Sáng kiến kinh nghiệm
A. PHần mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
Đọc là một hoạt động ngôn ngữ làm cho con ngời mở rộng khả năng tiếp nhận
thông tin và thông báo thông tin. Ngời không biết đọc chỉ có thể tiếp nhận thông
tin bằng nghe, thông báo thông tin chủ yếu bằng nói . Kỹ năng đọc là một trong
ba kỹ năng chính đối với học sinh Tiểu học, kỹ năng này vừa thể hiện vốn hiểu
biết ngôn ngữ, vừa thể hiện trình độ sử dụng ngôn ngữ của học sinh, cho nên từ
trớc đến nay kỹ năng đó vẫn đợc xem là một trong những tiêu chuẩn đánh giá
chất lợng học tập của học sinh Tiểu học.
Môn tiếng việt ở Trờng Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động
ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực đó đơc thể hiện trong bốn hoạt động tơng ứng
với chúng là bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Đọc là một phân môn của chơng
trình Tiếng việt. Đây là một phân môn có vị trí đăc biệt trong chơng trình, vì nó
đảm nhiệm hình thành và phát triển cho học sinh kỹ năng đọc, một kỹ năng quan
trọng hàng đầu của học sinh ở bậc Tiểu học.
Biết đọc con ngời đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần. Từ đây họ biết tìm
hiểu đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội t duy. Biết
đọc con ngời sẽ có khả năng chế ngự một phơng tiện văn hoá cơ bản, giúp cho họ
giao tiếp đợc với thế giới bên trong của ngời khác, thông hiểu t tởng, tình cảm
của ngời khác. Đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn chơng , con ngời không chỉ
thức tỉnh về mặt nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những mơ ớc tốt
đẹp, đợc khơi dậy năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng nh đợc bồi dỡng
tâm hồn. Không biết đọc con ngời sẽ không có điều kiện hởng thụ sự giáo dục
mà xã hội dành cho họ, không thể hình thành một nhân cách toàn diện.
Trong khi đó: ở trờng Tiểu học, việc dạy đọc bên cạch những thành công còn
nhiều hạn chế. Học sinh của chúng ta cha đọc đợc nh mong muốn. Kết quả đọc
của các em cha đáp ứng đơc yêu cầu của viêc hình thành kỹ năng đọc. Các em
cha nắm đợc công cụ hữu hiệu lĩnh hội tri thức t tởng, tình cảm của ngời khác
chứa đựng trong văn bản đợc đọc, Giáo viên Tiểu học cũng còn lúng
1
mức độ đọc giải mã chữ - âm một cách sơ bộ.
Trong mức độ này đợc hình thành bằng nhiều nấc khác nhau và tuân thủ
nguyên tắc từ đơn giản đến phức tạp. Cụ thể nh:
Đọc tiếng từ, cụm từ , đọc câu, đọc đoạn, đọc bài.
Một trong những vai trò quyết định đến chất lợng đọc của học sinh đó là việc
học sinh đợc thực hành đọc nhiều hay ít, mặt khác giáo viên cũng giữ vai trò
quyết định.
Vì vậy giáo viên phải có kỹ năng đọc tốt, phải làm chủ đợc nội dung bài
dạy. Làm chủ đợc các phơng pháp - thủ pháp dạy tập đọc ở bậc tiểu học đồng
thời biết chữa lỗi phát âm sai cho học sinh có biện pháp luyện cho học sinh đọc
to, đọc nhanh, đọc đúng tốc độ đọc diễn cảm (đọc hay), phải biết cách tổ chức
hoạt động để tạo ra hứng thú trong học tập. Đó là cơ sở để hình thành nhu cầu tự
đọc cho học sinh.
II. Cơ sở thực tiễn:
Để điều tra thực tế về trình độ hiện nay của học sinh khối 5 trờng tiểu học
Thống Nhất. Tôi đã đa vào 3 bài tập ở 3 thể loại khác nhau thể loại thơ, thể loại
văn miêu tả, thể loại hội thoại kể chuyện:
Bài 1: Hạt gạo làng ta. (tiếng việt 5 tập 1)
Bài 2: Quang cảnh làng mạc ngày mùa ( Tiếng việt 5 tập 1- trang 6)
Bài 3: Ngời công dân số 1. (Tiếng việt 5 tập 2- trang 5)
Qua thực tế kiểm tra tôi thấy học sinh còn tồn tại một số lỗi sau.
- Phát âm sai: học sinh phát âm sai một số tiếng có dấu hỏi, dấu ngã, tiếng có
vần u điểm đọc là yêu điểm hoặc ngôn ngữ đọc là ngôn ngử.
- Do phát âm sai vì tiếng địa phơng.
- Tốc độ, cờng độ đọc, ngắt nhịp.
-Một bộ phận học sinh đọc cha đúng tốc độ (60 đến 70 tiếng trong một phút)
hoặc có một số em đọc quá nhanh (Do đã thuộc lòng bài thơ) cách ngắt cha hợp
lý: Ngắt nghĩ câu dài trong đoạn văn, ngắt nhịp dòng thơ .
3
Sáng kiến kinh nghiệm
câu các em cha nắm vững về quan hệ giữa nghĩa - ngữ pháp, cũng nh nội dung
của bài đọc.
- Ví dụ:
4
Sáng kiến kinh nghiệm
Sau dấu phẩy nghỉ vừa phải.
Sau dấu chấm nghỉ lâu hơn dấu phẩy.
Sau dấu chấm lửng nghỉ lâu hơn dấu chấm.
Đọc câu hỏi phải ấm giọng, dứt khoát của ngời hỏi.
Đối với câu thể hiện tình cảm, phải đọc với giọng nhẹ nhàng.
Đối với những câu cầu khiến (Yêu cầu ngời khác làm theo ý mình thì đọc cao
giọng và nhanh.
2.Lỗi sai về giọng đọc: Đối với những em đọc đúng, đọc nhanh nhng các em vẫn
cha thể hiện đợc giọng đọc, giọng đọc còn đều đều cha thể hiện rõ giọng đọc của
ngời dẫn truyện với giọng đọc của các nhân vật khi đọc thơ cha thể hiện đợc các
nhịp thơ. Đó là các em biết luyện đọc diễn cảm theo từng bài, tức là các em cha
thực sự hiểu bài để thả tâm hồn của mình vào bài đọc.
III. Các biện pháp tổ chức thực hiện.
- Nắm đợc những nguyên nhân và những phần còn yếu của học sinh, tìm tòi ra
một số hớng khắc phục sau:
+ Phân loại học sinh cùng mắc lỗi sai giống nhau.
+ Lựa chọn các biện pháp thích hợp để uốn nắn, sửa sai cho từng em với từng
lỗi cụ thể:
+ Hình thành cho học sinh ý thức tự học, tự đọc.
Khắc phục về phát âm.
- Đối với nhóm học sinh đọc còn ê - a, ngắc ngứ thì trớc khi đọc giáo viên chỉ rõ
cho các em t thế ngồi đọc, cách lấy hơi, cụ thể nh t thế ngồi đọc phải thoải mái,
cổ thẳng, mắt cách xa sách khoảng 30 - 3cm, hít thở sâu, thở ra chậm để lấy hơi,
ngoài ra giáo viên phải phối hợp với gia đình để bổ sung kịp thời sách giáo khoa
cho học sinh đồng thời tạo điều kiện để các em đợc thực hành đọc nhiều hơn.
chú ý để sửa, đồng thời phải tăng cờng cho các em luyện tập trong thời gian dài
để xoá bỏ thói que cho các em phát âm sai tiếng này.
Khắc phục lỗi sai về tốc độ đọc. Cờng độ độ và ngắt nhịp.
- Lỗi sai về tốc độ đọc:
- Đối với nhóm học sinh đã phát âm đúng nhng đọc còn chậm thì phải luyện
cho các em đọc nhanh tức là đọc rõ ràng, trôi chảy bằng cách đọc mẫu của giáo
viên, khi tiến hành cho học sinh đọc thì giáo viên phải là ngời cầm nhịp để điều
chỉnh tốc độ của các em.
VD: Học sinh đọc chậm thì giáo viên phải nhắc các em đọc nhanh hơn chút
nữa .
- Học sinh đọc nhanh thì giáo viên phải nhắc các em đọc chậm vừa tốc độ
Ngoài ra khi tiến hành cho học sinh đọc giáo viên phải chỉ rõ tốc độ đọc cho
từng đoạn, từng bài.
VD: Khi dạy bài tập đọc miêu tả về tính cách mạnh mẽ của nhân vật, cần đọc
với tốc độ nhanh nh câu văn sau.
"Lão thích nhà văn Đức hơn lời chào của ngời Đức chăng?"
6
Sáng kiến kinh nghiệm
"Sao ngài lại nói thế?" (Tác phẩm của Si-Le và tên phát xít -Tiếng Việt 5 tập 1
- trang 58)
Chỉ luyện đọc cho học sinh đọc đúng tốc độ khi đã nghe thầy cô và các bạn
đọc mẫu.
Khắc phục lỗi sai về cờng độ đọc.
+ Đối với học sinh cần uốn nắn về cờng đọ đọc thì trớc tiên giáo viên phải
luyện cho các em phải đọc to không phải là gào lên. Từ đó xác định cho các em
cờng độ đọc cho từng câu, từng bài cụ thể .
VD: Những câu văn miêu tả thì phải đọc với cờng độ thấp lắng giọng, nh đoạn
văn sau;
" tiếng rao đều đều, khàn khàn, kéo dài trong đêm khuya tĩnh mạch, nghe
buồn não ruột"
So sánh hai cách đọc trong bài thơ để học sinh hiểu tác dụng của việc đọc
cách ngắt nhịp đúng. Khi dạy các bài này giáo viện cho học sinh xác định những
câu phải đọc vắt dòng và đánh dấu vào trong sách để luyện đọc.
* Khôi phục lỗi sai về giọng đọc.
Để luyện giọng cho học sinh thì trớc tiên giáo viên cần luyện cho các em
cách các loại câu nh.
+ Đối với câu hỏi khi đọc phải có giọng dứt khoát của ngời hỏi.
+ Đối với câu thể hiện tình cảm, khi đọc phải đọc giọng nhẹ nhàng.
+ Đối với những câu cần ngời khác làm theo ý mình (câu cầu khiến) đọc
cao giọng và nhanh.
Sau khi học sinh đã biết đọc các loại câu, giáo viên mới luyện cho các em
kết hợp cả cao độ và cờng độ để thể hiện giọng đọc của các nhân vật của ngời
dẫn truyện .
Ví dụ: Khi đọc bài: Thái s Trần Thủ Độ .
- Cho học sinh thấy: Để đọc bài cần thể hiện 4 giọng đọc.
+ Giọng đọc ngời dẫn truyện
+ Giọng đọc thái s Trần Thủ Độ
+ Giọng đọc của ngời Quân hiệu.
+ Giọng đọc của linh từ Quốc mẫu.
Từ đó định hớng để các em tìm ra cách đọc cho từng giọng: chẳng hạn:
- Giọng đọc của ngời dẫn truyện đọc với cờng độ cao bình thờng.
- Giọng đọc của Thái s dứt khoát sảng khoái
- Giọng đọc của ngời Quân hiệu sợ sệt.
- Giáo viên đọc mẫu cho học sinh nghe đồng thời tổ chức cho học sinh đọc
phân vai để học sinh thấy rõ sự khác biệt về giọng của các nhân vật, từ đó
cách biết lựa chọn và thể hiện giọng đọc của bài.
8
Sáng kiến kinh nghiệm
C. Kết luận.
1. Kết quả nghiên cứu:
9
Sáng kiến kinh nghiệm
Mặc dù có nhiều cố gắng song sáng kiến này của tôi không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Xin chân thành cãm ơn sự góp ý của hội đồng khoa học để sáng
kiến của tôi đợc hoàn thiện hơn.
3. Kiến nghị đề xuất:
Để nâng cao tay nghề vừa hồng vừa chuyên cho bản thân, cũng nh nâng cao
chất lợng dạy học tôi xin đề xuất kiến nghị với nhà trờng và Lãnh đạo Phòng giáo
dục nh sau:
- Nhà trờng nên mở các buổi hội thảo để giáo viên đợc trao đổi ý kiến rút ra
kinh nghiệm trong giảng dạy.
- Phòng giáo dục nên mở các lớp học chuyên đề bồi dỡng cho giáo viên.
Thống Nhất, ngày 27 tháng 2 năm 2008
Ngời viết
Lê Thị Nhung
10