SKKN TĂNG CƯỜNG HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HÓA CỦA HỌC SINH THPT BẰNG THÍ NGHIỆM HÓA HỌC VUI - Pdf 32

TĂNG CƯỜNG HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HÓA CỦA HỌC SINH THPT
BẰNG THÍ NGHIỆM HÓA HỌC VUI
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhận thức rõ vai trò của giáo dục trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất
nước nhằm tạo ra nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu hội nhập với thế giới và với
khu vực nên giáo dục và vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở phổ thông đã được
các cấp lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương hết sức quan tâm. Đặc biệt sau khi
có chỉ thị 15/1999/CT BGD – ĐT; trong báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần thứ IX
(2001); trong Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội và chỉ thị 14/2001/CT –
TTg của Thủ tướng chính phủ. Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ X
(2006) có “Giáo dục cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu”. Như
vậy, phải nói rằng giáo dục và công cuộc đổi mới phương pháp dạy học đã nhận
được sự quan tâm đặc biệt của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước và ngành giáo
dục.
Để đạt được hiệu quả trong công tác đổi mới thì sự hứng thú, thái độ và sự
quan tâm của người học đối với môn học đóng vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên,
hiện nay tại các trường trung học phổ thông tồn tại thực trạng là học sinh không
hứng thú với các môn học nói chung và môn hóa học nói riêng. Vấn đề này đã gây
ảnh hưởng rất nhiều cho quá trình dạy học trên lớp của giáo viên và sự hưng phấn
của giáo viên trong quá trình dạy học. Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh,
điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng
hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh.
Xuất phát từ những thực tế đó và một số kinh nghiện trong giảng dạy bộ
môn hóa học, tôi thấy để có chất lượng giáo dục bộ môn hóa học cao, người giáo
viên ngoài phát huy tốt các phương pháp dạy học tích cực cần khai thác thêm các
thí nghiệm hóa học vui trong đời sống đưa vào bài giảng bằng nhiều hình thức
khác nhau nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, tạo niềm tin, niềm
vui, hứng thú trong học tập bộ môn. Từ những lí do đó tôi chọn đề tài:
1

VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu luật giáo dục về đổi mới chương trình, phương pháp dạy học,..
2


Các tài liệu về lí luận dạy học, phương pháp dạy học tích cực bộ môn hóa.
Nghiên cứu thực trạng dạy học hóa trường
Liệt kê các thí nghiệm hóa học vui, hóa học thực tiễn áp dụng cho một số bài
dạy cụ thể ở chương trình hóa THPT
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi phối hợp sử dụng chủ yếu các phương pháp
sau:
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
6.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn như: Điều tra bằng phiếu câu hỏi,
phỏng vấn, quan sát, trò chuyện, nghiên cứu kết quả sản phẩm họat động.
6.3. Thực nghiệm sư phạm
6.4. Phương pháp thống kê toán học
VII. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
7.1. Chỉ được thực trạng hứng thú học môn hóa của HS
7.2. Đề xuất một số thí nghiệm vui hóa học kích thích hứng thú học tập của HS
trong dạy học hóa học ở trường Trung học phổ thông

3


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÁC THÍ NGHIỆM
HÓA HỌC VUI VÀO BÀI DẠY HÓA HỌC TĂNG HỨNG THÚ HỌC TẬP
BỘ MÔN.
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Hứng thú

GS.TS. Nguyễn Quang Uẩn là bao hàm nhất: "Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá
nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả
năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động".
Khái niệm này vừa nêu được bản chất cửa hứng thú, vừa gắn hứng thú với
hoạt động của cá nhân. Hứng thú là một thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối
tượng, thể hiện ở sự chú ý tới đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đối tượng sự
thích thú được thỏa mãn với đối tượng.
1.1.1.2. Cấu trúc của hứng thú
Tiến sĩ tâm lý học N.G.Marôzôva đã dựa vào 3 biểu hiện để đưa ra quan niệm
của mình về cấu trúc của hứng thú:
+ Cá nhân hiểu rõ được đối tượng đã gây ra hứng thú.
+ Có cảm xúc sâu sắc với đối tượng gây ra hứng thú.
+ Cá nhân tiến hành những hành động để vươn tới chiếm lĩnh đối tượng đó.
Vậy theo ông thì hứng thú liên quan đến việc người đó có xúc cảm tình cảm
thực sự với đối tượng mà mình muốn chiếm lĩnh, có niềm vui tìm hiểu và nhận
thức đối tượng, có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động, tự nó lôi
cuốn, kích thích hứng thú.
Hứng thú phải là sự kết hợp giữa nhận thức - xúc cảm tích cực và hành động,
nghĩa là có sự kết hợp giữa sự hiểu biết về đối tượng với sự thích thú với đối tượng
và tính tích cực hoạt động với đối tượng. Ba yếu tố này liên hệ chặt chẽ và quan hệ
tương tác lẫn nhau trong cấu trúc hứng thú. Tùy từng giai đoạn phát triển khác nhau
của hứng thú mà vai trò của từng yếu tố có sự biển đổi.
1.1.1.3. Đặc điểm của hứng thú
a. Tính xã hội của hứng thú
Thông thường, con người chỉ hứng thú với những cái mới, những cái còn chưa
ai biết, chưa được khám phá. Còn những điều đã biết mà không thổi cho nó một
luồng khí mới, đưa nó vào một vị trí khác tích cực hơn thì sẽ không gây được hứng
5



6


thức của đối tượng đó. Quá trình hình thành hứng thú có thể theo hướng ngược lại.
Từ chỗ có ý thức về ý nghĩa của đối tượng dẫn đến chỗ bị đối tượng hấp dẫn”.
Trong hứng thú luôn có sự kết hợp giữa nhận thức, xúc cảm để dẫn đến tính tích
cực của hành vi là quá trình vận động và phát triển của hứng thú.
1.1.1.5. Các loại hứng thú
Dựa vào những căn cứ khác nhau, người ta có thể chia hứng thú thành nhiều
loại khác nhau.
* Dựa vào vào nội dung đối tượng của hứng thú và phạm vi hoạt động gắn với
hứng thú người ta chia hứng thú thành các loại sau:
- Hứng thú vật chất: biểu hiện như thích thú có đủ tiện nghi, hứng thú ăn mặc…
- Hứng thú nhận thức: hứng thú học tập được coi là một biểu hiện đặc biệt của
hứng thú nhận thức. Hứng thú có tính chất chuyên môn như hứng thú toán học, văn
học … cũng thuộc về hứng thú nhận thức.
- Hứng thú nghề nghiệp: hứng thú nghề kỹ thuật, hứng thú nghề sư phạm …
- Hứng thú chính trị - xã hội: hứng thú với các công tác xã hội, hứng thú đối với
vấn đề chính trị …
- Hứng thú thẩm mỹ: hứng thú hội họa, điện ảnh, sân khấu …
* Dựa vào chiều hướng của hứng thú, có thể chia thành các loại sau đây:
- Hứng thú trực tiếp: là hứng thú đối với bản thân trong quá trình nhận thức, quá
trình lao động và sự sáng tạo.
- Hứng thú gián tiếp: là hứng thú đối với kết quả hoạt động như hứng thú muốn
có học vấn, có nghề nghiệp, có chức vụ, có địa vị xã hội…
Trong hoạt động học tập người ta thường dùng hứng thú gián tiếp để kích thích
hứng thú trực tiếp của HS. Trong dạy học, cần làm cho HS kết hợp giữa hứng thú
trực tiếp và hứng thú gián tiếp với một đối tượng thì hứng thú mới được bền vững.
* Dựa vào tính hiệu lực của hứng thú, ta có thể chia thành 2 loại hứng thú sau:
- Hứng thú tích cực: là loại hứng thú khi con người không chỉ quan sát đối tượng

nghĩa của việc học.
Do vậy, có thể khẳng định việc hình thành động cơ, hứng thú học tập cho học
sinh có một ý nghĩa rất quan trọng không thể thiếu trong quá trình dạy học. Có
hứng thú học tập thì tư duy học sinh luôn ở trạng thái hưng phấn, đó là điều kiện tốt
8


để các em bộc lộ quan niệm, kích thích hoạt động và phát triển năng lực tư duy,
năng lực nhận thức của HS.
1.1.2. Vai trò của hứng thú trong dạy học
1.1.2.1. Hứng thú học tập
Có nhiều công trình nghiên cứu đã đồng nhất hứng thú học tập với hứng thú
nhận thức. Theo chúng tôi thì hứng thú học tập chỉ là một bộ phận của hứng thú
nhận thức.
Hứng thú nhận thức là một hiện tượng tâm lý diễn ra trong quá trình con người
tiến hành hoạt động nhận thức. Hứng thú nhận thức là khuynh hướng lựa chọn của
cá nhân nhằm vào việc nhận thức được hoặc một số lĩnh vực khoa học nhằm vào
mặt nội dung và quá trình hoạt động của nó. Trong quá trình này cá nhân không chỉ
dừng lại ở những đặc điểm bên ngoài của sự vật, hiện tượng mà còn xu thế đi sâu
vào cái bản chất bên trong của sự vật hiện tượng muốn nhận thức.
Hứng thú học tập quan hệ mật thiết với tính tò mò, ham hiểu biết của cá nhân.
Hứng thú là nguồn kích thích mạnh mẽ tính tích cực cá nhân. Khi có hứng thú học
sinh sẽ tích cực học tập hơn và học tập có hiệu quả hơn. Thái độ học tập tích cực
được thể hiện ở việc tiến hành nhiều hình thức học tập khác nhau và học tập một
cách không mệt mỏi .
1.1.2.2. Các giai đoạn hình thành hứng thú học tập
Do cách xác định bản chất của hứng thú khác nhau nên trong tâm lý học, việc
phân tích con đường hình thành và phát triển hứng thú cũng khác nhau. Trên cơ sở
khẳng định nguồn gốc cơ bản của hứng thú nằm trong nội dung tài liệu, và trong
hoạt động học tập của người học, G.I. Sukira đưa ra con đường, cách thức để hình

quá

trình dạy học thông qua: nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ

chức…Hiện nay việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS chủ yếu tập trung
vào hướng này.
1.1.3. Hứng thú học tập môn Hóa học
1.1.3.1. Vai trò của hứng thú trong học tập môn hóa học
Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động
nhận thức, tăng sức làm việc. Vì thế cùng với nhu cầu hứng thú là một trong những
hệ thống động lực của nhân cách.
10


Trong bất kỳ hoạt động nào, tạo được hứng thú là điều cực kỳ quan trọng, làm
cho các em say sưa với công việc của mình, đặc biệt là học tập.
Đối với môn Hóa học, có hứng thú các em sẽ có tinh thần học bài, tìm thấy các
lý thú, cái hay trong môn học, không cảm thấy môn học khô khan, khó hiểu nữa.
Từ đó tạo niềm tin say mê học tập, đồng thời nó làm cho các em nhận thức đúng
đắn hơn vai trò của môn Hóa học trong trường phổ thông.
Hứng thú học tập môn Hóa học còn tạo ra những xúc cảm, tình cảm tích cực ở
HS trong quá trình học tập. Nó tạo ra sự say mê, thích thú khi tiếp nhận tri thức, tạo
ra sự hài lòng với kết quả học tập. Đây chính là động lực thúc đẩy các em tìm tòi,
sáng tạo trong học tập hóa học. Vì vậy, hứng thú học tập hóa học tác động đến toàn
diện bản thân người học và hiệu quả của quá trình dạy học môn Hóa học.
Hứng thú học tập môn Hóa học tác động đến HS cả trong và ngoài giờ lên lớp,
kích thích họ tìm kiếm nguồn tài liệu tham khảo để thỏa mãn nhu cầu nhận thức,
đồng thời suy nghĩ tìm ra nhiều hình thức học tập hiệu quả hơn.
Chính vì vậy, hình thành và phát triển hứng thú học tập cho HS là mục tiêu
quan trọng mà mỗi GV hướng tới để nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường.

Khi trình độ và năng lực nhận thức của HS thấp thì hầu hết các môn học đối với
học sinh đều quá khó, khó hiểu nên không thể có hứng thú trong học tập. Ngược lại
nếu trình độ và năng lực nhận thức của HS đã phát triển cao mà các em chỉ được
học những cái đã biết thì cũng không tạo ra được hứng thú.
+ Động cơ và thái độ học tập của HS: Động cơ quan hệ mật thiết với hứng thú
học tập. Cả động cơ hoàn thiện tri thức và hứng thú học tập đều hướng vào việc
lĩnh hội tri thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn. Đồng thời các em học tập một cách tích
cực, tự giác thì dễ dàng nảy sinh hứng thú.
Thái độ đúng đắn đối với môn Hóa họclà điều kiện cần thiết và là tiền đề quan
trọng của sự hình thành hứng thú học tập. khi các em ý thức đầy đủ về môn học sẽ
giúp cho sự duy trì và phát triển hứng thú học tập.
+ Nhu cầu nhận thức, ham hiểu biết, niềm vui nhận thức sẽ làm nảy sinh khát
khao và luôn tìm tòi để đạt được tri thức, làm cơ sở để hình thành hứng thú. Việc
gắn tri thức hóa học với thực tiễn là biện pháp hiệu quả để khơi dậy nhu cầu nhận
thức của HS và nó kích thích sự tìm tòi, vận dụng của HS trong quá trình học tập.

12


b. Nhóm các yếu tố khách quan
Đó là những yếu tố bên ngoài tác động vào chủ thể bằng nhiều con đường khác
nhau, bao gồm :
+ Sự hấp dẫn của môn học. Đây là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đến sự hình
thành và phát triển hứng thú học môn Hóa học của HS. Tính hấp dẫn của môn Hóa
học sẽ tạo ra lòng say mê, hứng thú và dẫn đến những hành vi tích cực trong học
tập.
+ Phương pháp và năng lực giảng dạy của GV là yếu tố tác động đến sự hình
thành hứng thú học tập của HS. Nó có khả năng chi phối đến các yếu tố khác của
hứng thú học tập môn Hóa học. Giáo viên cần vận dung linh hoạt, sáng tạo và phù
hợp các PPDH khác nhau để giờ học đỡ nhàm chán. Muốn nâng cao hứng thú học

tạo điều kiện cho HS thực hiện các thao tác tư duy phức tạp, phân tích nội dung cơ
bản của khái niệm trừu tượng và nắm được mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên.
Các em có khả năng tự làm thí nghiệm, tự tạo ra các thí nghiệm đơn giản, sử dụng
được các phương tiện kỹ thuật hiện đại. Do vậy, các em thuận lợi hơn trong việc
tiếp thu các kiến thức về Hóa học và vận dụng vào thực tiễn.
1.2. THỰC TRẠNG VỀ HỨNG THÚ HỌC TẬP HÓA HỌC CỦA HỌC SINH
2.1.1. Hứng thú của HS đối với giờ học hóa học
Với mục đích tìm hiểu mức độ biểu hiện hứng thú của HS đối với giờ học hóa
học đưa ra các mức độ. Kết quả điều tra 81 HS (2 lớp) về mức độ biểu hiện hứng
thú của HS:
Bảng 2.1. Hứng thú của HS đối với giờ học hóa học
Mức độ
Rất thích
Thích
Bình thường
Không thích

SL
8
26
41
6

%
9,8
32,1
50,1
8,0

Biểu đồ 2.1. Biểu thị hứng thú của HS đối với giờ học Hóa học



chuẩn bị bài kỹ, đến phương pháp giảng dạy của giáo viên chưa gây hứng thú tới
học sinh…
1.3. VAI TRÒ CỦA THÍ NGHIỆM VUI HÓA HỌC TRONG DẠY HỌC
MÔN HÓA HỌC
Đối với bộ môn Hóa học: các khái niệm, định luật, hiện tượng, bản chất hóa
học nhiều khi rất trìu tượng, khó hiểu, khô cứng làm HS khó tiếp thu, dễ nhàm
chán, đặc biệt các HS có tư duy không tốt sẽ có xu hướng sợ bộ môn Hóa học.
Để nâng cao hứng thú học tập bộ môn hóa của học sinh ở trường phổ thông hiện
nay, người giáo viên ngoài các phương pháp dạy học tích cực cần khai thác thêm
các hiện tượng hóa học thực tiễn trong đời sống, các thí nghiệm vui hóa học đưa
vào bài giảng nhằm phát huy tính tích cực, tạo niềm vui, hứng thú trong học tập bộ
môn.
1.3.1. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh lập mối liên hệ giữa nội dung bài
học và thực tiễn.
Học sinh thấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài hơn nếu trong quá trình dạy và học,
giáo viên luôn có liên hệ thực tế giữa các kiến thức sách giáo khoa và thực tiễn đời
sống hàng ngày. Rất nhiều kiến thức hóa học có thể liên hệ được với các hiện
tượng tự nhiên xung quanh chúng ta bằng các thí nghiệm hóa học.
1.3.2. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh thông qua tình huống giả định
bằng các thí nghiệm hóa học.
Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp dạy học lồng ghép vào nhau,
trong đó hình thức đưa ra các tình huống giả định kèm theo thí nghiệm hóa học để
học sinh tranh luận vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh, vừa tạo môi
trường thoải mái để các em trao đổi, từ đó giúp học sinh yêu thích môn học hơn.
Ví dụ: Khi học về ảnh hưởng của xúc tác đến tốc độ phản ứng hóa học trong bài “
Tốc độ phản ứng hóa học” – Hóa học lớp 10, giáo viên đưa ra tình huống:
Đường ăn có thể đốt cháy được không?
Sau khi thảo luận, chúng ta hãy cùng nhau làm một thí nghiệm để thử xem sao!

đặc trưng của các hiện tượng, quá trình và mối quan hệ giữa các tính chất đó.
Sử dụng thí nghiệm hoá học trong dạy học hoá học được coi là tích cực khi thí
nghiệm hoá học được dùng làm nguồn kiến thức để học sinh khai thác, tìm tòi kiến
thức hoặc dùng để kiểm chứng, kiểm tra những dự đoán, suy luận lý thuyết, hình
18


thành khái niệm. Các thí nghiệm trong giờ học chủ yếu do học sinh thực hiện nhằm
nghiên cứu kiến thức, kiểm tra dự đoán.
Thí nghiệm hóa học là một trong những PPDH hóa học ở trường phổ thông,
giúp cho HS tự chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, đặc biệt rèn luyện cho các
em kỹ năng, kỹ xảo thực hành. Ngoài ra, TN còn giúp cho việc dạy học hóa học
không còn xa vời với thực tiễn.
Phương pháp sử dụng TN để kích thích hứng thú trong dạy học hóa học
TN hóa học được sử dụng ở nhiều giai đoạn khác nhau trong quá trình học.
Chẳng hạn, TN được tiến hành nhằm đề xuất vấn đề, nghiên cứu tài liệu mới hoặc
củng cố bài. TN có thể do GV tiến hành hay HS tiến hành dưới sự chỉ dẫn của GV.
Tuy nhiên, HS hứng thú nhất khi trực tiếp làm TN. Vì vậy, GV cần tạo điều kiện
cho các em được trực tiếp thực hiện đặc biệt là các TN đơn giản mà các em tự tạo
được và TN thực hành hóa học.
Khi dạy học và biểu diễn thí nghiệm minh họa về hiện tượng hóa học, giáo
viên có thể gia công những thí nghiệm đó bằng những dụng cụ đơn giản trong đời
sống để học sinh dễ thực hiện, điều đó sẽ giúp học sinh có thể tự thực hành và kích
thích sự tìm hiểu, khám phá ở học sinh.
1. Đặt tình huống vào bài mới
Tình huống có vấn đề là hoàn cảnh trong đó xuất hiện mâu thuẫn nhận thức mà HS
chấp nhận viếc giải quyết mâu thuẫn đó như một nhiệm vụ học tập và sẵn sàng đem
sức lực trí tuệ ra giải quyết.
Khi ở trong tình huống có vấn đề, trạng thái tâm lý của HS có sự chuyển biến rõ
rệt. Học sinh sau khi chấp nhận mâu thuẫn của bài toán nhận thức, sẽ xuất hiện nhu

Từ thí nghiệm trên, học sinh rút ra được tính chất của dung dịch Ca(OH) 2 và khắc
sâu kiến thức
1.2.

Bài : Flo - “ Một số hợp chất của flo” –

Hóa học 10

GV đặt vấn đề: dung dịch HF là một axit yếu, SiO 2 là một oxitaxit, vậy giữa chúng
có phản ứng hóa học xảy ra hay không? Để tìm hiểu vấn đề này, chúng ta cùng làm
thí nghiệm sau:
Chuẩn bị:
Một tấm thủy tinh trơn không màu.
Parafin
Dung dịch axit flohiđric
Cách làm:
Muốn chạm khắc các hoa văn hay khắc chữ trên bề mặt thủy tinh. Trước tiên ta
quét đều đặn lên bề mặt thủy tinh một lớp parafin.

20


Sau đó ta chạm trổ các hình hoa văn lên lớp parafin đó, làm cho phần thủy tinh cần
khắc sẽ lộ ra.
Sau khi khắc, trổ xong , dùng một lượng axit Flohiđric (HF) quét, bôi nhẹ nhàng
lên lớp parafin; chất này gặp phần thủy tinh lộ ra do chạm khắc liền ăn mòn và tạo
nên hoa văn trên thủy tinh
Có một số sản phẩm thủy tinh sau khi dùng axit Flohiđric làm xong công việc điêu
khắc lại gia công thêm màu sắc rực rỡ làm cho tác phẩm điêu khắc trên thủy tinh
càng thêm lộng lẫy, đẹp mắt.

nực, mọi người thích uống nước uống có gaz. Khi uống nước có gaz, dạ dày và ruột
không hấp thu CO2, nhiệt độ ở dạ dày cao hơn nên khí thoát ra ngoài theo đường
miệng thì sẽ không ngừng ợ ra thứ khí đó, từ đó mà thải ra theo một phần nhiệt
lượng trong cơ thể làm cho người có cảm giác mát mẻ, dễ chịu. Ngoài ra, CO 2 có
tác dụng kích thích nhẹ thành dạ dày, tăng cường tiết dịch vị giúp dễ tiêu hóa .
2. Thí nghiệm biểu diễn
TN biểu diễn là TN do GV tiến hành trên lớp để khảo sát hay kiểm chứng một
hiện tượng, định luật hay giả thuyết nào trong khi nghiên cứu tài liệu mới. TN biểu
diễn nếu tổ chức hợp lý sẽ giúp cho HS tiếp thu bài dễ dàng và nhanh chóng hơn.
Các thí nghiệm của giáo viên cần tăng cường theo phương pháp nghiên cứu hạn chế
việc sử dụng thí nghiệm theo phương pháp minh hoạ nhằm phát huy tính tích cực
nhận thức của, rèn luyện tính tự học và tư duy của học sinh. Với các thí nghiệm
đơn giản, sử dụng hoá chất ít độc hại khó gây nguy hiểm cho học sinh ta có thể cho
học sinh thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
a) Thí nghiệm biểu diễn khi nghiên cứu tính chất của một chất.
2.1. Bài “ Một số hợp chất quan trọng của kim loại kiềm ” – hóa học 12.
GV cho học sinh làm thí nghiệm khi dạy phần: Natricacbonnat
Chuẩn bị:
Cốc thủy tinh chứa giấm ăn.
Long não.
Sôđa (Na2CO3)
Cách làm:
Trong một cốc đựng giấm thả vào mấy viên long não thì thấy các viên long não
đều chìm xuống đáy cốc. Khi đó, thêm vào cốc một lượng nhỏ sôđa (Na 2CO3) sẽ

22


thấy các viên long não nổi dần lên, nhưng sau khi nổi lên tới mặt nước trong cốc nó
lại chìm xuống đáy cốc, cứ như vậy lặp đi lặp lại, trông rất thú vị.

1. Nếu dùng nguồn cung cấp nhiệt, tránh làm cháy mảnh giấy, không nên dùng đèn
halogen.
2. Bột sôđa và nước nho phản ứng acid - baz với nhau tạo nên sự thay đổi màu sắc
trên tờ giấy.
3. Có thể thực hiện thí nghiệm pha loãng dung dịch sôđa bằng cách dùng 1 phần
bột sôđa với 2 phần nước.
4. Nước nho cô đặc cho kết quả thay đổi màu sắc rõ ràng hơn nước nho thường

2.2. Bài “ Chất

giặt rửa” – Hóa học 12

Chuẩn bị:
Bình thủy tinh chứa nước
Một ít dầu ăn
Chất tẩy rửa
Cách làm:
Cho nước sạch vào tới nửa bình của một bình thuỷ tinh trong suốt, thêm vào một
ít dầu ăn. Khi đó dầu nổi trên mặt nước, mặt phân cách giữa dầu và nước rất rõ
ràng. Dùng tay lắc bình thuỷ tinh, để cưỡng bức dầu và nước tạo thành một pha, khi
để yên một lúc thì dầu và nước lại phân thành hai lớp trên dưới rõ ràng.
Khi đó lại cho thêm vào trong bình một ít chất tẩy rửa (hoặc bột giặt quần áo),
sau đó lắc bình thật kỹ rồi quan sát sẽ thấy dầu và nước không còn phân tầng thành
hai lớp nữa mà hoà làm một với nhau.
24


Giải thích: Bởi chất tẩy rửa có một thuộc tính đặc biệt là có thể bao vây từng
giọt dầu, đem phân tán đều trong nước, tác dụng như thế được gọi là "tác dụng nhũ
hoá". Hỗn hợp nước và dầu được hình thành nhờ tác dụng nhũ hoá được gọi là "nhũ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status