TRUNG TÂM HỌC LIỆU HÓA HỌC TRỰC TUYẾN
CHỌN LỌC-ĐẦY ĐỦ-CHẤT LƯỢNG
─
“Học Hóa bằng sự đam mê”
Thầy LƯU HUỲNH VẠN LONG
(Giảng viên Trường ĐH Thủ Dầu Một – Bình Dương)
TUYỂN CHỌN VÀ GIỚI THIỆU
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐẠT GIẢI CÁC CẤP MÔN
HÓA HỌC THPT
KHÔNG tức giận vì muốn biết thì KHÔNG gợi mở cho
KHÔNG bực vì KHÔNG hiểu rõ được thì KHÔNG bày vẽ cho
Khổng Tử
TĂNG CƯỜNG HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HÓA CỦA HỌC SINH THPT
BẰNG THÍ NGHIỆM HÓA HỌC VUI
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhận thức rõ vai trò của giáo dục trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất
nước nhằm tạo ra nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu hội nhập với thế giới và với
khu vực nên giáo dục và vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở phổ thông đã được
các cấp lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương hết sức quan tâm. Đặc biệt sau khi
có chỉ thị 15/1999/CT BGD – ĐT; trong báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần thứ IX
(2001); trong Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội và chỉ thị 14/2001/CT –
TTg của Thủ tướng chính phủ. Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ X
(2006) có “Giáo dục cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu”. Như
3.1. ĐỐI TƯỢNG:
Quá trình dạy học môn hóa học trường THPT.
Các phương pháp dạy học tích cực, phương pháp tích hợp môi trường, kĩ
năng vận dụng kiến thức trong học tập và liên hệ thực tiễn của bộ môn hóa học.
3.2. PHẠM VI:
Các bài dạy trong chương trình hóa học THPT
IV. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu vận dụng tốt hệ thống các thí nghiệm hóa học vui vào bài giảng trong
chương trình hóa THPT sẽ làm tăng ý nghĩa thực tiễn của môn học, làm cho các bài
học trở nên hấp dẫn và lôi cuốn học sinh hơn. Đồng thời góp phần năng cao năng
lực nhận thức, tự học, tích cực chủ động học tập của học sinh. Điều đó làm tăng
hứng thú học tập mang lại kết quả học tập bộ môn cao hơn.
V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cơ sở lí luận việc đổi mới chương trình giáo dục môn hóa,
phương pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, tích hợp
Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa, sách giáo viên hóa học THPT. Mục
tiêu chương trình, để xây dựng hệ thống một số thí nghiệm hóa học phát huy tính
tích cực, chủ động tư duy cho học sinh nhằm tăng hứng thú, say mê học tập bộ
môn.
Thực nghiệm dạy học bộ môn hóa THPT
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu luật giáo dục về đổi mới chương trình, phương pháp dạy học,..
2
Các tài liệu về lí luận dạy học, phương pháp dạy học tích cực bộ môn hóa.
Nghiên cứu thực trạng dạy học hóa trường
Liệt kê các thí nghiệm hóa học vui, hóa học thực tiễn áp dụng cho một số bài
dạy cụ thể ở chương trình hóa THPT
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi phối hợp sử dụng chủ yếu các phương pháp
tinh thần với đối tượng mà con người hứng thú tham gia vào.
Harlette Buhler thì coi hứng thú là một hiện tượng phức hợp cho đến nay vẫn
chưa được xác định, hứng thú là một từ, không những chỉ toàn bộ những hành động
khác nhau mà còn thể hiện cấu trúc bao gồm các nhu cầu.
K.Strong và W.James cho rằng hứng thú là một trường hợp riêng của thiên
hướng biểu hiện trong xu thế hoạt động của con người như là một nét của tính cách.
A.G.Côvaliốp coi hứng thú là sự định hướng của cá nhân, vào một đối tượng
nhất định, tác giả đã đưa ra một khái niệm được xem là khá hoàn chỉnh về hứng thú
“Hứng thú là một thái độ đặc thù của cá nhân đối với đối tượng nào đó, do ý nghĩa
của nó trong cuộc sống và sự hấp dẫn về mặt tình cảm của nó” .
b. Theo các nhà tâm lý học, giáo dục học Việt Nam
4
Các tác giả: Phạm Minh Hạc – Lê Khanh – Trần Trọng Thủy cho rằng: Khi ta
có hứng thú về một cái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức, ta hiểu ý nghĩa
của nó đối với cuộc sống của ta. Hơn nữa ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối
với nó, do đó hứng thú lôi cuốn hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó tạo ra
tâm lý khát khao tiếp cận đi sâu vào nó .
Có nhiều quan niệm khác nhau về hứng thú, tuy nhiên có thể coi quan niệm của
GS.TS. Nguyễn Quang Uẩn là bao hàm nhất: "Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá
nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả
năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động".
Khái niệm này vừa nêu được bản chất cửa hứng thú, vừa gắn hứng thú với
hoạt động của cá nhân. Hứng thú là một thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối
tượng, thể hiện ở sự chú ý tới đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đối tượng sự
thích thú được thỏa mãn với đối tượng.
1.1.1.2. Cấu trúc của hứng thú
Tiến sĩ tâm lý học N.G.Marôzôva đã dựa vào 3 biểu hiện để đưa ra quan niệm
tựu của nền văn minh trong thời đại đó.
c. Hứng thú phụ thuộc vào đặc điểm của đối tượng và phẩm chất nhân
cách
Nghĩa là sự liên hệ qua lại giữa chủ thể và khách thể, mức độ tương ứng giữa
yêu cầu của đối tượng với yêu cầu của chủ thể. Mối quan hệ này có ý nghĩa quan
trọng trong việc hình thành những hứng thú ở từng người, từng lứa tuổi. Ví dụ, nếu
đối tượng gây cảm xúc cho học sinh tiểu học chủ yếu là những sự vật, hình ảnh…
cụ thể, thì hứng thú của học sinh THPT đa dạng và rộng hơn. Học sinh THPT có
thể hứng thú với khoa học kỹ thuật, thể thao, chính trị - xã hội. Hứng thú sẽ luôn
bền vững và phong phú nếu nó thường xuyên thức tỉnh sự chú ý và ý nghĩa của mỗi
cá nhân và ngược lại tính hay thay đổi hứng thú sẽ nói lên phong cách sống chưa
được xác định của một người nào đó.
1.1.1.4. Sự hình thành hứng thú
Sự hình thành hứng thú có thể diễn ra theo 2 con đường: tự phát và tự giác.
6
Có thể bắt đầu từ sự hấp dẫn của đối tượng làm nảy sinh thái độ cảm xúc tích
cực của chủ thể. Do những cảm xúc này mà chủ thể đi sâu nhận thức đối tượng,
hiểu rõ đối tượng mà hình thành hứng thú.
Ngược lại, có thể bắt đầu từ việc hiểu rõ tầm quan trọng của đối tượng mà đi
sâu nhận thức đối tượng đó, và càng hiểu rõ đối tượng càng cảm thấy hứng thú.
Theo nhận xét của A.G. Côvaliôp “Hứng thú có thể được hình thành một cách tự
phát vì không có ý thức, do sự vật hấp dẫn về tình cảm, sau đó mới dẫn đến nhận
thức của đối tượng đó. Quá trình hình thành hứng thú có thể theo hướng ngược lại.
Từ chỗ có ý thức về ý nghĩa của đối tượng dẫn đến chỗ bị đối tượng hấp dẫn”.
Trong hứng thú luôn có sự kết hợp giữa nhận thức, xúc cảm để dẫn đến tính tích
cực của hành vi là quá trình vận động và phát triển của hứng thú.
1.1.1.5. Các loại hứng thú
làm chủ đối tượng và hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực đó.
1.1.1.6. Động cơ và vai trò của nó trong việc hình thành hứng thú học tập của
học sinh
* Thế nào là động cơ học tập và làm thế nào để hình thành động cơ học tập?
Động cơ học tập là cái thúc đẩy hoạt động học, vì nó mà HS thực hiện hoạt
động học. Động cơ học tập của HS được hiện thân ở đối tượng của hoạt động học,
tức là những tri thức, kỹ năng, thái độ mà giáo dục sẽ đưa lại cho họ.
Động cơ học tập không có sẵn, cũng không thể áp đặt, mà phải được hình thành
dần dần trong quá trình HS dưới sự tổ chức cho HS tự phát hiện ra vấn đề và giải
quyết các vấn đề, hình thành ở HS nhu cầu học tập, nhu cầu nhận thức, nhu cầu
chiếm lĩnh đối tượng học.
* Động cơ và hứng thú học tập của học sinh.
Cũng như các loại hoạt động khác, hoạt động học tập của HS cũng phải có động
cơ, người ta gọi đó là động cơ học tập. Không có động cơ học tập, HS sẽ học theo
kiểu chiếu lệ, ép buộc. Có động cơ học tập các em ngày càng yêu thích môn học,
say mê và hứng thú đối với việc học hơn và do đó sẽ có kết quả cao hơn trong học
tập. Thực tiễn chứng tỏ HS sẽ có hứng thú học tập nếu thầy giáo biết tổ chức cho
các em phát hiện ra những điều mới lạ, luôn tạo ra cho các em sự ngạc nhiên, bất
ngờ trong quá trình học tập. Làm sao để sau mỗi lần đến lớp các em cảm thấy nhận
8
thức của mình được mở mang hơn và hiểu biết nhiều hơn. Chính những điều đó
thôi thúc các em tích cực, say mê học tập và các em ngày càng giác ngộ hơn ý
nghĩa của việc học.
Do vậy, có thể khẳng định việc hình thành động cơ, hứng thú học tập cho học
sinh có một ý nghĩa rất quan trọng không thể thiếu trong quá trình dạy học. Có
hứng thú học tập thì tư duy học sinh luôn ở trạng thái hưng phấn, đó là điều kiện tốt
để các em bộc lộ quan niệm, kích thích hoạt động và phát triển năng lực tư duy,
năng lực nhận thức của HS.
1.1.2.3. Hứng thú và vấn đề tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
Để tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS thì hứng thú được các thầy giáo
quan tâm nhất, vì:
1. Hứng thú có quan hệ rất chặt chẽ đến tinh thần học tập. Khi học sinh đã
hứng thú vấn đề nào đó thì các em tích cực học tập ngay, điều đó xảy ra như một
phản ứng dây chuyền một cách tự nhiên và trực tiếp mà không cần một thao tác
trung gian nào khác.
2. Hứng thú là một yếu tố có tính biện chứng rất cao, có thể hình thành ở HS
một cách nhanh chóng bất cứ lúc nào trong quá trình dạy học.
3. Điều quan trọng hơn cả là nó nằm trong tay của người thầy. Người thầy có
thể điều khiển hứng thú của HS qua các yếu tố của quá trình dạy học: nội dung,
phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức qua các bước lên lớp: mở bài, giảng
bài mới, củng cố, vận dụng, kiểm tra kiến thức, qua mối quan hệ thầy, trò v.v…,
nghĩa là qua hoạt động hàng ngày của họ.
Để kích thích hứng thú học tập cần chú ý những vấn đề gì?
Hứng thú là sự phản ánh thái độ (mối quan hệ) của chủ thể đối với thế giới
khách quan. Như vậy hứng thú không phải mà một quá trình khép kín mà phải có
nguồn gốc từ cuộc sống tự nhiên và xã hội xung quanh. Nếu điều kiện thay đổi thì
hứng thú có thể thay đổi. Điều đó có nghĩa là có thể điều khiển được hứng thú,
khác với quan niệm cho rằng hứng thú là một cái gì bẩm sinh, bất biến.
Điều mà thầy giáo phải thực hiện thường xuyên là kích thích hứng thú trong
quá
trình dạy học thông qua: nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ
10
chức…Hiện nay việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS chủ yếu tập trung
vào hướng này.
+ Mong muốn được thầy cô gọi trả lời câu hỏi, thường nêu thắc mắc nhờ thầy
cô giải đáp.
+ Thích thú với nhiều hình thức học tập: nghe giảng lý thuyết, làm thí nghiệm
ứng dụng kiến thức vào thực tiễn…
+ Thực hiện đầy đủ, có chất lượng nhiệm vụ học tập ở nhà.
+ Đọc thêm các sách tham khảo về hóa học, tìm hiểu các hiện tượng hóa học
trong tự nhiên, tìm cách giải thích dựa vào kiến thức đã học.
+ Cảm thấy giờ học trôi nhanh, sảng khoái với giờ học, không muốn nghỉ buổi
học có môn Hóa học.
+ Thích thú làm các thí nghiệm hóa học, hăng hái tham gia các buổi sinh hoạt
tìm hiểu về hóa học, câu lạc bộ Hóa học…
Những biểu hiện của hứng thú học tập của mỗi HS về môn Hóa học ở mỗi lớp,
mỗi lứa tuổi là khác nhau. Tuy nhiên nếu chịu khó quan sát ta có thể nhận biết
được, bởi các em thường bộc lộ cảm xúc, tình cảm ra bên ngoài rất dễ nhận biết.
1.1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn Hóa học
a. Nhóm các yếu tố chủ quan
+ Trình độ nhận thức của HS là yếu tố ảnh hưởng mạnh đến hứng thú học tập
môn Hóa học. Trình độ nhận thức là cơ sở cần thiết để phát triển hứng thú học tập,
đồng thời là điều kiện quan trọng để bồi dưỡng hứng thú học tập, và chỉ khi có tri
thức ban đầu về đối tượng, những kỹ năng, kỹ xảo đơn giản và những thao tác trí
tuệ nhất định, cá nhân mới có thể nhận thức đối tượng, rồi hứng thú với đối tượng.
Vấn đề nhận thức quá khó hoặc quá dễ đều không làm cho chủ thể hứng thú.
Khi trình độ và năng lực nhận thức của HS thấp thì hầu hết các môn học đối với
học sinh đều quá khó, khó hiểu nên không thể có hứng thú trong học tập. Ngược lại
nếu trình độ và năng lực nhận thức của HS đã phát triển cao mà các em chỉ được
học những cái đã biết thì cũng không tạo ra được hứng thú.
+ Động cơ và thái độ học tập của HS: Động cơ quan hệ mật thiết với hứng thú
học tập. Cả động cơ hoàn thiện tri thức và hứng thú học tập đều hướng vào việc
12
13
+ Bầu không khí của lớp học cũng là yếu tố khách quan tác động đến hứng thú
học tập. Việc tạo ra không khí lớp học thoải mái, cởi mở sẽ ảnh hưởng thuận lợi
đến hứng thú học tập của HS.
Trong các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hứng thú học tập của HS thì yếu tố
người thầy giữ vai trò quan trọng nhất.
1.1.3.4. Đặc điểm cơ bản của lứa tuổi học sinh THPT với việc tiếp thu môn Hóa
học
Mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng biệt, với lứa tuổi từ 15 đến 18 tuổi là
giai đoạn đầu tuổi thanh niên (thanh niên học sinh). Nội dung và tính chất của hoạt
động học tập khác rất nhiều so với hoạt động học tập của thiếu niên, hoạt động học
tập và độc lập ở mức cao hơn nhiều, kinh nghiệm sống các em phong phú hơn, các
em ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời. Do vậy, thái độ
có ý thức của các em đối với học tập ngày càng phát triển .
- Thái độ đối với các môn học trở nên có lựa chọn hơn. Ở các em hình thành
hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp. Các em đã xác định cho
mình một hứng thú ổn định về một số môn học nào đó và thường liên quan đến việc
chọn nghề của HS, nên nhiều em rất tích cực học một số môn mà các em chọn thi
đại học, mặt khác các em lại sao nhãng các môn học khác. Hơn nữa, hứng thú nhận
thức của thanh niên sâu và bền vững hơn thiếu niên.
- Các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng
tạo, tư duy của các em chặt chẽ, có căn cứ và nhất quán hơn. Những đặc điểm đó
tạo điều kiện cho HS thực hiện các thao tác tư duy phức tạp, phân tích nội dung cơ
bản của khái niệm trừu tượng và nắm được mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên.
Các em có khả năng tự làm thí nghiệm, tự tạo ra các thí nghiệm đơn giản, sử dụng
được các phương tiện kỹ thuật hiện đại. Do vậy, các em thuận lợi hơn trong việc
tiếp thu các kiến thức về Hóa học và vận dụng vào thực tiễn.
1.2. THỰC TRẠNG VỀ HỨNG THÚ HỌC TẬP HÓA HỌC CỦA HỌC SINH
50,1
Không thích
6
8,0
Biểu đồ 2.1. Biểu thị hứng thú của HS đối với giờ học Hóa học
60
50.1
50
40
32.1
30
20
10
9.1
8
0
Rất thích
Thích
27.7
Tự làm thí nghiệm
Xem thầy giáo trình bày
qua máy chiếu
6.1
3.7
Làm bài kiểm tra
15.2
Thi đố vui giữa các nhóm
3.3
Lựa chọn khác
0
5
10
15
3.92
0
Phát biểu nhiều
Có phát biểu
nhưng không
nhiều
Không phát biểu
Nguyên nhân gây nên hiện tượng này khá phức tạp, bắt nguồn từ tâm lý
chung của học sinh (sợ bị chê cười khi phát biểu sai, chưa tự tin vào năng lực của
mình, chưa hiểu rõ tác dụng của việc phát biểu xây dựng bài), do cá nhân chưa
chuẩn bị bài kỹ, đến phương pháp giảng dạy của giáo viên chưa gây hứng thú tới
học sinh…
1.3. VAI TRÒ CỦA THÍ NGHIỆM VUI HÓA HỌC TRONG DẠY HỌC
MÔN HÓA HỌC
Đối với bộ môn Hóa học: các khái niệm, định luật, hiện tượng, bản chất hóa
học nhiều khi rất trìu tượng, khó hiểu, khô cứng làm HS khó tiếp thu, dễ nhàm
chán, đặc biệt các HS có tư duy không tốt sẽ có xu hướng sợ bộ môn Hóa học.
Để nâng cao hứng thú học tập bộ môn hóa của học sinh ở trường phổ thông hiện
nay, người giáo viên ngoài các phương pháp dạy học tích cực cần khai thác thêm
các hiện tượng hóa học thực tiễn trong đời sống, các thí nghiệm vui hóa học đưa
vào bài giảng nhằm phát huy tính tích cực, tạo niềm vui, hứng thú trong học tập bộ
môn.
1.3.1. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh lập mối liên hệ giữa nội dung bài
học và thực tiễn.
Học sinh thấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài hơn nếu trong quá trình dạy và học,
chú ý tìm tòi, chủ động tư duy để tìm hiểu và dễ nhớ hơn. Do đó mỗi bài học giáo
viên đưa ra những ứng dụng thực tiễn, những thí nghiệm vui sẽ lôi cuốn sự chú ý
của học sinh.
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG THÍ NGHIỆM VUI HÓA HỌC TRONG DẠY
HỌC MÔN HÓA HỌC Ở CHƯƠNG TRÌNH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG.
18
Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, hầu hết kiến thức hóa học đều được
rút ra từ quan sát thí nghiệm, trong dạy học hóa học ở trường phổ thông TN luôn
giữ một vai trò hết sức quan trọng .
Trước hết TN hóa học góp phần tạo trực quan sinh động, nhằm hổ trợ cho tư
duy trừu tượng của HS, giúp cho HS tư duy trên những hiện tượng cụ thể, xảy ra
trước mắt họ. Nhờ TN góp phần làm đơn giản hoá hiện tượng, làm nổi bậc những
khía cạnh cần nghiên cứu. Tức là nhờ TN mà các quá trình tự nhiên được tái hiện
lại trước mắt HS ở dạng rõ ràng nhất. Nhờ đó, HS dễ dàng nhận ra những tính chất
đặc trưng của các hiện tượng, quá trình và mối quan hệ giữa các tính chất đó.
Sử dụng thí nghiệm hoá học trong dạy học hoá học được coi là tích cực khi thí
nghiệm hoá học được dùng làm nguồn kiến thức để học sinh khai thác, tìm tòi kiến
thức hoặc dùng để kiểm chứng, kiểm tra những dự đoán, suy luận lý thuyết, hình
thành khái niệm. Các thí nghiệm trong giờ học chủ yếu do học sinh thực hiện nhằm
nghiên cứu kiến thức, kiểm tra dự đoán.
Thí nghiệm hóa học là một trong những PPDH hóa học ở trường phổ thông,
giúp cho HS tự chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, đặc biệt rèn luyện cho các
em kỹ năng, kỹ xảo thực hành. Ngoài ra, TN còn giúp cho việc dạy học hóa học
không còn xa vời với thực tiễn.
Phương pháp sử dụng TN để kích thích hứng thú trong dạy học hóa học
TN hóa học được sử dụng ở nhiều giai đoạn khác nhau trong quá trình học.
Chẳng hạn, TN được tiến hành nhằm đề xuất vấn đề, nghiên cứu tài liệu mới hoặc
củng cố bài. TN có thể do GV tiến hành hay HS tiến hành dưới sự chỉ dẫn của GV.
dụng cụ: cốc thủy tinh, giấy lọc, ống hút
hóa chất: Ca(OH)2
Cách làm:
Lấy một ít vôi cho vào trong cốc thuỷ tinh, thêm nước lạnh, khuấy trộn, để lắng rồi
gạn lấy phần dung dịch trong, không màu vào một chiếc cốc. Sau đó, cắm một đầu
ống hút vào cốc, một đầu ống hút thì ngậm trong miệng mà thổi hơi vào cốc đựng
nước vôi. Chỉ một lát, sẽ thấy nước vôi đang trong, không màu trở nên đục, vẩn.
Nhưng tiếp tục thổi, sẽ thấy dung dịch trong cốc biến trở lại thành trong suốt.
Giải thích: Nước vôi chứa trong cốc khi gặp phải khí cacbonic có trong hơi thở ra
sẽ phản ứng tạo ra canxi cacbonat. Canxi cacbonat là những hạt rất nhỏ, không dễ
lắng, kết tủa nên lơ lửng trong nước, cho nên sẽ thấy nước trở nên vẩn đục màu
trắng sữa. Khi tiếp tục thổi khí cacbonic vào trong cốc thì do canxi cacbonic phản
ứng với nó tạo ra canxihydro cacbonat là chất tan trong nước nên chất lỏng trong
cốc lại biến thành trong suốt.
20
Từ thí nghiệm trên, học sinh rút ra được tính chất của dung dịch Ca(OH)2 và khắc
sâu kiến thức
1.2.
Bài : Flo - “ Một số hợp chất của flo” –
Hóa học 10
GV đặt vấn đề: dung dịch HF là một axit yếu, SiO2 là một oxitaxit, vậy giữa chúng
có phản ứng hóa học xảy ra hay không? Để tìm hiểu vấn đề này, chúng ta cùng làm
thí nghiệm sau:
Chuẩn bị:
Một tấm thủy tinh trơn không màu.
Ở trong một lọ rộng miệng, đặt vào một cây nến đang cháy.
Cốc thủy tinh chứa nước vôi trong.
Cách làm:
Mở nắp chai nước uống có gaz, dùng chiếc nút chai đã chuẩn bị để nút miệng chai
nước uống có gaz, để một đầu ống cao su thò vào trong lọ rộng miệng, rồi nhè nhẹ
xóc chai nước uống có gaz thì chất khí bốc lên trong chai nước uống có gaz sẽ theo
ống cao su sang lọ rộng miệng, chỉ lát sau đã làm tắt ngọn nến đang cháy.
Nếu thử chuyển đầu ống cao su cắm vào trong nước vôi, nước vôi trong sẽ trở
nên đục ngầu.
Chúng ta có thể phán đoán chất khí trong nước uống có gaz chính là khí
cacboníc. Ở các nhà máy nước ngọt người ta dùng áp lực lớn để ép CO2 hòa tan
trong nước sau đó nạp vào bình đóng kín thu được nước ngọt. Những ngày nóng
nực, mọi người thích uống nước uống có gaz. Khi uống nước có gaz, dạ dày và ruột
không hấp thu CO2, nhiệt độ ở dạ dày cao hơn nên khí thoát ra ngoài theo đường
miệng thì sẽ không ngừng ợ ra thứ khí đó, từ đó mà thải ra theo một phần nhiệt
lượng trong cơ thể làm cho người có cảm giác mát mẻ, dễ chịu. Ngoài ra, CO2 có
tác dụng kích thích nhẹ thành dạ dày, tăng cường tiết dịch vị giúp dễ tiêu hóa .
2. Thí nghiệm biểu diễn
TN biểu diễn là TN do GV tiến hành trên lớp để khảo sát hay kiểm chứng một
hiện tượng, định luật hay giả thuyết nào trong khi nghiên cứu tài liệu mới. TN biểu
diễn nếu tổ chức hợp lý sẽ giúp cho HS tiếp thu bài dễ dàng và nhanh chóng hơn.
Các thí nghiệm của giáo viên cần tăng cường theo phương pháp nghiên cứu hạn chế
việc sử dụng thí nghiệm theo phương pháp minh hoạ nhằm phát huy tính tích cực
nhận thức của, rèn luyện tính tự học và tư duy của học sinh. Với các thí nghiệm
đơn giản, sử dụng hoá chất ít độc hại khó gây nguy hiểm cho học sinh ta có thể cho
học sinh thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
22
a) Thí nghiệm biểu diễn khi nghiên cứu tính chất của một chất.
Cách làm:
1. Ít nhất có 2 cách làm mực vô hình từ bột sôđa. Hòa trộn hỗn hợp gồm các phần
bột sôđa và nước tỷ lệ bằng nhau.
2. Dùng một mảnh vải cotton, que tăm, hay cọ vẽ để viết lên tờ giấy trắng, sử dụng
hỗn hợp bột sôđa như mực viết.
3. Để mực khô.
4. Có một cách để đọc chữ viết là để tờ giấy lên nguồn gia nhiệt như bóng đèn. Bột
sôđa sẽ làm nổi chữ hiện lên màu nâu.
5. Một cách khác để đọc chữ là dùng nước nho màu tím sơn lên tờ giấy. Chữ sẽ
xuất hiện trên màu sắc khác.
Hướng dẫn:
1. Nếu dùng nguồn cung cấp nhiệt, tránh làm cháy mảnh giấy, không nên dùng đèn
halogen.
2. Bột sôđa và nước nho phản ứng acid - baz với nhau tạo nên sự thay đổi màu sắc
trên tờ giấy.
3. Có thể thực hiện thí nghiệm pha loãng dung dịch sôđa bằng cách dùng 1 phần
bột sôđa với 2 phần nước.
4. Nước nho cô đặc cho kết quả thay đổi màu sắc rõ ràng hơn nước nho thường
2.2. Bài “ Chất giặt rửa” – Hóa học 12
Chuẩn bị:
24