MAI XUÂN THẢO
MSSV: DPN010748
XÁC ĐỊNH TỈ LỆ TIÊU HÓA CỦA CÂY MAI DƯƠNG (Mimosa
pigra L.) TRONG KHẨU PHẦN CỦA DÊ THỊT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Nguyễn Thị Thu Hồng
Tháng 6. 2005
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
XÁC ĐỊNH TỈ LỆ TIÊU HÓA CỦA CÂY MAI DƯƠNG
(Mimosa pigra L.) TRONG KHẨU PHẦN
CỦA DÊ THỊT
Do sinh viên: MAI XUÂN THẢO thực hiện và đệ nạp
Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xét duyệt
Long xuyên, ngày 01 tháng 6 năm 2005
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
(ký tên)
Nguyễn Thị Thu Hồng
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn đính kèm với
tên đề tài: XÁC ĐỊNH TỈ LỆ TIÊU HÓA CỦA CÂY MAI DƯƠNG (Mimosa
pigra L.) TRONG KHẨU PHẦN CỦA DÊ THỊT.
Do sinh viên: MAI XUÂN THẢO
Thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng ngày: 22/06/2005
Luận văn đã được Hội đồng đánh giá ở mức:…………………………………
Ý kiến của Hội đồng:………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
Long xuyên, ngày 22 tháng 6 năm 2005
nhiệm lớp ĐH
2
PN
2
đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập.
Xin cảm ơn các bạn sinh viên Nguyễn Văn Thuận, Trần Thị Thể (Đại
học Cần Thơ), Lữ Thị Kim Dung, Nguyễn Thị Khánh Ly, Nguyễn Bá Lộc,
Lê Bá Phúc, Trần Thanh Hùng, Nguyễn Minh Trí đã hỗ trợ, động viên tôi
trong thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành Luận văn Tốt nghiệp.
Cuối cùng xin gửi lòng biết ơn vô hạn đến gia đình tôi, đặc biệt là
cha và mẹ kính yêu của tôi, đã nuôi nấng, giúp đỡ và khích lệ tôi trong suốt
thời gian học tập.
i
TÓM LƯỢC
Đề tài này được thực hiện nhằm xác định khả năng sử dụng cây mai
dương (Mimosa pigra L.) để nuôi dê thịt. Thí nghiệm được thực hiện trên dê
giống Bách thảo lai (Bach thao x dê địa phương) và tiến hành tại trại thực
nghiệm, khoa Nông Nghiệp - Tài Nguyên Thiên Nhiên, trường Đại học An
Giang, từ ngày 01/09/2004 đến ngày 30/04/2005.
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hình vuông Latin (4x4), mỗi cá
thể dê là một đơn vị thí nghiệm. Thí nghiệm gồm 4 giai đoạn, mỗi giai đoạn
15 ngày, 10 ngày đầu để thú thích nghi với thức ăn và 5 ngày kế tiếp thu thập
mẫu. Bốn khẩu phần thực nghiệm là 0% Mimosa + 100% Brachiaria
(BR100), 15% Mimosa + 85% Brachiaria (MI15-BR85),30% Mimosa + 70%
Brachiaria (MI30-BR70) và 45% Mimosa + 55% Brachiaria (MI45-BR55).
Kết quả đề tài cho thấy
cây mai dương có thành phần đạm thô (CP) tương đối cao là
20,69%, các thành phần dinh dưỡng khác lần lượt là Vật chất khô (DM)
36,04%, Vật chất hữu cơ (OM) 92,82%; tính trên vật chất khô. Tỉ lệ tiêu hóa
biểu kiến dưỡng chất của các khẩu phần thí nghiệm ở mức khá; tỉ lệ tiêu hóa
2.1.7.1. Tác dụng bất lợi 7
2.1.7.2. Tác dụng có lợi 8
2.2. Sử dụng cây họ đậu làm thức ăn cho gia súc nhai lại 8
2.3. Một số đặc điểm của cỏ lông para (Brachiaria multica) 12
2.3.1. Nguồn gốc 12
2.3.2. Đặc điểm thực vật học 12
2.3.3. Đặc điểm sinh thái học 13
2.3.4. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng 13
2.4. Một số đặc điểm sinh học về loài dê 14
2.4.1. Đặc điểm về sinh trưởng và phát triển của dê 14
2.4.2. Sự tiêu hóa của dê 14
2.4.2.1. Hệ số tiêu hóa thức ăn của dê 14
2.4.2.2. Lượng thức ăn ăn được 15
iii
Nội Dung Trang
2.4.3. Tập tính ăn của dê 15
2.4.4. Nhu cầu dinh dưỡng của dê 16
2.4.4.1. Nhu cầu vật chất khô 16
2.4.4.2. Nhu cầu năng lượng của dê 16
2.4.4.3. Nhu cầu protein của dê 17
2.4.4.4. Nhu cầu nước uống của dê 18
Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 19
3.1. Phương tiện 19
3.1.1. Địa điểm và thời gian thí nghiệm 19
3.1.2. Vật liệu thí nghiệm 19
3.1.3. Đối tượng thí nghiệm 19
3.2. Phương pháp 19
3.2.1. Thể thức thống kê 20
3.2.2. Phương pháp tiến hành 20
3.2.2.1. Thí nghiệm 1 20
Nội Dung Trang
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 35
5.1. Kết luận 35
5.2. Đề nghị 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
PHỤ CHƯƠNG pc-1
DANH SÁCH BẢNG
Bảng
số
Tựa bảng Trang
2.1 Ảnh hưởng của việc bổ sung lá keo tai tượng vào khẩu phần
cỏ para đến tăng trọng của cừu 9
2.2 Thành phần dinh dưỡng của cỏ lông para 13
2.3 Trọng lượng của dê lai (Bách Thảo x Cỏ) qua các tháng tuổi (kg) 14
2.4 Nhu cầu tổng số năng lượng (MJ/ngày) của dê 17
2.5 Nhu cầu protein tiêu hóa của dê (g/con/ngày) 18
3.1 Bố trí nghiệm thức cho các giai đoạn của thí nghiệm 1 20
4.1 Trọng lượng thân và lá của Mai dương khảo sát 23
4.2 Thành phần hoá học của Mimosa pigra và Brachiaria mutica 24
4.3 Lượng thức ăn ăn vào của các dê ở các khẩu phần thí nghiệm 26
4.4 Tỉ lệ tiêu hóa biểu kiến dưỡng chất và mức tăng trọng bình
quân của các dê ở các khẩu phần thí nghiệm 29
4.5 Lượng thức ăn ăn vào và tỉ lệ tiêu hoá dưỡng chất của các dê
sử dụng khẩu phần 100% mai dương 33
DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
Biểu
đồ số
Tựa biểu đồ Trang
4.1 Quan hệ giữa trọng lượng thân và trọng lượng lá của Mai dương
ở môi trường nước 23
DC: Dưỡng chất
DM (Dry matter): Vật chất khô
MD: Mai dương
NDF (Neutral detergent fibre): Xơ trung tính
OM (Organic matter): Chất hữu cơ
TA: Thức ăn
TLTH: Tỉ lệ tiêu hóa
vi
VCK: Vật chất khô
vii
Chương 1 GIỚI THIỆU
Cây Mai dương là một loài cây bụi, mọc dày đặc và rất nhiều gai
cứng, được xem là một trong các loài sinh vật ngoại lai xâm hại ở nhiều quốc
gia trên thế giới và Việt Nam. Hiện nay, tại Vườn Quốc gia Tràm Chim
(Đồng Tháp), Vườn Quốc gia Cát Tiên, đồng bằng sông Cửu Long, vùng
Đông Nam Bộ…, cây Mai dương mọc tràn lan, khó kiểm soát và tiêu diệt
(IUCN, 2003). Theo số liệu của Phòng Nghiên cứu Khoa học và Môi trường
thuộc Khu Bảo tồn Tràm Chim, những năm 1984-1985, Khu Bảo tồn Tràm
Chim (nay là Vườn Quốc gia Tràm Chim) chỉ có vài bụi Mai dương xuất
hiện. Năm 1999, diện tích bị Mai dương xâm lấn khoảng 150 ha. Đến năm
2000, loại cây này đã lây lan và chiếm một diện tích gần 1000 ha. Vào đầu
năm 2004, con số này đã là 1500 ha. Với tốc độ lan nhanh như vậy, theo các
chuyên gia dự đoán chỉ đến cuối năm 2005, cây Mai dương sẽ chiếm diện
tích không dưới 2000 ha (chỉ tính trong vùng lõi) tại Vườn Quốc gia Tràm
Chim này (Cửu Long, 2004).
Tại An Giang, theo báo cáo của Chi cục Bảo vệ Thực vật tỉnh An
Giang, tính đến ngày 20/11/2003, diện tích bị xâm nhiễm Mai dương tại An
Giang là 362,72 ha. Trong đó, xâm nhiễm trên đất lâm nghiệp là 6,5 ha, đất
nông nghiệp: 57,56 ha, trên đất không ngập nước (bờ kinh, ven lộ) là 305,21
dê thịt có sử dụng cây mai dương.
2
Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1. Một số đặc điểm thực vật và phân bố địa lý của cây Mai
dương (Mimosa pigra L.)
2.1.1. Mô tả
Cây Mai dương còn có các tên khác là: Cây Ngưu ma vương, cây Mắc
cỡ Mỹ, cây Trinh nữ nhọn, móng mèo…, tên khoa học là Mimosa pigra L.,
thuộc họ Mimosaceae, chi Mimosa, có 400 - 450 loài, hầu hết có nguồn gốc từ
Trung và Nam Mỹ. Cây Mai dương được Linnaeus mô tả là một loài riêng lần
đầu tiên vào năm 1759 (Lonsdale, 1992).
a b
c
d
Hình 2.1. Mai dương (a) thân, (b) lá, (c) hoa và (d) trái và hạt
3
Mai dương là một loài cây bụi thường mọc ở nơi đất trống, ẩm ướt ở
vùng nhiệt đới, có thể cao đến 6 m. Thân phân nhiều nhánh, trên thân và cành
có nhiều gai nhọn, gai dài khoảng 7 mm với đáy to. Lá có 2 lần kép lông
chim. Cuống dài 0,3-1,5 cm. Sóng lá chét dài 3,5-12 cm, có gai thẳng đứng,
mảnh, mũi nhọn hướng lên trên, ở giữa gốc của 6-14 cặp lá chét và thỉnh
thoảng có gai mọc chệch hoặc mọc giữa các cặp lá. Mỗi lá chét có khoảng
20-42 cặp lá chét con, thuôn, dài 3-8 mm, rộng 0,5-1,25 mm; gân lá gần song
song với gân giữa, mép lá có lông tơ. Các lá thường co lại khi bị tác động
nhưng thường chậm hơn so với các loài cây mắc cỡ khác. Hoa màu hồng,
phát hoa hình đầu, đường kính khoảng 1 cm. Mỗi phát hoa có khoảng 100
hoa. Mỗi nách lá có 1-2 phát hoa. Đài nhỏ, xẻ không đều, dài 0,75-1 mm.
Tràng dài 2,25-3 mm, 8 tiểu nhị. Chụm trái trung bình khoảng 7 trái. Trái
màu nâu, dài 3-8 cm, rộng 0,9-1,4 cm, trên trái có nhiều lông và có từ 14-26
Phần lớn quần thể cây Mai dương nằm tiềm ẩn trong đất dưới dạng hạt. Chiều
cao cây tăng trưởng cực đại là 1,33 cm/ngày ở cây mầm và 1,1 cm/ngày ở cây
hơn một năm tuổi. Lá kép ở nhiều loài cây thuộc chi Mimosa nhạy cảm với các
loại kích thích khác nhau như điện, cơ học, hóa chất, nhiệt độ, vết cắt và ánh
sáng. Loại này cũng có đặc tính khép lá ban đêm (Lonsdale, 1992).
Mùa mưa là mùa sinh trưởng chủ yếu của cây. Thời kỳ ra hoa chính
là từ giữa đến cuối mùa mưa, nhưng hoa vẫn tiếp tục trổ khi nào môi trường
còn đủ nước cung cấp cho cây. Từ búp nụ nở thành hoa trong khoảng 7-9
ngày, và thành trái trưởng thành cần thêm 25 ngày hoặc hơn. Hạt đầu tiên
rụng một tháng trước mùa mưa, hạt rụng nhiều nhất vào cuối mùa mưa, đầu
mùa khô. Không tìm thấy nấm ở Mai dương, chỉ có một ít chủng Rhizobium.
Tuy nhiên, những nốt sần có kích thước nhỏ và ít nên chúng không phải là
nguồn nitrogen đáng kể cho cây (Lonsdale, 1992).
2.1.5. Sinh sản
Cây con phát triển rất nhanh và ra hoa vào khoảng 4-12 tháng sau khi
nẩy mầm. Cây tạo trái sau khi ra hoa gần 5 tuần và trái chín khoảng sau 3
tháng (Department of the Environment and Heritage and the CRC for
Australian Weed Management, 2003). Ở xứ bản địa, cây Mai dương là loài
thụ phấn nhờ ong. Cây tự thụ phấn khi không có vật truyền hạt phấn, đôi khi
5
thụ phấn nhờ gió. Trong môi trường ẩm ướt, cây cũng có hiện tượng thai
sinh. Mỗi năm cây tạo trung bình 9000 hạt/cây. Ở nơi khô hơn cây tạo ít trái
hơn. Cây mọc gần hồ có nhiều trái hơn cây mọc ở đồng lũ. Mỗi đốt trái có
lông nên trôi nổi trong nước, do đó hạt phát tán nhanh chóng theo hệ thống
sông ngòi (Lonsdale, 1992).
Hạt của Mai dương cứng nên nước thoát dần ra khỏi hạt tươi có lẽ
qua rốn hạt. Hạt nẩy mầm không cần trải qua miên trạng, cũng không nhạy
cảm với ánh sáng. Hạt sống hơn 5 năm trong phòng thí nghiệm. Hạt có thể
tồn tại ít nhất 23 năm trong đất cát. Nhiệt độ cao cũng không ảnh hưởng đến
sức sống của hạt, hơn nữa dao động của nhiệt độ còn làm vỡ vỏ hạt và làm
Anseranas semipalmata. Cây Mai dương cạnh tranh với đồng cỏ, cản trở việc
đến gần; vì thế, nó trở thành mối đe dọa cho ngành chăn nuôi, nhất là chăn
nuôi bò. Nó cũng giới hạn dòng chảy sông ngòi, làm ảnh hưởng đến ngư dân,
giao thông thủy và ngành du lịch của vùng. Vùng đất ngập nước và công
nghiệp du lịch của vườn quốc gia Kakadu ở miền Bắc nước Úc trước đây đã
bị cây Mai dương đe dọa nghiêm trọng. Ở Thái Lan, Mai dương là loài cỏ dại
gây nhiều tác hại, nhất là đối với hệ thống tiêu nước. Nó cũng hạn chế việc
đến gần các con đường. Chi phí lớn nhất là chi phí kiểm soát cây Mai dương
bằng thuốc diệt cỏ vì nó làm tích tụ trầm tích trong lòng hồ chứa nước và hệ
thống tiêu nước. Ngoài ra, nó còn xâm lấn các ruộng lúa làm cho chi phí phục
hồi đất cao, khoảng 75% chi phí làm đất chỉ để kiểm soát cây Mai dương.
Mimosine, một acid amin độc đối với động vật bậc cao đã được trích ly từ
cây Mai dương ở nồng độ 0,2% trọng lượng khô của lá (Lonsdale, 1992).
Ở Việt Nam, sự xâm lấn của cây Mai dương đã ảnh hưởng rất lớn
đến hệ sinh thái, kinh tế-xã hội của Vườn Quốc Gia Tràm Chim. Mai dương
mọc thành những đám rộng, rậm rạp, lấn át dần các bãi Cỏ năn (Eleocharis
spp.), đây là bãi ăn, bãi nghỉ của Sếu đầu đỏ (Grus antigone sharpii), một loài
chim quý hiếm của Việt Nam và thế giới. Sếu đầu đỏ là một trong những đối
tượng thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Những nơi mà cây Mai
dương mọc dày đặc với độ che phủ 100% thì không loài cây nào có thể mọc
7
dưới gốc của nó trừ hai loại dây leo là Hắc sửu (Merremia hederacea) và rau
kìm (Aniseia martinicensis). Sự xâm lấn của Mai dương còn có khả năng ảnh
hưởng gián tiếp đến công tác phát triển du lịch, làm giảm nguồn thu của
Vườn (Nguyễn Văn Đúng, Trần Triết và cộng sự, 2001).
2.1.7.2. Tác dụng có lợi
Ở Úc, tại một số vùng Mai dương mọc nhiều, nó làm tăng sự màu mỡ
đất, tăng mức carbon hữu cơ và nitơ tổng số trong đất. Năm 1947, Mai dương
được nhập từ Indonesia vào Thái Lan để làm phân xanh và bao phủ đất trồng
cây thuốc lá, và sau đó được sử dụng để chống xói mòn. Cây Mai dương còn
1
.
Ở Costa Rica, dê sữa được nuôi bằng khẩu phần cơ sở là cỏ Vua
(Pennisetum purpureum) được bổ sung thêm bằng hỗn hợp quả chuối xanh và
số lượng gia tăng lá cây họ đậu Erythrina poeppigiana. Tổng số vật chất khô
ăn vào và sản lượng sữa đã tăng tuyến tính với lượng cây họ đậu bổ sung. Chỉ
có một sự thay đổi tối thiểu cỏ Vua (Pennisetum purpureum) trong khẩu phần
(khả năng ăn vào giảm từ 690g còn 600g vật chất khô/ngày). Trong nghiên cứu
ở Colombia, chồi lá cây keo tai tượng (Gliricidia sepium), đã được sử dụng
như thức ăn bổ sung cho bò thịt sau cai sữa trên khẩu phần cơ bản là cỏ Vua
(Pennisetum purpureum) cắt tươi trong mùa khô. Tốc độ tăng trọng có điểm
uốn tương quan với việc tăng lá cây họ đậu. Hàm lượng cây họ đậu tối thích
trong khẩu phần là khoảng 30%. Kết quả tương tự cũng đã được ghi nhận trên
dê lùn Tây Phi ở Nigeria được nuôi bằng hỗn hợp cỏ Ghine (Panicum
maximun) và cây keo tai tượng (Gliricidia sepium) (Preston và Leng, 1987).
Bổ sung lá keo tai tượng vào khẩu phần cơ bản là cỏ lông para
(Brachiaria mutica) cắt tươi của cừu sinh trưởng đã thấy có sự tương quan rõ
rệt giữa tăng trọng và tốc độ mọc lông khi cây họ đậu được phối hợp đến
28% của khẩu phần.
Bảng 2.1. Ảnh hưởng của việc bổ sung lá keo tai tượng vào khẩu phần cỏ
para đến tăng trọng của cừu
Chỉ tiêu theo dõi
% lá keo tai tượng trong khẩu phần (theo VCK)
0 28 50 65
Tăng trọng (g/ngày) 25 43 44 39
VCK ăn vào (g/ngày) 530 610 690 690
Tiêu tốn thức ăn (kg/kg) 21 14 16 18
Thịt xẻ (kg) 10 12 12 12
1
Trích dẫn từ Preston và Leng, 1987.
hóa thyrosine (Dương Thanh Liêm, 2003).
Theo tài liệu của Hamphreys (1988)
2
thì liều gây ngộ độc của
mimosine (gam mimosine ăn vào hàng ngày/kg thể trọng) cho bò là 0,18; cho
cừu: 0,14; cho dê: 0,18; cho thỏ: 0,23 và cho gà đẻ trứng: 0,21.
2
Trích dẫn từ Dương Thanh Liêm, 2003.
10
Hình 2.2. Sơ đồ chuyển hoá Mimosine trong dạ cỏ (Theo D’Mello, 1991)
3
Trong dạ cỏ thú nhai lại, chất mimosine dưới tác động của enzym
biến đổi thành chất 3,4-DHP. Trong lá bình linh cũng có loại enzym này, do
đó sau khi thu hoạch, hàm lượng 3,4-DHP cũng tăng lên dần. Chất DHP tiếp
tục thoái biến, liên kết dưới dạng conjugat thải ra theo phân, mặt khác nó bị
phá hủy vòng nhân thơm để trở thành yếu tố không độc thải ra ngoài. Theo
tác giả D’Mello (1991)
3
thì có đến 57% lượng mimosine mà dê ăn bị phá hủy
theo con đường này, vì vậy mà mimosine ít gây ngộ độc cho loài thú này.
Mai dương thuộc bộ đậu (Leguminosae) (IUCN, 2003), có hàm lượng
protein cao và một số nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng nó
làm thức ăn cho động vật. Hàm lượng protein của mai dương khoảng 20-23%
(Vearasilp và cộng sự, 1981a,b)
4
. Theo Vearasilp và cộng sự (1981a)
4
thì mai
dương không chứa mimosine, nhưng mimosine được trích ly từ cây mai dương ở
tỉnh Sóc Trăng (2004) một con dê có thể ăn hết bình quân 100-200
cây/con/ngày (cây non, cao trung bình).
2.3. Một số đặc điểm của cỏ lông para (Brachiaria mutica)
2.3.1. Nguồn gốc
Cỏ lông para có nguồn gốc ở Nam Mỹ (Brasil), châu Phi và có
nhiều ở các nước nhiệt đới, được đưa vào Australia năm 1880 và vào nước
ta ở Nam Bộ từ 1875 và Trung Bộ 1930 rồi sau đó ra Bắc Bộ (Nguyễn
Thiện, 2002).
2.3.2. Đặc điểm thực vật học
Cỏ lông para là loài cỏ lâu năm, nhiều rễ. Thân dài 0,6-2 m, phân
nhánh, mềm, bò trên mặt đất, mọc rễ và đâm chồi ở các đốt, sau đó vươn
12
thẳng lên cao có thể tới 2 m, đốt có lông mềm trắng. Lá hình mũi mác dài,
nhọn đầu, gần hình tim ở gốc, dài 10-20 cm, rộng 1,0-1,5cm, phẳng, có ít
lông ở mặt dưới; mép lá sắc; bẹ lá dẹt, khía rãnh, có lông trắng mềm; lưỡi
bẹ ngắn, có nhiều lông. Cụm hoa hình chùy, dài 8-20 cm, thẳng đứng, gồm
8-20 bông đơn hay kép ở gốc, dài 5-10 cm (Nguyễn Đăng Khôi và Dương
Hữu Thời, 1981).
2.3.3. Đặc điểm sinh thái học
Cỏ lông para ưa thích khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ tối thiểu để cỏ có thể
sống được là 8
o
C, nếu lạnh hơn thì nó có thể chết lụi dần (Nguyễn Đăng Khôi
và Dương Hữu Thời, 1981), nhiệt độ sinh trưởng trung bình thích hợp là
21
o
C. Nó có thể sinh trưởng ở những vùng cao tới 1000 m so với mực nước
biển. Thích hợp với những vùng có lượng mưa cao nhưng có thể tồn tại ở
những nơi có lượng mưa thấp khoảng 500 mm/năm. Phát triển mạnh ở chỗ
đất bùn lầy, chịu được ngập nước (tới 60 cm), nên xuất hiện nhanh ở các bờ
3
1,8 46,5
Khô, 35 ngày
(Venezuela)
- 10,9 30,5 8,7 1,8 48,1
Khô, 45 ngày
(Venezuela)
- 12,0 27,3
10,
7
2,9 47,1
13