Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường cao đẳng công nghệ bắc hà, tỉnh bắc ninh - Pdf 14

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
BGD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
CĐ Cao đẳng
CBGV Cán bộ giảng viên
CBQL Cán bộ quản lý
ĐT Đào tạo
GV Giảng viên
GVCVHT Giảng viên cố vấn học tập
HCTC Học chế tín chỉ
PTDH Phương tiện dạy học
PPDH Phương pháp dạy học
KTDH Kỹ thuật dạy học
NHCH Ngân hàng câu hỏi
SV Sinh viên
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
b. Thời gian và kế hoạch đào tạo 23
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn cho thấy: Muốn quản lý tốt quá trình ĐT
theo HCTC trong giai đoạn hiện nay ở Trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà cần phải
có giải pháp phù hợp và được thực hiện một cách đồng bộ. Đề tài đã đề xuất giải
pháp tổ chức quản lý ĐT theo HCTC tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà gồm: 91
1. Rà soát điều chỉnh chương trình đào tạo, tiến trình đào tạo và tổ chức xây dựng đề
cương chi tiết học phần; 91
2. Cải tiến công tác xây dựng kế hoạch đào tạo và lập thời khóa biểu; 91

v
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
b. Thời gian và kế hoạch đào tạo 23
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn cho thấy: Muốn quản lý tốt quá trình ĐT
theo HCTC trong giai đoạn hiện nay ở Trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà cần phải

Xuất phát từ yêu cầu đó, việc chuyển đổi phương thức đào tạo (ĐT) từ niên
chế sang học chế tín chỉ (HCTC) là bước chuyển tất yếu khách quan của giáo dục Đại
học và Cao đẳng của Việt Nam theo xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, cũng là
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, khuyến khích người học được thường
xuyên và học suốt đời.
Các nước trên thế giới cũng như Việt Nam những năm qua đã đúc kết ưu điểm
đạt được từ đạo tạo theo học chế tín chỉ như sau:
1
- Cho phép sinh viên chủ động thiết kế kế hoạch, được quyền lựa chọn cho
mình tiến độ học tập thích hợp với khả năng, sở trường và hoàn cảnh riêng của bản
thân để tích luỹ kiến thức và kỹ năng để có văn bằng. Điều này còn đảm bảo cho quá
trình đào tạo trong các trường Đại học trở nên mềm dẻo hơn.
- Cho phép ghi nhận cả những kiến thức và khả năng tích luỹ được ngoài
trường lớp để dẫn tới văn bằng, khuyến khích sinh viên từ nhiều nguồn gốc khác
nhau có thể tham gia học Đại học một cách thuận lợi - Không nhất thiết học trong
trường. Có thể nói đây là một công cụ quan trọng để chuyển từ nền Đại học mang
tính tinh hoa (elitist) sang nền Đại học mang tính đại chúng (mass).
- Cho phép sinh viên thay đổi thời gian trong tiến trình học tập khi thấy cần,
không phải nhất thiết theo kế hoạch từ đầu tùy theo điều kiện và khả năng của từng
người. Sinh viên có thể chủ động ghi tên học các học phần khác nhau dựa theo những
qui định chung về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức.
- Học chế tín chỉ cung cấp cho các trường Đại học một ngôn ngữ chung, tạo
thuận lợi cho sinh viên khi cần chuyển trường cả trong nước cũng như ngoài nước.
- Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo: kết quả học tập
của sinh viên được tính theo từng học phần chứ không phải theo năm học. Chính vì
vậy giá thành đào tạo theo học chế tín chỉ thấp hơn so với đào tạo theo niên chế.
- Triển khai học chế tín chỉ, các trường Đại học lớn đa lĩnh vực có thể tổ chức
những môn học chung cho sinh viên nhiều trường, nhiều khoa, tránh các môn học
trùng lặp ở nhiều nơi; ngoài ra sinh viên có thể học những môn học lựa chọn ở các
khoa khác nhau. Cho phép sử dụng được đội ngũ giảng viên giỏi nhất và phương tiện

hình học tập cũng như việc thực hiện kế hoạch học tập trong quá trình ĐT của mình.
Cùng đó, khi ĐT, nhà trường sẽ giải quyết được được khủng hoảng thừa về đội ngũ
giảng viên, tiết kiệm về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và nâng cao tính chuẩn
mực trong chương trình ĐT cho các hệ ĐT của nhà trường.
Trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh được thành lập và tổ chức
đào tạo từ năm 2006 theo quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Từ năm học
2010 -2011, trường bắt đầu tổ chức ĐT thẹo HCTC nhằm phát huy cao độ khả năng
học tập của sinh viên và cũng đã đạt được những kết quả đáng kể.
Tuy nhiên, để phương thức ĐT theo HCTC phát huy tác dụng và hạn chế tối
đa những nhược điểm vốn có của nó thì ngoài thời gian cần thiết để triển khai, rút
3
kinh nghiệm thực tiễn, cần có sự chỉ đạo quyết liệt, có hiệu quả của các cấp quản lý vĩ
mô, các cơ sở ĐT; sự thay đổi nhận thức, tư duy hành động đúng đắn của từng cá
nhân trong hệ thống ĐT Đại học và Cao đẳng hiện nay. Qua một thời gian thực hiện
phương thức ĐT theo HCTC của trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh,
đứng ở góc độ của người thực hiện, tôi thấy cần nâng cao nhận thức của các chủ thể
tham gia vào quá trình ĐT về những ưu điểm, nhược điểm của phương thức ĐT này
và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy những ưu điểm và khắc phục các nhược
điểm của phương thức ĐT theo HCTC tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, góp
phần thực hiện thắng lợi quan điểm đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục Đại học,
Cao đẳng ở nước ta hiện nay. Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài:
“Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Cao đẳng Công nghệ
Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ quản lý giáo dục của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến việc tổ chức
quản lý ĐT theo HCTC và nghiên cứu đánh giá thực trạng việc tổ chức quản lý ĐT
theo HCTC tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, đề xuất giải pháp tổ chức quản
lý ĐT theo HCTC nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
* Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp tổ chức quản lý đào tạo theo HCTC tại

Sử dụng phương pháp nghiên cứu những tài liệu lý luận, văn bản, Nghị quyết,
sách báo, các công trình đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài. Tổ chức thu thập các
số liệu thống kê và các thông tin có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận cho việc
nghiên cứu thực tiễn.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra: Điều tra bằng Anket (Phiếu trưng cầu ý kiến)
Chúng tôi xây dựng 02 mẫu phiếu điều tra dùng để trưng cầu ý kiến của cán bộ
quản lý (CBQL), giảng viên, sinh viên tại các khoa của trường Cao đẳng Công nghệ
Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh.
+ Phương pháp phỏng vấn:
Chúng tôi gặp gỡ, trao đổi, quan sát, trò chuyện, lấy ý kiến trực tiếp các
CBQL, giảng viên (GV), sinh viên(SV) ở các khoa của nhà trường về những ưu điểm,
khó khăn khi tham gia tổ chức ĐT theo HCTC nhằm nâng cao chất lượng ĐT cho
sinh viên nhà trường.
5
7.3. Phương pháp thống kê Toán học
Sử dụng phương pháp thống kê Toán học để xử lý các tài liệu, số liệu đã thu
thập được làm cơ sở cho sự phân tích đánh giá khách quan bản chất của vấn đề
nghiên cứu.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,
phụ lục nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:
+ Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ.
+ Chương 2: Thực trạng về tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại
trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh.
+ Chương 3: Giải pháp tổ chức quản lý đào tạo theo HCTC tại trường Cao
đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO

sự tích lũy kiến thức được quy định trong chương trình đào tạo. Sự tích lũy được
đánh giá bằng: Số tín chỉ tích lũy tối thiểu quy định của mỗi chương trình để sinh
viên (SV) có thể tốt nghiệp. [20. tr.8]
Ngày nay, HCTC trong các trường Đại học Hoa Kỳ đòi hỏi phải hoàn thành
thường là 120 tín chỉ trong vòng 4 năm để có một bằng Đại học. Điều này tương
đương với 15 tín chỉ mỗi học kỳ. Khi xác định khối lượng công việc cho SV, các
trường Đại học Hoa Kỳ không chỉ tính đến giờ tiếp xúc với giáo sư, mà còn tính đến
cả khoảng thời gian SV cần có để thực hiện việc chuẩn bị dự án, viết báo cáo khoa
học, nghiên cứu tự học. Tín chỉ phản ánh toàn bộ khối lượng công việc, cả trong và
ngoài lớp học. Một bài giảng tiêu biểu là 3 tín chỉ, trong đó có 3 giờ lên lớp mỗi tuần
(thường là 3 lần/tuần, mỗi lần 50 phút), cùng với 6-9 giờ làm việc ngoài lớp học (1
giờ trong lớp đòi hỏi 2-3g chuẩn bị và tự học bên ngoài lớp học. Như vậy tổng số
khối lượng công việc của một tín chỉ là 3-4 giờ (kết hợp cả giờ lên lớp và giờ làm
việc ngoài lớp học). Nhìn chung, một SV đăng ký 15 tín chỉ mỗi học kỳ sẽ có 15 giờ
lên lớp và khoảng từ 30-45 giờ làm việc ngoài lớp. [5, tr.8]
1.1.2. Ở trong nước
Ở Việt Nam, trước 1975, Viện Đại học Cần Thơ đã từng áp dụng HCTC trong
các Đại học Văn Khoa, Đại học Luật Khoa và Đại học Khoa học. Sau 1975, nhiều
giảng viên của Trường Đại học Cần Thơ đã được đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở
nhiều trường Đại học Âu - Mỹ. [1, tr.8] Từ năm 1987, HCTC được áp dụng một phần
dưới hình thức tổ chức môn học theo học phần và đơn vị học trình. HCTC chỉ được
hính thức triển khai từ năm 2001 khi Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh HCTC như là
một giải pháp để đổi mới giáo dục Đại học, và được khẳng định trong Luật giáo dục
2005: “ Về chương trình giáo dục: Đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục Đại học có
thể được tiến hành theo hình thức tích lũy tín chỉ hay theo niên chế” .
Để thực hiện tiến trình đến với sự hoà nhập với các nước trong khu vực và thế
giới, các trường Đại học Việt Nam đã tiên phong trong việc tham khảo kinh nghiệm
và áp dụng HCTC vào chương trình ĐT của mình. Có thể kể ra các trường đi đầu
trong việc áp dụng này là các trường thuộc kỹ thuật như Trường Đại học Bách khoa
8

Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
9
Trong “Chương trình hành động của Chính phủ” thực hiện Nghị quyết số
37/2004/QH11 khóa XI, kỳ họp thứ sáu của Quốc hội đã chỉ rõ: “Mở rộng, áp dụng
HCTC trong đào tạo Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp ”. Đề án đổi mới
giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 đã được Chính phủ phê duyệt cũng
khẳng định: “ xây dựng học chế tín chỉ thích hợp cho giáo dục Đại học ở nước ta và
vạch ra lộ trình hợp lý để toàn bộ hệ thống giáo dục Đại học chuyển sang đào tọa theo
HCTC ”. Chính vì vậy, việc ĐT theo HCTC ở các trường Đại học và Cao đẳng trên
cả nước đã xây dựng cho mình Quy chế đào tạo. Mỗi quy chế được xây dựng với
những mục tiêu, quy định, cách thức tổ chức ĐT riêng thể hiện được nhưng ưu điểm
của mỗi ngành học ở mỗi nhà trường trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và ĐT,
phát huy khả năng tự học, tự bồi dưỡng của người học.
Hiện nay, các hoạt động liên quan đến tổ chức ĐT theo HCTC của các nhà
trường như đăng ký môn học, thời khoá biểu của người học, kết quả điểm tích lũy của
từng môn học theo số tín chỉ v.v , từng bước đi vào thế ổn định và mang tính bền
vững. Nhiều trường đã thực hiện chế độ tích luỹ kết quả học tập theo học phần thống
nhất cho các loại hình ĐT Đại học chính quy, Đại học bằng 2, Đại học tại chức, Sau
Đại học, chuyển đổi từ Cao đẳng lên Đại học, hợp đồng liên kết ĐT với các cơ sở ĐT
tại các địa phương, các bộ, ngành và các cơ sở ĐT. Hiện nay, các trường này đã thực
hiện cấp chứng chỉ tích lũy theo học phần đối với các học phần phải bổ sung kiến
thức thuộc đào tạo Sau Đại học và chứng chỉ các môn học. Ngoài ra, các trường này
cũng đã thống nhất đánh giá kết quả học tập của SV theo chế độ tích luỹ học phần
cho các loại hình ĐT tập trung, chính quy, ĐT ngoài giờ, tại các địa phương, các
ngành và liên kết ĐT với các trường Đại học. Thực hiện kiểm tra, thi kết thúc học
phần, thi tốt nghiệp theo hình thức thi viết đồng thời mở rộng hình thức thi trắc
nghiệm khách quan.
Từ Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/8/2007 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo về việc Ban hành “ Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo
hệ thống tín chỉ” và những kết quả đạt được qua quá trình ĐT, Thông tư số

lực của các cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức”;
Thomas J. Robbins - Wayned Morrison cho rằng: “Quản lý là một nghề nhưng
cũng là một nghệ thuật, một khoa học”;
11
Ở nước ta, cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý:
Theo Nguyễn Kỳ - Bùi Trọng Tuân: “Quản lý là những tác động có định
hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận
hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định”;
Theo Mai Hữu Khuê: “Quản lý là sự tác động có mục đích tới tập thể những
người LĐ nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích đã định trước”;
Theo Đặng Vũ Hoạt - Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình có định hướng,
quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm
đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới
của hệ thống mà người quản lý mong muốn” ;
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của
chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện
những mục tiêu dự kiến”;
Các định nghĩa trên tuy nhấn mạnh mặt này hay mặt khác, nhưng điểm chung
thống nhất đều coi quản lý là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu
xác định. Trong quản lý bao giờ cũng có chủ thể quản lý, khách thể quản lý quan hệ
với nhau bằng những tác động quản lý. Từ những ý chung của các định nghĩa và xét
quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ
chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề
ra. Hay nói cách khác, Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định
hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người
hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất.
1.2.2. Đào tạo
Trong giáo dục và đào tạo có các quá trình tiếp nối và xen kẽ: ĐT, bồi dưỡng
và ĐT lại. Các quá trình này gắn liền với sự hình thành và phát triển nghề nghiệp của
người giáo viên theo xu thế học tập thường xuyên, suốt đời.

vực chuyên môn mới một cách cơ bản, có hệ thống cả tri thức, kỹ năng, kỹ xảo lẫn
thái độ nhằm mục đích có trình độ tay nghề cao hơn hoặc có thể chuyển đổi nghề
(hay công việc mới). Đây chính là quá trình hoạt động nhằm phát triển nhân cách một
cách hài hoà, toàn diện cho mọi người, giúp họ trở thành người lao động có năng lực
và phẩm chất nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu xã hội.
13
1.2.3. Quản lý đào tạo
Theo thuật ngữ đào tạo (Glossary of training terms) của Bộ Lao động nước
Anh: “Đào tạo là phát triển có hệ thống về thái độ/ kiến thức/ kỹ năng/ mẫu hành vi
theo yêu cầu cá nhân nhằm thực hiện thích đáng một công việc hay một nghề”. Và
quan điểm ở Mỹ, J.R. Hinrich: “Mọi quy trình tổ chức nhằm bồi dưỡng việc học tập
trong số những thành viên của tổ chức theo hướng góp phần nâng cao tính hiệu quả
của tổ chức” thì Peter Bramley (trong tác phẩm “Evaluating training effectiveness”)
đã rút ra 3 đặc trưng:
- Đào tạo phải là một quá trình có hệ thống được kế hoạch và kiểm soát hơn là
học tập ngẫu nhiên từ kinh nghiệm.
- Đào tạo phải làm thay đổi kiến thức, kỹ năng, thái độ của người học (cá nhân
và tập thể)
- Đào tạo nhằm hoàn thiện việc thực hiện nghề và thông qua đó nâng cao tính
hiệu quả một phần của tổ chức mà trong đó cá nhân và tập thể hoạt động.
Như vậy, đào tạo là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm
hình thành và phát triển có hệ thống các kiến thức, kỹ năng, thái độ để hoàn thiện
nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo năng lực cho họ vào đời hành nghề có năng suất và
hiệu quả cao.
Hoạt động đào tạo trong trường ĐH, CĐ có đặc trưng nổi bật nhất là quá trình
đào tạo. Quá trình đào tạo bao gồm các nhân tố chủ yếu sau:
- Mục tiêu đào tạo - Nội dung đào tạo
- Phương pháp đào tạo - Điều kiện đào tạo
- Lực tượng đào tạo (Thày-người dạy) - Tổ chức đào tạo
- Đối tượng đào tạo (Trò-người học) - Môi trường đào tạo

cơ bản, có thái độ và đạo đức nghề nghiệp đúng đắn, chú trọng rèn luyện kỹ năng và
năng lực thực hiện công tác chuyên môn, có khả năng tìm kiếm và tham gia sáng tạo
việc làm”.
Theo thông tư số 14/2009/TT-BGDĐT, ngày 28 tháng 5 năm 2009 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ trường Cao đẳng (Điều 15).
Như vậy, mục tiêu ĐT trình độ Cao đẳng nhằm tạo ra nguồn nhân lực có phẩm
chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tưng xứng
15
với trình độ ĐT Cao đẳng; có sức khoẻ, có năng lực thích ứng với việc làm trong xã
hội, tự tạo việc làm cho mình và cho những người khác, có khả năng hợp tác bình
đẳng trong quan hệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.3.1.2. Nguyên tắc quản lý đào tạo
Quản lý ĐT phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc quản lý giáo dục nói chung
và áp dụng các nguyên tắc đó vào quản lý ĐT ở phạm vi trong một nhà trường, các
nguyên tắc đó bao gồm:
- Nguyên tắc thống nhất quản lý về chính trị
Nguyên tắc này xuất phát từ cơ sở khách quan là giáo dục nói chung bao giờ
cũng gắn liền với mục tiêu chính trị.
Nguyên tắc đảm bảo tính chính trị đòi hỏi mọi chủ trương, chính sách giáo dục
cũng như những quy định đề ra phải phục vụ đường lối và nhiệm vụ cách mạng trong
từng giai đoạn. Nội dung, phương pháp và việc tổ chức quản lý đào tạo phải bảo đảm
những nguyên lý giáo dục và đường lối chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước.
- Nguyên tắc tập trung dân chủ
Nguyên tắc này xuất phát từ cơ sở khách quan là bản chất chính trị của Nhà
nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân.
Trong phạm vi nhà trường, nguyên tắc này đòi hỏi một mặt phải tăng cường
quản lý tập trung (Khi quyết định những vấn đề trọng yếu), thống nhất của người lãnh
đạo quản lý; mặt khác phải phát huy, mở rộng tối đa quyền chủ động của các đơn vị,
cá nhân, đảm bảo sự phù hợp của các quy định chung với các điều kiện cụ thể ở trong

các cấp có thẩm quyền theo tiêu chuẩn pháp lý, đạo đức.
+ Sự áp dụng các chế tài đối với những hành vi lệch lạc
Nguyên tắc này đòi hỏi mỗi người phải trả lời được các câu hỏi: Công việc
mình phải làm là gì? Giới hạn hành động và quyền hành của mình là gì? Phải thuộc
quyền ai?
Phân công trách nhiệm là tổ chức sự uỷ quyền, cho phép tự chủ trong hành động
và quyết định. Phân công trách nhiệm không làm giảm bớt trách nhiệm của người đứng
đầu. Phân công trách nhiệm đòi hỏi phải tổ chức sự phối hợp và kết hợp chặt chẽ.
1.3.1.3. Phương pháp quản lý đào tạo
17
Quản lý ĐT nói chung và quản lý ĐT ở trường Cao đẳng nói riêng sử dụng
hợp lý và có hiệu quả các phương pháp cơ bản như:
- Phương pháp hành chính- tổ chức
Phương pháp hành chính-tổ chức là phương pháp có tính pháp lệnh, bắt buộc
và có tính kế hoạch rõ ràng, là sự tác động trực tiếp của chủ thể quản lý đến đối tượng
quản lý bằng quyết định, chỉ thị, mệnh lệnh.
- Phương pháp giáo dục
Phương pháp giáo dục là phương pháp mà chủ thể quản lý tác động trực tiếp
hoặc gián tiếp (vào đối tượng quản lý) đến thái độ, nhận thức và hành vi nhằm tạo ra
hiệu quả hoạt động của tổ chức, của các cá nhân.
- Phương pháp tâm lý-xã hội
Phương pháp tâm lý-xã hội là cách thức tạo ra những tác động vào đối tượng
quản lý bằng các biện pháp lôgic và tâm lý xã hội, nhằm biến những yêu cầu do
người lãnh đạo, quản lý đề ra thành nhu cầu tự giác bên trong của người thực hiện.
- Phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế là cách thức tác động gián tiếp lên đối tượng quản lý
bằng cơ chế kích thích tạo ra sự quan tâm nhất định tới lợi ích vật chất để con người
tự mình điều chỉnh hành động nhằm hoàn thành nhiệm vụ, hoặc tạo ra những điều
kiện để lợi ích các nhân, tập thể phù hợp với lợi ích chung.
1.3.2. Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ

và có tác dụng tương đồng.
Trong phương thức ĐT theo tín chỉ, tự học, tự nghiên cứu của SV được coi
trọng được tính vào nội dung và thời lượng của chương trình. Đây là phương thức giúp
người học tự học, tự nghiên cứu, giảm sự nhồi nhét kiến thức của người dạy, và do vậy
phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học. Bên cạnh đó, chương trình của
phương thức ĐT theo tín chỉ rất mềm dẻo và linh hoạt. Chương trình được thiết kế theo
phương thức đào tạo tín chỉ bao gồm một hệ thống những môn học thuộc khối kiến
thức chung, những môn học thuộc khối kiến thức chuyên ngành, những môn học thuộc
khối kiến thức cận chuyên ngành. Mỗi khối kiến thức đều có số lượng những môn học
lớn hơn số lượng các môn học hay số lượng tín chỉ được yêu cầu; SV có thể tham khảo
GV hoặc cố vấn học tập để chọn những môn học phù hợp với mình, để hoàn thành
19
những yêu cầu cho một văn bằng và để phục vụ cho nghề nghiệp tương lai của mình.
Ngoài ra, trong phương thức đào tạo theo tín chỉ SV được cấp bằng khi đã tích lũy
được đầy đủ số lượng tín chỉ do nhà trường quy định, do vậy họ có thể hoàn thành
những điều kiện để được cấp bằng tùy theo khả năng và điều kiện của bản thân…
Đào tạo theo HCTC có những đặc điểm cơ bản sau:
1. Kiến thức được cấu trúc từng học phần. Quá tình học tập là sự tích lũy kiến
thức của người học theo từng học phần;
2. Đào tạo theo HCTC mềm dẻo, có tính liên thông, tức là đảm bảo kết nối các
môn học theo các phương pháp được thừa nhận, còn có phần tự chọn để sinh viên có
điều kiện tích lũy thêm tín chỉ và định hướng chuyên môn nghề nghiệp cho bản thân;
3. Sinh viên chủ động xây dựng chương trình và kế hoạch học tập theo điều
kiện cá nhân của mình;
4. Lớp học được tổ chức theo từng học phần;
5. Hệ thống tín chỉ gắn liền với việc phân chia các loại môn học theo logic
khoa học;
6. Định kỳ, nhà trường có kế hoạch xem xét lại chương trình học theo hoàn
cảnh thực tế, môn học nào cần thiết, hữu dụng thì giữ lại, môn học nào lạc hậu, không
phù hợp thì sửa đổi hoặc loại bỏ;

hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn.
+ Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính
yếu của mỗi chương trình và bắt buộc SV phải tích lũy;
+ Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần
thiết, nhưng SV được tự chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hoá hướng
chuyên môn hoặc được tự chọn tuỳ ý để tích luỹ đủ số tín chỉ qui định cho mỗi
chương trình.
- Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên:
+ Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 - 45 tiết thực hành,
thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 - 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 - 60 giờ làm tiểu luận,
bài tập lớn hoặc đồ án, khoá luận tốt nghiệp.
+ Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu
được một tín chỉ SV phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.
+ Nhà trường có quy định cụ thể số tiết, số giờ đối với từng học phần.
“Tín chỉ học tập” trong hình thức ĐT theo tín chỉ được xem là một đại lượng đo
toàn bộ thời gian bắt buộc của một SV bình thường để học một môn học cụ thể, bao
gồm thời gian lên lớp; thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc
21
khác đã được quy định ở thời khóa biểu và thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu,
giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài Đối với các môn học lí thuyết một tín chỉ là
một giờ lên lớp (với hai giờ chuẩn bị bài) trong một tuần và kéo dài trong một học kì
15 tuần; đối với các môn học ở phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1
giờ chuẩn bị); đối với các môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần. “Tín
chỉ” là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kĩ năng của một môn học mà người
học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức:
Học tập trên lớp; Học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc
khác (có sự hướng dẫn của GV); và Tự học ngoài giờ lên lớp như đọc sách, nghiên
cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài v.v. Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng lao
động của SV trong một khoảng thời gian nhất định trong những điều kiện học tập tiêu
chuẩn. Trên cơ sở đó, dạy - học theo tín chỉ được tổ chức bằng ba hình thức: lên lớp,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status