Lịch sử nghiên cứu giải phẫu hình thái thực vật
Trong lịch sử phát triển của thực vật học thì giải phẫu
hình thái được phát triển
tương đối sớm. Hơn 2300 năm trước đây,
Theophrastus (371- 286 TCN) lần đầu
tiên đã đề cập đến các dẫn liệu về hình thái và cấu tạo
của cơ thể thực vật trong các
tác phẩm “Lịch sử thực vật”, “Nghiên cứu về cây cỏ”.
Ông đã chia các phần của cây
ra rễ, thân, lá, hoa, quả. Đồng thời những kiến thức
về giải phẫu cũng lần đầu tiên
được đề cập đến sự tạo thành vòng hàng năm của gỗ
và libe. Nhiều kiến thức về sự
phân biệt trong cơ quan dinh dưỡng và cơ quan sinh
sản cũng được trình bày trong
tác phẩm của Theophrastus.
Giải phẫu thực vật với phương pháp nghiên cứu của
nó có liên quan chặt chẽ
với những thành tựu của kính hiển vi. Năm 1660, nhờ
R. Hook phát minh ra kính
hiển vi, nên vào năm 1672 Grew đã sáng lập môn
Giải phẫu thực vật và cùng
Malpighi xuất bản quyển “Giải phẫu thực vật”. J.P.de
Tournefort đã dựa vào đặc
3
điểm của tràng hoa, chia thành 3 nhóm thực vật: cánh
rời, cánh liền và không cánh.
Trong khi John Jay đã dựa vào cấu tạo của phôi, đặt
cách phân chia thực vật một lá
mầm và hai lá mầm.
Lineaus đã đưa ra khái niệm về biến thái hình thái khi
thực vật. Cách phân loại mô
của ông còn mang tính nhân tạo nhưng cũng đánh
dấu một bước tiến bộ trong việc
nghiên cứu cấu trúc của cơ thể thực vật.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, việc nghiên cứu về
tế bào đã được phát triển
mạnh mẽ, Tchiliacov đã phát hiện ra sự phân chia
gián tiếp của tế bào và sau đó
Gherasimov tìm được vai trò của nhân tế bào. Năm
1898, Navasin phát hiện ra quá
trình thụ tinh kép ở thực vật hạt kín.
Nhờ sự phát minh ra kính hiển vi điện tử, người ta đã
nghiên cứu được cấu
trúc siêu hiển vi của tế bào và đã tách việc nghiên
cứu về tế bào thành một môn
khoa học mới là tế bào học .
Vào nửa sau của thế kỷ XX, việc nghiên cứu về giải
phẫu hình thái thực vật
càng được đẩy mạnh và các kết quả nghiên cứu đã
được tập hợp trong một số sách