chuyên đề dạy học bằng thí nghiệm hóa học - Pdf 14

CHUYÊN ĐỀ DẠY HỌC BẰNG THÍ NGHIỆM HÓA HỌC
I.Đặt vấn đề :
Hiện nay vấn đề sử dụng đồ dùng dạy học trong quá trình giảng dạy là tối cần thiết
đối với tất cả các bộ môn . Trong phạm vi bộ môn hoá học , riêng bản thân và tất cả
các đồng nghiệp cũng thấy được sự cần thiết của đồ dùng dạy học nhất là các dụng
cụ và hoá chất để thực hiện các tiết dạy học đạt chất lượng cao vì hoá học là bộ môn
khoa học thực nghiệm .
II.Tính khoa học
1.Thực trạng của vấn đề
 Học hóa là môn học rất khó, khi học sinh phải tưởng tượng ,nhớ lại,giải
thích được những hiện tượng hoá học .
 Hiện nay vấn đề chất lượng học sinh đã được quan tâm đặc biệt ,do đó vấn
đề dùng thí nghiệm để giảng dạy là phương pháp nâng chất lượng 1 cách nhanh
nhất .
 Ở một số trường chưa có đủ cơ sở vật để tiến hành giảng dạy bằng phương
pháp này thì đó là 1 thiệt thòi lớn cho học sinh và cũng là 1 mất mác cho giáo viên vì
đã bỏ lở dịp để truyền thụ kiến thức tốt nhất cho học sinh
 Tỉ lệ học sinh yếu trung bình còn cao .
2. Biện pháp và quá trình tổ chức tiến hành
* Biện pháp : Những yêu cầu sư phạm và biện pháp kỉ thuật :
a.Thí nghiệm phải an toàn : An toàn là yêu cầu đầu tiên cơ bản của mọi thí
nghiệm hóa học . Phải an toàn cho giáo viên và học sinh . Giáo viên phải chiụ hoàn
toàn trách nhiệm trước nhân dân và pháp luật về mọi sự không mai có ảnh hưởng đến
sức khoẻ và tính mạng của học sinh và của chính mình . Để đảm bảo an toàn giáo
viên phải :
_Nắm vững kĩ thuật thí nghiệm ( trật tự động tác , liều lượng , hóa chất
….)
_Tuân thủ nghiêm ngặt chỉ dẫn của thí nghiệm ( Phải hiểu được vì sao
phải làm như thế này mà không làm như thế kia ).
_Phải trao dồi khả năng thí nghiệm : Sau khi nắm vững kĩ thuật , làm
đúng hứơng dẩn thì phải làm nhiều lần cho quen ,cho thành thạo. Luôn cẩn thận bình

nhiều ( thường không quá 5’). Khi lắp ráp dụng cụ thí nghiệm phải làm sao có bộ
dụng cụ vừa đẹp mắt vừa đơn giản mà tiện lợi cho việc quan sát của học sinh .đảm
bảo được an toàn trong khi tiến hành thí nghiệm . Nội dung thí nghiệm phải vừa sức
học sinh .Muốn vậy giáo viên phải thường xuyên có ý thức thường xuyên có ý thứ cải
tiến dụng cụ thí nghiệm sao cho đơn giản , mĩ thuật mà tiện lợi . Chọn thí nghiệm vừa
sức học sinh và có dấu hiệu dể nhận biết . Những thí nghiệm phức tạp tốn nhiều thời
gian có thể biểu diển ở buổi thí nghiệm thực hành hoặc vào giờ ngoại khoá
f.Số lượng thí nghiệm phải vừa phải : Trong 1 tiết không nên biểu diễn quá
3 thí nghiệm , tất nhiên có những tiết có 4 thí nghiệm . Do đó biểu diễn thí nghiệm
cần phải chọn : Nên chọn thí nghiệm phục vụ cho trọng tâm bài. Thể hiện tính chất
đặc trưng của đối tượng nghiên cứu ,nếu có nhiều thí nghiệm cùng 1 loại thì chọn thí
nghiệm nào đặc trưng , đại diện cho thể loại đó .Tuyệt đối tránh thí nghiệm biểu diễn
tuỳ tiện , tuỳ hứng , gây lạ mắt lừa phỉnh học sinh , tránh biểu diễn thí nghiệm cùng
loại bởi vì như vậy sẽ làm loãng sự chú ý của học sinh lảng phí thời gian .
i.Phải biết kết hợp chặt chẻ thí nghiệm biểu diễn với trình bày bài giảng .
Đây là yêu cầu khó trong thực tế giảng dạy hoá học không ít giáo viên chưa đáp ứng
được yêu cầu này.Như đã trình bày ở trước thí nghiệm biểu diễn là cơ sở xây dựng
bài học về chất cụ thể vì vậy người ta dùng nó làm nguồn kiến thức chính minh hoạ
cho lời nói của giáo viên . Vì vậy khi kết hợp thí nghiệm với trình bày bài giảng 1
cách hợp lí mới nâng cao được chất lượng giờ học . Để kết hợp tốt thí nghiệm biểu
diễn với trình bày bài giảng thì trứơc khi biểu diễn giáo viên phải nói rõ mục đích thí
nghiệm , tác dụng của từng dụng cụ để chuẩn bị cho học sinh quan sát , định hướng
cho học quan sát những gì . Trong khi biểu diễn phải luyện tập cho học sinh quan sát
các hiện tượng xãy ra để họ nhận biết được các hiện tượng xãy ra và đó là cơ sở để họ
giải thích được hiện tượng và rút ra những kết luận khoa học của vấn đề nghiên cứu.
*Quá trình tổ chức tiến hành :
A. Sau đây là một bài dạy thao giảng cấp trường đạt loại giỏi có sử dụng thí
nghệm hoá học với sự có mặt của đa số giáo viên trong tổ hoá- địa trường trung
học cơ sở Tân Châu.
Tên bài dạy : “ Tính chất hoá học của muối”

2
vào dd H
2
SO
4
cho NaCl vào dd H
2
SO
4
3. Muối tác
dụng với
muối
Nhỏ từng giọt dd BaCl
2
vào
ống nghiệm đựng dd Na
2
SO
4
Nhỏ từng giọt dd CuCl
2
vào
ống nghiệm đựng dd Na
2
SO
4
4. Muối tác
dụng với
kiềm
Nhỏ từng giọt dd CuSO

2
SO
4
muối Nhỏ từng giọt dd CuCl
2
vo ống
nghiệm đựng dd Na
2
SO
4
4. Muối tc
dụng với
kiềm
Nhỏ từng giọt dd CuSO
4
vo
ống nghiệm đựng dd NaOH.
Nhỏ từng giọt dd NaCl vo ống
nghiệm đựng dd KOH.
5. Nhiệt phn
muối
Y/cầu HS nhắc lại kiến thức đ/c
oxi bằng KClO
3
, sản xuất Vơi
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY&TRÒ NỘI DUNG GHI BẢNG
GV: Tổ chức cho hs tiến hành thí
nghiệm nghiên cứu TCHH của muối.
Thảo luận trong 2’ mổi ý
+Tổ 1 làm thí nghiệm

SO
4
 BaSO
4
 + 2HCl
Barisunfat
CaCO
3
+ 2HClCaCl
2
+ CO
2
 + H
2
O
canxiclorua
NaCl+H
2
SO
4
 không phản ứng
Kết luận :(SGK)
3. Muối tác dụng với muối:
BaCl
2
+ Na
2
SO
4
 BaSO

….
t
0
CaCO
3
 CaO + CO
2

t
0
canxioxit
2KClO
3
 2KCl + 3O
2

MnO
2
kaliclorua
Hoạt động 4: ( 10 phút )
II/ PHẢN ỨNG TRAO ĐỔI TRONG DUNG DỊCH:
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY&TRÒ NỘI DUNG GHI BẢNG
GV: yêu cầu HS nhận xét các PTPƯ
axit, muối bazơ và đặt câu hỏi.
Các phản ứng hoá học trên có đặc
điểm nào chung ?
HS: Giữa các chất phản ứng có sự trao
đổi các thành phần cấu tạo nên phân
tử.
GV: Từ nhận xét của HS trả lời:

Nhận xét
Dẫn
axêtilen
qua ống
thuỷ tinh
đầu vuốt
nhọn
Axêtilen
cháy trong
không khí
với ngọn
lửa sáng toả
ra nhiều
nhiệt
2C
2
H
2
+ 5O
2
 4CO
2
+2H
2
O Axêtilen cháy sinh ra
CO
2
và H
2
O

SO
4
loã
ng vào
ống
nghiệm
đựng Fe

chất
sủibọt
khí
H2SO4(loãng) + Fe Fe SO
4
+ H
2

Dd r dd khí
Dd H
2
SO
4
loãng tác
dụng vớiFe
tạo thành
muối và hidrô
Nhỏ từ từ
dd H
2
SO
4

bột trắng
CaO ,
P
2
O
5
vào
nước
Cả 2
đều tan
CaO + H
2
O  Ca(OH)
2
P
2
O
5
+ 3 H
2
O  2 H
3
PO
4
Cả 2 đều tan
Nhúng quì
tím vào 2
dd sản
phẩm
Hoá

của hội phụ huynh học sinh .
_ Bản thân luôn luôn có tinh thần tự học , tự rèn luyện , có tinh thần học hỏi
đồng nghiệp , có phương pháp hướng dẫn học sinh học tập , yêu mến bộ môn hóa .
_ Các em học sinh có rất nhiều cố gắng trong học tập , kết hợp chặt chẻ với
giáo viên bộ môn để xây dựng bài học.
_ Nhà trường có tương đối đầy đủ các dụng cụ hóa chất cần thiết để thực hành
thí nghiệm .
_ Bản thân có cố gắng trong việc tìm các hóa chất cần thiết ngoài thị trường
khi phòng thí nghiệm thiếu , tìm hiểu các tài liệu hướng dẩn thực hành thí nghiệm để
càng ngày có kiến thức rộng hơn về thí nghiệm .
b. Tồn tại
_ Còn 1 số ít học sinh không ở chung với cha mẹ do nhiều lý do , không được
sự nhắc nhở thường xuyên nên còn lơ là trong học tập nên có kết quả học tập không
cao.
_ Số tiết hóa trên lớp quá ít , không có tiết phụ đạo nên kết quả học tập chưa
cao .
III. Tính thực tế
1.Tác dụng của sáng kiến kinh nghiệm
* Đối với học sinh :
a.Thí nghiệm biểu diễn bồi dưỡng hứng thú học tập : Trong bài học nếu nội
dung bài có những nội dung có thể làm thí nghiệm được thì chúng ta cần cố gắng sưu
tầm hay tự làm dụng cụ để thực hành thí nghiệm . Học sinh sẽ rất hứng thú học tập
khi có thí nghiệm kèm theo . Họ không chỉ được nghe mà còn được thấy một cách cụ
thể . Tính trực giác của thí nghiệm đã bồi dưỡng hứng học tập của học sinh .
b.Nâng cao lòng tin vào khoa học :Song song với niềm hứng thú trong học
tập khi có thí nghiệm biểu diển của giáo viên , học sinh tin tửơng vào những điều thầy
nói vì có thí nghiệm chứng minh lời nói . Tin vào thầy có nghĩa là tin vào khoa học ,
không cógì tạo lập niền tin cho người nghe bằng việc làm cụ thể phù hợp với lời nói .
Người ta nói: “ Trăm nghe không bằng mắt thấy”. Thầy nói nhiều nói hay nhưng
không có chứng minh bằng thực tế thì học sinh vẫn có những hoài nghi .

3.Những bài học kinh nghiệm
_ Khi giảng dạy phải sọan giáo án thật cẩn thận .
_ Chuẩn bị các thứ theo giáo án thật đầy đủ .
_ Thử trước các hóa chất.
_Học sinh phải xem trước bài mới .
_ Học kỹ bài cũ .
_Giáo viên phải từng ngày rèn luyện kỷ năng thực hành thí nghiệm cho học sinh
.
_ Phải khen thưởng và nhắc nhở đúng lúc ,đúng nơi .
IV. Kết luận
_ Hóa học là môn khoa học thực nghiệm , do đó thí nghiệm có vai trò rất quan
trọng trong việc giảng dạy .
_ Thí nghiệm hóa học là phương tiện quan trọng trong quá trình nhận thức hoá học
ủa học sinh .
_ Trong giảng dạy giáo viên dùng thí nghiệm làm nguồn kiến thức để hình thành ,
phát triển khái niệm hóa học , nghiên cứu bản chất của các quá trình hóa học để
chứng minh cho các giả thuyết khoa học được nêu ra .
* Trên là những cơ sở lý luận khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm : “ Dạy học hóa
học bằng thí nghiệm hóa học”.
Trên đây là những ý kiến của bản thân có sự góp ý của bạn đồng nghiệp . Tất cả đều
thấy rằng nếu ứng dụng phương pháp này trong quá trình giảng dạy thì việc nâng cao
chất lượng bộ môn là việc có thể thực hiện tốt.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status