có thông tin khác nhau, dẫn đến việc đưa ra quyết định đầu tư không chính xác,
gây cung - cầu ảo, tiềm ẩn nhiều rủi ro với thị trường. Thông tin bất cân xứng xảy
ra do:
* Về phía các doanh nghiệp:
- Ngoài thông tin bắt buộc th
eo luật định phải công bố thì DN không chủ
động cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời. Ngoài ra, đối với DN chào bán cổ phiếu
ra công chúng, có thể chính ban lãnh đạo DN che giấu thông tin để "dìm giá" sao
cho những người trong DN có thể mua được cổ phiếu với giá thấp.
- Có hiện tượng rò rỉ thông tin chưa hoặc không được phép công khai, phổ
biến trong công tác đấu giá cổ phiếu. Hiện nay, quy chế đấu giá do UBCK ban
hành chỉ yêu cầu công bố tổng số NĐT tham gia đấu giá và tổng lượng cổ phiếu
- 13 -
đặt mua, trong khi những thông tin có ảnh hưởng lớn đến việc đặt giá như số lượng
NĐT nước ngoài tham gia đấu giá; số lượng cổ phiếu đặt mua của đối tượng này,
lại không được công bố cụ thể. Những thông tin này có thể không được bảo mật
chặt chẽ, mà được cung cấp một cách riêng lẻ cho những đối tượng có nhu cầu.
Nếu nắm được cụ thể, chi tiết về tổng cầu cổ phiếu của thị trường, các cá nhân, tổ
chức tham gia đấu giá sẽ tính t
oán được hợp lý mức giá mà mình bỏ thầu, qua đó
chiếm lợi thế so với các NĐT khác không có thông tin.
Sự rò rỉ thông tin còn thể hiện ở việc công bố các thông tin có lợi của DN.
Ví dụ, đối với các quyết định của hội đồng quản trị như chia cổ tức bằng cổ phiếu
thưởng, tăng quy m
ô vốn , do quan hệ cá nhân, một số NĐT biết trước khi thông
tin được công bố và tranh thủ thu mua cổ phiếu để chờ giá lên. Đến khi các NĐT
* Về phía nhà đầu tư:
- Nhà đầu tư chưa chủ động tìm
kiếm thông tin, khả năng quan sát và tìm
kiếm thông tin còn hạn chế cũng như khả năng xử lý các nguồn thông tin có được
chưa cao. Ngoài ra, còn có hiện tượng như một số NĐT làm giá, tạo cung - cầu ảo
trên thị trường khiến cho giá cả biến động mạnh. Sự t
hua thiệt thuộc về NĐT cá
nhân, không có nguồn tin nội bộ, khi muốn mua thì không thể nào tìm được nguồn
mua do NĐT lớn đã thâu tóm toàn bộ, khi muốn bán thì cũng không thể nào bán
được do thị trường bão hòa.
* Về phía nhà nước:
- Đội ngũ quản l
ý cũng chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý và
điều hành, đội ngũ quản lý thị trường giỏi, có kinh nghiệm không nhiều, cộng với
sự lôi kéo từ các công ty chứng khoá
n làm cho đội ngũ quản lý ngày càng thưa
thớt.
- Hệ thống các văn bản pháp lý liên quan đến tổ chức và hoạt động của thị
trường chưa chặt chẽ và đồng bộ hơn từ lĩnh vực công nghệ thông tin, thuế, kế toán
- kiểm toán, cổ phần hóa và đến cả giáo dục và đào tạo
- Cơ chế giám sát thông tin. Hiện nay ở VN, hầu như không có một cơ quan
nào giám
sát và đảm bảo chất lượng của các thông tin công bố trên TTCK. Với
tình hình hiện nay, rò rỉ thông tin là một điều không tránh khỏi nhưng trong đó có
một số thông tin không chính xác. Điều này càng bị phóng đại khi mà các nhà đầu
tư ở nước ta đa phần là các nhà đầu tư không chuyên nghiệp, họ rất dễ bị dao động
bởi những tin đồn.
1.3.5 Những giải pháp lý thuyết để hạn chế vần đề bất cân xứng thông tin
1.3.
5.1. Giảm thiểu sự lựa chọn bất lợi (adverse selection)
bố của họ về chất lượng của một loại hàng được coi là hành vi phát tín hiệu.
Bên có thông tin riêng biệt chủ động thực hiện những hoạt động nhằm gián
tiếp phân nhóm đối tác để từ đó áp dụng các chính sách khác nha
u cho từng nhóm
đối tác. Chẳng hạn như để giảm thiểu sự lựa chọn bất lợi trong hợp đồng bảo hiểm
rủi ro mất xe máy, công ty bảo hiểm thiết kế hợp đồng bảo hiểm sao cho có thể
tách biệt loại khách hàng: nhóm rủi ro mất xe cao và nhóm rủi ro mất xe thấp.
Hợp đồng bảo hiểm gồm hai lựa chọn, bất cứ khách hàng nào cũng có thể
lựa chọn một trong hai. Lựa chọn thứ nhất: bảo hiểm to
àn bộ giá trị của chiếc xe
với một mức phí bảo hiểm. Lựa chọn thứ hai: bảo hiểm một phần giá trị của chiếc
xe với một mức phí thấp hơn trong lựa chọn thứ nhất.
Vấn đề ở đây là xác định mức phí bảo hiểm và tỷ lệ giá trị xe được bảo
hiểm sao cho nhóm rủi ro
cao luôn thấy có lợi nhất khi chọn hợp đồng thứ nhất,
còn nhóm rủi ro thấp chỉ chọn hợp đồng thứ hai. Trước hết, phí bảo hiểm trong
hợp đồng thứ nhất được định ở mức cạnh tranh sao cho đủ bù đắp chi phí kì vọng
- 16 -
phải bồi thường đối với nhóm rủi ro cao cộng với chi phí quản lý. Đối với hợp
đồng thứ hai, ta chọn một mức phí thấp hơn phù hợp với mức rủi ro thấp hơn (ví
dụ bằng một nửa mức phí bảo hiểm trong hợp đồng thứ nhất), nhưng khách hàng
trong hợp đồng này chỉ đựơc bảo hiểm một phần giá trị tài sản (ví dụ được bảo
hiểm
40% giá trị). Nhưng người có rủi ro mất xe thấp thấy rằng chẳng tiếc gì chọn
hợp đồng thứ nhất vì mức phí quá cao, cho dù có đựơc bảo hiểm toàn bộ giá trị xe.
Còn những người có rủi ro cao lại thấy rằng hợp đồng thứ nhất là tốt hơn cả. Đối
với họ, đúng là có thể đựơc lợi từ mức phí thấp nhất trong hợp đồng thứ hai, nhưng
vì chỉ đự
ơc bảo hiểm một phần trong klhi rủi ro mất xe lại cao nên việc mua hợp
đồng thứ hai không còn hấp dẫn. Mặc dù tách biệt đựơc hai loại khách hàng,