Tiểu luận Triết họcLỜI NÓI ĐẦU
Một nền kinh tế phát triển nhanh hay chậm,phát triển cân đối,bền vững hay
không ổn định nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố,trong đó yếu tố quản lí của nhà
nước có vai trò quan trọng nhất,quyết định đến sự phát triển của thị trường và
toàn bộ nền kinh tế.
Nước ta đang trong thời kì quá độ lên CNXH,nhiệm vụ hàng đầu hiện nay là
phát triển kinh tế,nâng cao đời sống nhân dân.Chúng ta đang xây dựng và hoàn
thiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.Tuy nhiên nền kinh tế thị trường
có những khuyết tật không thể khắc phục được như khủng hoảng,lạm phát thất
nghiệp…đặc biệt khủng hoảng chu kì ngày càng bị rút ngắn đã đặt ra cho nền
kinh tế những hậu quả mà nó không tự giải quyết được.Những hậu quả đó buộc
nhà nước phải can thiệp vào nền kinh tế để khắc phục những khuyết tật như ô
nhiễm môi trường,nạn thất nghiệp,những vấn đề của hàng hoá công cộng…
SV Thân Thùy Dung
Tiểu luận Triết học
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC:
1.Quan điểm về nhà nước trước Mác:
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng nhà nước tồn tại vĩnh viễn, tồn tại như thế
nào là phụ thuộc quan niệm con người.
- Theo Hêghen:
Nhà nước thể hiện sự thống nhất quyền lực sống động trên cơ sở phân hoá
hợp lý 3 quyền lực:
Quyền đại diện cho ý chí của các tầng lớp trong XH.
Quyền của các đặc thù.
Quyền của cái đơn nhất, đó là quyền của nguyên thủ quốc gia.
Nhà nước pháp quyền trước hết là một nhà nước hợp lý,chỉ có thể được
hình thành trong XH hiện đại, luật pháp được đề cao.
thuộc biên giới quốc gia ấy.
Nhà nước thiết lập một hệ thống cơ quan quyền lực chuyên nghiệp mang
tính cưỡng chế đối với mọi thành viên trong xã hội.
Nhà nước thiết lập một hệ thống thuế khoá để nuôi bộ máy nhà nước, mọi
hoạt động của nhà nước đều dựa trên nguồn thu từ thuế.
2.3. Chức năng:
Chức năng giai cấp và chức năng xã hội của nhà nước:
Nhà nước là công cụ chuyên chính của một giai cấp, bảo đảm sự thống trị
của giai cấp cầm quyền về chính trị.
Nhà nước dùng mọi phương tiện công cụ để bảo vệ và phát triển nền tảng
kinh tế mà giai cấp cầm quyền đại diện cho quan hệ sản xuất thống trị trong XH.
Nhà nước truyền bá hệ tý tưởng cùng những quan điểm về chính trị của
giai cấp cầm quyền trong XH.
Nhà nước chống lại mọi lực lượng thù địch để củng cố và tăng cường
quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền.
Nhà nước xây dựng cơ sở hạ tầng văn hoá xã hội để đáp ứng nhu cầu sản
xuất và đòi sống của các thành viên trong XH.
Chức năng đối nội và đối ngoại:
SV Thân Thùy Dung
3
Tiểu luận Triết học
Chức năng đối nội: Nhà nước thực hiện chức năng đối nội để duy trì trật
tự an KT-XH, an ninh chính trị văn hoá và trong trật tự phù hợp lợi ích giai cấp
cầm quyền.
Chức năng đối ngoại: bảo vệ lãnh thổ đất nước chủ quyền quốc gia và duy
trì quan hệ với các quốc gia khác vì lợi ích giai cấp cầm quyền, vì lợi ích quốc
gia. Trong một số trường hợp có thể mở rộng lãnh thổ.
2.4.Kiểu nhà nước:
Là phạm trù dùng để chỉ quyền lực nhà nước của giai cấp nào trên cơ sở
kinh tế nào và tương ứng hình thái xã hội nào.
nước chỉ là người được uỷ quyền .
Nhà nước do dân:
Nhà nước do dân làm chủ,nhà nước phải tin dân và dựa vào dân.
Nhân dân có quyền bầu cử, ứng cử thì cũng có quyền thực hiện chế độ bãi
miễn theo ba chế độ từ thấp đến cao.
Nhà nước do dân nghĩa là dân có trách nhiệm, nghĩa vụ đóng góp trí tuệ,
sức lực xây dựng, bảo vệ và phát triển nhà nước.
Nhân dân có quyền tham gia vào công việc quản lý nhà nước, phê bình,
kiểm tra, kiểm soát, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, các đại biểu do
mình bầu ra.
Nhà nước vì dân:
Nhà nước phục vụ nhân dân được tổ chức theo 1 mục tiêu duy nhất:không
ngừng cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân đúng với phương châm”việc gì
có lợi cho dân phải hết sức làm,việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”.
Nhà nước điều chỉnh các loại lợi ích khác nhau giữa các giai cấp ,tầng lớp
XH, các bộ phận dân cư.
Thực sự liêm khiết, trong sạch, tránh quan liêu tham nhũng, đặc quyền,
đặc lợi.
1.2.Quan niệm của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam:
SV Thân Thùy Dung
5
Tiểu luận Triết học
Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam làm cho hoạt động của nhà
nước ta mang lại hiệu quả xã hội thực sự.
Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà mọi người được tôn trọng dân chủ
được mở rộng, người dân sống và làm theo luật định.
Nhà nước pháp quyền là nhà nhà nước phải thể hiện được việc điều hành
và quản lý xã hội bằng pháp luật.
Pháp quyền là phương tiện, còn hiệu quả quản lý xã hội làm cho đất nước
trực tiếp tham gia vào cuộc chơi trong không gian của thị trường.
Cơ chế quản lý mới đã có sự phân định rõ chức năng quản lý hành chính
nhà nước về kinh tế của các bộ, ngành với chức năng quản lý sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp. Theo đó là việc giảm dần cơ chế bộ chủ quản đã
tạo cho các công ty, các doanh nghiệp quốc doanh có nhiều quyền tự quyết định
trong sản xuất kinh doanh, đồng thời phía Nhà nước đã giảm được gánh nặng
bao cấp. Đây chính là một bước hoàn thiện cơ chế quản lý vĩ mô, thiết lập sự
bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, tạo cơ sở cho sự phát triển của thị trường
trong nước.
2.2. Vai trò tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, an toàn và bình
đẳng
Môi trường kinh doanh thuận lợi, an toàn được biểu hiện thông qua nhiều
yếu tố như: hạ tầng cơ sở tốt, hệ thống pháp luật đầy đủ, ổn định, nền hành chính
rõ ràng và bộ máy công quyền trong sạch, lành mạnh... Những yếu tố trên đều do
Nhà nước (và chỉ có Nhà nước) tạo dựng nên nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài
nước phục vụ cho mục tiêu phát triển .
Môi trường kinh doanh thuận lợi còn thể hiện ở sự lành mạnh, bình đẳng
trong cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế, giữa các doanh nghiệp, các tổ
chức, cá nhân hoạt động trong một không gian kinh tế. Bởi vì, kinh tế thị trường
lấy cạnh tranh làm cơ sở, động lực thúc đẩy sự phát triển của thị trường, Nhà
nước cần tạo ra cơ chế khuyến khích cạnh tranh lành mạnh. Nhưng muốn có
cạnh tranh lành mạnh, trước hết phải hạn chế và chống độc quyền, bởi vì độc
quyền là "bản án tử hình" của cơ chế thị trường, dù đó là độc quyền nhà nước
hay độc quyền tư nhân.
Kinh nghiệm thực tiễn đã cho thấy, đối với những nền kinh tế đang trong
thời kỳ chuyển đổi như ở nước ta hiện nay, thì cạnh tranh chưa thực sự đi vào
tiềm thức trong hoạt động kinh tế, chưa trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển
của thị trường. Trong khi đó, độc quyền nhà nước vẫn đang ngự trị trên nhiều
lĩnh vực của nền kinh tế.
SV Thân Thùy Dung
III.THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY:
1. Thành tựu:
SV Thân Thùy Dung
8
Tiểu luận Triết học
1.1. Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, năm sau cao hơn năm
trước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 5 năm (2001 - 2005) tăng bình quân
7,5%/năm (đạt kế hoạch đề ra). Năm 2005, GDP theo giá hiện hành ước đạt 838
nghìn tỉ đồng, bình quân đầu người trên 10,0 triệu đồng (tương đương khoảng
640 USD).
Nông nghiệp tiếp tục phát triển khá; giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và
thủy sản tăng 5,4%/năm (kế hoạch 4,8%), giá trị tăng thêm tăng khoảng
3,8%/năm. Năng suất, sản lượng và hàm lượng công nghệ trong sản phẩm nông
nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản tăng đáng kể; an ninh lương thực quốc gia được
bảo đảm;. Trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng đã có bước tiến; độ che phủ
rừng từ 33,7% năm 2000 tăng lên 37,4% năm 2005.
Công nghiệp và xây dựng liên tục tăng trưởng cao, giá trị tăng thêm tăng
10,2%/năm. Công nghiệp có bước chuyển biến tích cực về cơ cấu sản xuất, chất
lượng sản phẩm và sức cạnh tranh. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 16%/năm
(kế hoạch 13,1%), cao hơn 1,9%/năm so với 5 năm trước
Dịch vụ có bước phát triển cả về quy mô, ngành nghề, thị trường và có
tiến bộ về hiệu quả với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Giá trị sản xuất
của các ngành dịch vụ tăng 7,6%/năm (kế hoạch 7,5%); giá trị tăng thêm tăng
gần 7%/năm (kế hoạch 6,8%). Riêng năm 2005, giá trị tăng thêm tăng 8,5%, cao
hơn mức tăng GDP.
Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ tăng khoảng 15%/năm (kế hoạch
11 - 12%). Ngành du lịch phát triển khá, cả về lượng khách, loại hình và sản
phẩm du lịch. Dịch vụ vận tải tăng nhanh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu.
Bưu chính - viễn thông phát triển nhanh theo hướng hiện đại, đến cuối năm 2005
nhiều lĩnh vực, chiếm 45,7% GDP, đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế -
xã hội, nhất là giải quyết việc làm và cải thiện đời sống nhân dân; trong đó, kinh
tế hợp tác và hợp tác xã phát triển khá đa dạng (đóng góp khoảng 6,8% GDP).
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, chiếm
15,9% GDP, là cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao
thương quốc tế.
1.3 Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá nhanh
Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá nhanh, vượt mức dự kiến trên 30% so với
kế hoạch, (gấp 2 lần so với 5 năm trước). Vốn đầu tư của dân tăng nhanh; tỉ lệ
vốn đầu tư phát triển so với GDP tăng từ 35,4% năm 2001 lên gần 39% năm
2005. Vốn đầu tư trong nước chiếm 72% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
SV Thân Thùy Dung
10
Tiểu luận Triết học
Đầu tư đã tập trung hơn cho những mục tiêu quan trọng. Lĩnh vực kinh tế
chiếm 70% tổng vốn đầu tư toàn xã hội (nông, lâm nghiệp và thủy sản trên 13%,
công nghiệp và xây dựng trên 44%, giao thông, bưu điện trên 12%); lĩnh vực xã
hội chiếm gần 27% (nhà ở, cấp thoát nước, công trình công cộng khác gần 14%,
giáo dục, đào tạo gần 4%, y tế - xã hội trên 2%, văn hoá, thể thao gần 2%, khoa
học và công nghệ trên 1%). Quy mô vốn đầu tư ở các vùng đều tăng; vùng
nghèo, xã nghèo được Nhà nước quan tâm đầu tư nhiều hơn.
Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đã tập trung cho việc xây dựng kết cấu
hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển nguồn nhân lực, xoá đói, giảm nghèo, hỗ trợ
các vùng khó khăn (đầu tư cho nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 22,2%; giao
thông vận tải, bưu điện 27%; giáo dục, đào tạo 8,9%; y tế - xã hội 6,9%; văn hóa,
thể thao 4,3%; khoa học và công nghệ 3,1%). Vốn đầu tư của doanh nghiệp tăng
nhanh, không chỉ phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ mà
còn tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng đô thị. Vốn hỗ trợ phát
triển chính thức (ODA), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục được duy
trì và tăng thêm, tạo nhiều công trình kết cấu hạ tầng và sản phẩm xuất khẩu.