HÀ NỘI - 2009
Tổ chức Giáo dục
Khoa học và Văn hóa
của Liên Hợp Quốc
Chuyên đề
HÃY BẢO VỆ
TÀI NGUYÊN NƯỚC
VÌ CHÚNG TA
VÀ VÌ SỰ PHÁT TRIỂN
CỘNG ĐỒNG BỀN VỮNG
Bộ tài liệu nguồn theo các chuyên đề Giáo dục vì Sự phát triển bền vững dành cho
Trung tâm học tập cộng đồng
- Dự án “Phát triển chiến lược hệ thống nguồn lực hỗ trợ sáng
kiến nâng cao năng lực xóa mù chữ (LIFERSS) ở Việt Nam” - Bộ Giáo dục và Đào tạo - Văn phòng
UNESCO Hà Nội.
Bộ tài liệu được tổ chức biên soạn bởi Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Không chính quy - Viện
Khoa học Giáo dục Việt Nam, góp ý, chỉnh sửa và phê duyệt bởi Vụ Giáo dục Thường xuyên - Bộ
Giáo dục và Đào tạo.
Tác giả: Nguy
ễn Thị Mai Hà
Trần Ái Hoa
Nguyễn Thị Hương Lan
© Văn phòng UNESCO Hà Nội 2009
Xuất bản bởi Văn phòng UNESCO Hà Nội
Giấy phép xuất bản số:
In tại: Công ty CP In Trần Hưng. Số lượng: 750 cuốn. In xong và nộp lưu chiểu tháng 10.2009.
Để biết thêm thông tin xin liên hệ:
Văn phòng UNESCO Hà Nội
Địa chỉ: 23 Cao Bá Quát, Hà Nội
ĐT: 04-37470275/6
Fax: 04-37470274
tại 10 tỉnh ở ba miền (Bắc, Trung, Nam). Trong quá trình biên so
ạn và thử nghiệm,
Bộ tài liệu đã nhận được sự góp ý của các chuyên gia từ các Bộ, ban ngành đoàn
thể, các nhà khoa học, các cán bộ và giáo viên của các địa phương với mục đích
nhằm tăng cường tính chính xác, tính khoa học, tính sư phạm và tính thực tiễn của
Bộ tài liệu. Mặc dù vậy, Bộ tài liệu vẫn không thể tránh khỏi thiếu sót. Chúng tôi
rất mong tiếp tục nhận được đóng góp của các chuyên gia, của cán bộ, GV/HDV
và các học viên trong quá trình sử dụng Bộ tài liệu này.
Vụ Giáo dục Thường xuyên chân thành cảm ơn Văn phòng UNESCO Hà Nội đã giúp
đỡ về kỹ thuật và tài chính để biên soạn và in ấn Bộ tài liệu này. Xin chân thành
cảm ơn các chuyên gia của các Bộ, ban, ngành, đoàn thể đã tham gia biên soạn và
góp ý cho Bộ tài liệu. Cảm ơn các địa phương đã nhiệt tình tham gia thử nghiệm
và đóng góp ý kiến để hoàn thiện Bộ tài liệu này.
Hà Nội, tháng 7 năm 2009
Vụ Giáo dục Thường xuyên
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Lời giới thiệu
Bài Một: Nước và cuộc sống của chúng ta 7
I. Một số vấn đề chung về nước 8
II. Thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp phòng,
suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm tài nguyên nước ở Việt Nam 11
Phụ lục 1: Thừa Thiên-Huế người dân nhiều vùng ven biển thiếu nước sạch 19
Phụ lục 2: Bức xúc từ môi trường nông thôn 19
Phụ lục 3: Nước sông đáy, sông nhuệ ô nhiễm nặng, làm nhiều loài
Động vật thủy sinh khu vực tỉnh Hà Nam bị chết hàng loạt 21
Phụ lục 4: Nhiều khu công nghiệp hoạt động nhưng chưa có hệ thống
xử lý nước thải tập trung 22
Phụ lục 5: Thủy triều đỏ tấn công Phan Thiết 24
Bài Hai: Bảo vệ tài nguyên nước 25
nước khỏi bị ô nhiễm vì sức khoẻ của mọi người và vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NƯỚC
1. Nước và một số khái niệm có liên quan
• Nước là chất lỏng không màu, không mùi, không vị. Nước đóng băng ở nhiệt độ 0
0
C và sôi
ở nhiệt độ 100
0
C. Nước là một trong những hợp chất phổ biến nhất trong thiên nhiên (tầng
nước hay thuỷ quyển) chiếm 71% bề mặt trái đất.
• Nước sinh hoạt là nước dùng cho ăn uống, vệ sinh của con người.
• Nước sạch là nước đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng nước sạch của Tiêu chuẩn Việt Nam.
• Nguồn nước chỉ các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử d
ụng
được, bao gồm sông, suối, kênh, rạch; biển, hồ, đầm, ao; các tầng chứa nước dưới đất;
mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác.
• Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo.
• Nước dưới đất là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới mặt đất.
• Suy thoái, cạn kiệt nguồn nước là sự suy giảm về
chất lượng và số lượng của nguồn nước.
• Ô nhiễm nguồn nước là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hoá học, thành phần sinh học
của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép.
2. Những điều kỳ diệu của nước
Nước có nhiều đặc tính kỳ diệu, đó là:
• Nước có khả năng hấp thụ rất nhiều nhiệt lượng khi nóng lên và toả ra khi lạnh đi. Nhờ đặc
tính này mà tất cả nguồn nước đều không bị sôi sục lên dưới ánh nắng mặt trời chói chang
trong mùa hè và duy trì được mọi mầm sống trên trái đất.
• Để bốc hơi được nước cần rất nhiều nhiệt lượng. Vì vậy mà nhiều ngu
ồn nước không bị cạn
kiệt và duy trì sự sống trong nước, cả mùa đông cũng như mùa hè, cả ở vùng nhiệt đới
• Trong sinh hoạt hàng ngày, mỗi người cần 250 lít nước cho sinh hoạt (ăn, uống, tắm rửa,
giặt giũ, vệ sinh môi trường).
• Trong sản xuất nông nghiệp, nước cần để tưới tiêu cho đồng ruộng, chăn nuôi. Trong 4 yếu
tố quyết định năng suất nông nghiệp “Nước, phân, cần, giống” thì nước được
đặt ở vị trí
hàng đầu. Ngành trồng trọt sử dụng nhiều nước nhất, lớn hơn từ 5 - 6 lần lượng nước sử
dụng trong công nghiệp và sinh hoạt.
• Trong công nghiệp, thủ công nghiệp, nước dùng để sản xuất. Người ta tính rằng để sản
xuất 1 tấn giấy cần 250 tấn nước, 1 tấn đạm cần 600 tấn nước và 1 tấn chất bột cần 1.000
tấn n
ước.
• Nước cần trong sản xuất điện (thuỷ điện).
• Nước cần trong bệnh viện.
• Các dòng sông, suối, biển được sử dụng trong giao thông, tham quan du lịch
• Nước duy trì môi trường sinh thái biển, suối, sông, ao hồ, đầm lầy.
• v.v
Cùng với sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu dùng nước ngày càng tăng
lên. Hiện nay, toàn quốc chỉ có khoảng 60% dân số được dùng nước sạch. Nhà nước đang ph
ấn
đấu đến năm 2010 con số này sẽ là 95%.
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
10
4. Tài nguyên nước trên thế giới và ở Việt Nam
4.1 Tài nguyên nước trên thế giới
Nước chiếm 3/4 bề mặt trái đất. Vì vậy có thể gọi trái đất là “trái nước”. Tuy nhiên có tới 97% là
nước biển. Nước ngọt chỉ chiếm 3%, trong đó nước đóng băng trên đỉnh núi và ở hai đầu Bắc cực
và Nam cực chiến khoảng 2,7%. Nước ngọt mà chúng ta có thể sử dụng được chỉ chiếm khoảng
0,3% tổng số lượng nước trên trái đất. Vì vậy, có thể nói r
ằng nguồn nước ngọt không phải là
vô tận.
o), đầm lầy, đồng ruộng và băng tuyết, trong đó
nước sông là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất, được sử dụng rộng rãi trong đời sống và
sản xuất.
Nếu xét chung cho cả nước, thì tài nguyên nước mặt của Việt Nam tương đối phong phú, chiếm
khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới, trong khi đó diện tích đất liền nước
ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế
giới. Tổng lượng dòng chảy sông ngòi trung bình hàng năm
của nước ta bằng khoảng 847 km
3
, trong đó tổng lượng ngoài vùng chảy vào là 507 km
3
chiếm
60% và dòng chảy nội địa là 340 km
3
, chiếm 40%.
Mạng lưới sông suối ở Việt Nam khá nhiều, cứ khoảng 20 km bờ biển lại có một cửa sông chảy ra
biển. Nếu chỉ tính những sông suối có nước chảy thường xuyên, dài từ 10 km trở lên thì Việt Nam
có khoảng 2.360 sông. Tổng lượng dòng chảy năm của sông Mê Kông bằng khoảng 500 km
3
, chiếm
tới 59% tổng lượng dòng chảy năm của các sông trong cả nước, sau đó đến hệ thống sông Hồng
126,5 km
3
(14,9%), hệ thống sông Đồng Nai 36,3 km
3
(4,3%), sông Mã, Cả, Thu Bồn có tổng lượng
dòng chảy xấp xỉ nhau, khoảng trên dưới 20 km
3
(2,3 - 2,6%), các hệ thống sông Kỳ Cùng, Thái
Bình và sông Ba cũng xấp xỉ nhau, khoảng 9 km
ta.
II. THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, HẬU QUẢ VÀ GIẢI PHÁP
PHÒNG, CHỐNG SUY THOÁI, CẠN KIỆT VÀ Ô NHIỄM TÀI
NGUYÊN NƯỚC Ở VIỆT NAM
1. Thực trạng suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm tài nguyên nước hiện
nay ở Việt nam
Sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế - xã hội trong thế kỷ 21 sẽ làm gia tăng mạnh nhu
cầu dùng nước, đồng thời tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước. Việt Nam đang và sẽ phải đối
mặt với những thách thức để đảm bảo tài nguyên nước (cả về lượng và chất) cho sự phát triển
bền vững. Đó là:
• Nhu cầu nước sạch sinh hoạt và nước ph
ục vụ cho sản xuất ngày càng gia tăng.
• Sự suy thoái và cạn kiệt nguồn tài nguyên nước.
• Sự ô nhiễm nguồn nước.
(i) Nhu cầu nước sạch sinh hoạt và nước phục vụ cho sản xuất ngày càng gia tăng
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và sự gia tăng dân số, nhu cầu nước cho mọi lĩnh vực đều
tăng.
Sự tăng dân số kéo theo sự gia tăng về nhu cầu nước sạch cho sinh hoạt. Ở Việt Nam, mức bảo
đảm nước trung bình cho một người trong một năm từ 12.800 m
3
/người vào năm 1990, giảm còn
10.900 m
3
/người vào năm 2000 và có khả năng chỉ còn khoảng 8.500 m
3
/người vào khoảng năm
2020. Mức bảo đảm nước ở Việt Nam lớn hơn 2,7 lần so với Châu Á (3.970 m
3
/người) và 1,4 lần
so với thế giới (7.650 m
3
năm 2000 (chiếm 85%). Lượng nước cần dùng
trong mùa cạn rất lớn, nhất là lượng nước dùng cho nông nghiệp. Tổng lượng nước cần dùng cho
sản xuất trong mùa cạn năm 2000 đạt tới 70,7 km
3
, chiếm khoảng 42,4% tổng lượng nước có
khả năng cung cấp trong mùa cạn (bao gồm nước sông, nước dưới đất và nước do các hồ chứa
điều tiết). Vào khoảng năm 2010, tổng lượng nước cần dùng cho sản xuất trong mùa cạn có thể
tới 90 km
3
, chiếm khoảng 54% tổng lượng nước có thể cung cấp. Đặc biệt, ở không ít vùng và
lưu vực sông, lượng nước cần dùng cho sản xuất có thể gấp vài lần tổng lượng nước có thể cung
cấp, tức là không chỉ vượt quá xa ngưỡng lượng nước cần có để duy trì sinh thái, mà còn không
có nguồn nước tại chỗ để cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất. Hiện nay, vẫn còn hơn 60% dân
số nông thôn sử dụng nước không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh. Có nhiều vùng gặp khó khăn về
nguồn nước như các vùng bị nhiễm mặn (ước tính có hơn 13 triệu người sống tại các vùng này),
các vùng núi cao và các vùng đá vôi. Những vùng này được đặc trưng bởi nước ngầm ở rất sâu
và không có hoặc rất hiếm nước mặt.
(ii) Tình trạng suy thoái, cạn kiệt nguồn nước
Nguồn nước ngọt không phải là vô tận. Tuy nhiên việc khai thác nước ngầm bừa bãi, tuỳ tiện như
hiện nay đã, đang và sẽ làm cho nguồn nước ngày càng khan hiếm. Những hoạt động tự phát,
không có quy hoạch của con người như chặt phá rừng bừa bãi để lấy đất trồng cà phê, làm nương
rẫy, lấy gỗ, củi đã làm cạn kiệt nguồn nước vào mùa khô, làm tăng tốc độ xói mòn đất, lũ lụt thêm
trầm trọng vào mùa mưa. Ở Tây Nguyên, việc khai thác nước ngầm để tưới cây công nghiệp làm
cho mực nước ngầm bị hạ thấp, một số nơi bị cạn kiệt. Các vùng phụ cận Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh, nước ngầm bị khai thác không hợp lý, vượt quá khả năng tái nạp của các tầng chứa
nước dẫn đến hiện tượng sụt giảm nước ngầm và sụt lún đất.
Tình hình khai thác nước ngầm tại một số khu vực
Khu vựcLưu lượng khai thác (m
3
Ô nhiễm nước mặt do các chất thải công nghiệp và hoá chất nông nghiệp. Mức độ phú dưỡng
các hồ nội địa gia tăng. Một số vùng cửa sông
đang bị ô nhiễm dầu, kim loại nặng, thuốc trừ sâu.
Chất lượng nước ở thượng lưu của hầu hết sông ở Việt Nam nhìn chung còn khá tốt, nhưng ở hạ
lưu thì mức độ ô nhiễm ngày càng tăng, đặc biệt là vào mùa khô. Một số chất độc hại cho con
người và sinh thái như kim loại nặng, hoá chất bảo vệ thực vật Mức độ ô nhiễm ở một số sông
chính đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 - 6 lần. Nước mặt (hồ, ao, kênh rạch và sông nhỏ)
ở các đô thị lớn (như Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Huế …), nơi có nhiều chất thải từ các
khu công nghiệp, dân cư, bị ô nhiễm nặng, quá tiêu chuẩn cho phép từ 5 - 10 lần.
Ảnh: Lưu Thủy (Vietimes), ngày 7/3/2008
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường tháng 4/2007, có đến 70% các dòng sông đang
phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm, trong đó nặng nề nhất là hệ thống 3 sông (sông Cầu, sông
Nhuệ - Đáy và sông Đồng Nai). Những con sông này đã trở nên hôi thối, độc hại, nguồn thuỷ sản
bị huỷ hoại và ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống và sức khoẻ của cộng đồng.
Các tỉnh liên quan tới lưu v
ực sông Cầu gồm: Bắc Kạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc
Giang, Hải Dương, Hà Nội. Hiện nay, mỗi năm sông Cầu phải tiếp nhận thêm ít nhất 180.000 tấn
phân hóa học và 1.500 tấn thuốc trừ sâu từ sản xuất nông nghiệp. Có 800 cơ sở sản xuất công
nghiệp, 200 làng nghề và 1.200 cơ sở y tế trong khu vực có mật độ dân số lên đến 427 người/
km
2
, cao gấp đôi mật độ dân số trung bình trong cả nước. Rác thải từ sản xuất nông nghiệp và
rác thải sinh hoạt của người dân là một trong những thủ phạm chính gây ra tình trạng ô nhiễm
nghiêm trọng ở lưu vực sông Cầu. Ngoài sản xuất nông nghiệp, công nghiệp cũng góp phần gây
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
14
ô nhiễm nghiêm trọng. Nước thải của nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ giữa thành phố Thái Nguyên
xả thẳng vào các nhánh nhỏ đổ ra sông Cầu mang theo các chất vô cơ, xơ sợi khó lắng và độ
kiềm cao. Khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên cũng đổ vào sông Cầu một lưu lượng khoảng
1,3 triệu m
Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long cũng đang bị ô nhiễm nặng từ khoảng 2 triệu tấn phân hóa
học gần 500.000 tấn thuốc bảo vệ
thực vật, gây ra sự tồn dư hóa chất độc hại, ngày đêm ngấm
vào lòng đất hoặc tuôn chảy ra sông rạch một cách vô tội vạ.
Ở nông thôn Việt Nam, ô nhiễm nguồn nước đang ở trong tình trạng báo động, trầm trọng nhất
là ở các làng nghề. Kết quả điều tra, khảo sát gần đây của Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy
100% mẫu nước thải đều vượt quá tiêu chuẩ
n cho phép. Các chỉ số chất cặn lắng, hòa tan, vi sinh
vật tại các sông rạch cũng đều cao hơn từ 2 đến 3 lần, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người.
(Nguồn: Lưu Thủy. Tiếng thét của những dòng sông quê ngoắc ngoải. Vietimes, ngày 7/3/2008).
Ô nhiễm nước biển:
Nước ta có hơn 3.000 km đường bờ biển. Biển mang lại nhiều lợi ích cho nước ta: là nơi nuôi
dưỡng và cung cấp nguồn hải sả
n lớn nhất và là nơi khai thác muối. Biển điều hoà khí hậu, là
nơi cho mọi người đến nghỉ ngơi, an dưỡng. Tuy nhiên, nước biển đã bắt đầu bị ô nhiễm bởi chất
rắn lơ lửng (cao nhất là vùng ven biển đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long), nitrat, nitrit,
coliform (chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long), dầu và kim loại kẽm. Hiện tượng thủy triều đỏ đã
xảy ra đối với nước biển Việt Nam. Trong đó vùng biển nam trung bộ, đặc biệt tỉnh Bình Thuận
là nơi hiện tượng này thường xảy ra nhất. Đó là sự nở hoa của các loài vi tảo biển. Đây là một
hiện tượng tự nhiên xảy ra do mật độ tế bào vi tảo gia tăng lên đến hàng triệu tế bào/lít (thông
thường có khoảng 10 - 100 tế bào vi tảo/ml, nhưng trong trường hợp nở hoa mật độ có thể lên
trên 10.000 tế bào/ml) làm biến đổi màu của nước biển từ xanh lục đậm, đỏ cho đến vàng xám
(người dân ven biển thường gọi là nước cám, nước mùn cưa, bột báng). Hầu hết các loài vi tảo
biển nở hoa ảnh hưởng xấu đến MT làm hàm lượng ôxy hòa tan suy giảm nhanh chóng, gây ảnh
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
15
hưởng nghiêm trọng đến đời sống thủy sinh vật. Nguyên nhân của hiện tượng trên có liên quan
đến các yếu tố MT như nhiệt độ, độ mặn và hàm lượng muối dinh dưỡng cũng như các trường khí
- thủy văn. Các chất thải từ hoạt động của con người như nuôi trồng thủy sản thiếu quy hoạch,
sản xuất giống thủy sản và nuôi lồng các loài tôm hùm, cá mú đã thải ra MT lượng dinh dưỡng
• Nạn phá rừng gây ra lũ, lụt đã đưa các chất thải bẩn, các xác chết sinh vật và vi sinh vật
có hại vào nguồn nước, đồng thời làm giảm khả năng giữ, trữ, điều hoà nguồn nước.
• Khai thác, sử dụng nước quá mức đã dẫn đến suy giảm về chất lượng và số lượng nguồn
nước.
• Nước biển bị
ô nhiễm cũng do hoạt động của con người như các khu dân cư đô thị ven biển,
hoạt động công nghiệp tập trung ven biển, khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, giao thông vận
tải và sự cố tràn dầu, khai thác khoáng sản (than, dầu thô) làm gia tăng làm ô nhiễm nước
biển khiến sinh vật biển chết hàng loạt, khai thác du lịch nhưng không bảo vệ môi trường
biển
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
16
Hình 2: Nguồn gây ô nhiễm nước ngầm
• Người dân chưa nhận thức rõ vai trò của nước và tầm quan trọng của việc bảo vệ tài
nguyên nước, đã và đang có những việc làm gây ô nhiễm nước như:
+ Rửa dụng cụ, đổ hoá chất độc hại dư thừa sau khi sử dụng vào nguồn nước.
+ Làm nhà vệ sinh, chuồng gia súc gần giếng nước, phóng uế bừa bãi, thả rông gia súc.
Khi có mưa xuống thì các chất thải này ngấm vào lòng đất hoặc ch
ảy tràn vào các nguồn
nước gây ô nhiễm.
+ Đổ rác thải ra sông, suối, bờ biển
+ Chặt phá rừng lấy đất làm nương rẫy, lấy gỗ, củi
+ Đục trộm ống dẫn nước công cộng, làm cho các chất gây ô nhiễm, các vi khuẩn theo
đường ống vào nguồn nước sạch.
+
• Cuộc sống của người dân, nhất là vùng nông thôn, vùng có nhiều rừng còn khó khăn, họ
chỉ quan tâm đến thoả mãn nhu cầu về ăn, m
ặc, mà không chú ý đến bảo vệ sức khoẻ, bảo
vệ môi trường.
• Người dân chưa nhận thức rõ quy định pháp luật về chống ô nhiễm môi trường nước, chưa
thể gây ung thư, thiếu ôxy trong máu, suy dinh dưỡng, gảm trí thông minh, chậm biết đọc, biết
viết ở trẻ em
Đối với kinh tế - xã hội
Nước bị cạn kiệt sẽ không thể đủ cho sản xuất và tiêu dùng, đặc bi
ệt đối với sản xuất nông
nghiệp.
Nước bị ô nhiễm gây tổn thất cho ngành thuỷ sản, làm cho tôm, cua, cá và các sinh vật khác bị
biến dạng hoặc bị chết. Việc nuôi trồng thuỷ sản không có hệ thống xử lý nước cấp và nước thải
đã dẫn tới việc lan nhiễm bệnh và bùng phát bệnh ở tôm, cá.
Nước biển bị ô nhiễm khiến các loài sinh vật biển bị cạn kiệ
t, ảnh hưởng đến tính đa dạng sinh
học, đến ngành du lịch
Suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm nước ảnh hưởng đến sức khoẻ, đến nền kinh tế, đến phát triển
giáo dục, văn hoá vì vậy sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của cộng đồng, quốc gia.
4. Các giải pháp phòng, chống suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm tài
nguyên nước
Để bảo vệ tài nguyên nước vì sự phát triển bền vững của cộng đồng, quốc gia cần thực hiện hệ
thống các giải pháp đồng bộ như:
• Nâng cao nhận thức của toàn xã hội, của các cấp lãnh đạo, của người dân, của các cơ sở
sản xuất, nhà máy, xí nghiệp … về vai trò của nước, về thực trạng khan hiếm và ô nhiễm
nước hiện nay để từ đ
ó có ý thức tiết kiệm và bảo vệ các nguồn nước khỏi bị ô nhiềm (Nước
ngầm, nước mặt, nước biển).
• Tuyên truyền thay đổi phong tục, tập quán, thói quen lạc hậu, làm ô nhiềm môi trường và
sử dụng lãng phí nước.
• Hoàn thiện luật pháp, tăng cường việc thực thi pháp luật, chế tài xử phạt các hành vi vi
phạm pháp luật.
• V.v…
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
18
kéo dài.
Đối với nhân dân các xã vùng ven biển khu 3 thuộc huy
ện Phú Lộc khó khăn còn triền miên hơn.
Tỉnh Thừa Thiên - Huế đã có phương án đưa nước từ hồ chứa nước Tả Trạch, vượt phá Tam Giang
về phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân 7 xã trên địa bàn nhưng đến nay vẫn chưa
tìm được phương án khả thi, người dân cứ phải sống trong mong đợi
Nguồn: Quốc Việt Bộ Tài nguyên và Môi trường. www.monre.gov.vn, ngày 15/02/2008
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
20
Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tê cả nước, tỉnh Phú Thọ cũng từng bước đi lên trên mọi lĩnh
vực. Tuy nhiên, song song với sự phát triển kinh tế xã hội, vấn đề ô nhiễm và suy thoái môi trường cũng có
chiều hướng tăng lên. Theo đó, vấn đề bức xúc nảy sinh là thực tế lượng rác thải ngày càng tăng và thành
phần ngày càng đa dạng. Vấn đề môi trường đang được quan tâm, nhưng ý thức người dân còn thấp nên
việc bảo vệ môi trường còn gặp nhiều khó khăn. Đáng lo ngại là bệnh ung thư ở một số xã trong tỉnh có chiều
hướng gia tăng. Môi trường tỉnh hiện bị ô nhiễm khá nặng nề, nhất là các khu vực gần khu công nghiệp, công
ty, nhà máy lớn như: khu công nghiệp Việt Trì, công ty Supe phốt phát Lâm Thao, nhà máy pin Vĩnh Phú,
công ty giấy Bãi Bằng, tiếp đến là các khu vực thị xã, thị trấn, nơi tập trung đông dân cư và các nhà máy, xí
nghiệp địa phương. Song không những ở vùng đô thị, thị tứ mà ngay cả vùng nông thôn vấn đề môi trường
rác thải, làm sao có nguồn nước sạch đáp ứng nhu cầu sử dụng của nông dân đang trở thành vấn đề đáng
lo ngại. Đối với khu vực nông nghiệp nông thôn, chăn nuôi là thành phần kinh tế quan trọng. Nhiều nơi chăn
nuôi đóng vai trò quyết định của nền kinh tế địa phương.
Toàn tỉnh hiện có 97 nghìn con trâu, 163 nghìn con bò, 552 nghìn con lợn và hơn 8.000 nghìn con gia cầm.
Thực tế chăn nuôi với hệ thống chuồng trại tuỳ thuộc vào từng loại gia súc và từng vùng. Ở vùng núi, chuồng
trại chăn nuôi rất sơ sài và chủ yếu thả rông thành từng đàn. Vùng trung du và đồng bằng có chuồng trại
kiên cố hơn, nhưng cũng chưa đảm bảo vệ sinh môi trường. Theo thống kê của Trung tâm nước sinh hoạt
và vệ
sinh môi trường nông thôn, có đến 80% số hộ ở đồng bằng, 87,5% ở trung du và 83,6% ở vùng núi
chăn nuôi gia súc, trong khi đó tỷ lệ số hộ chăn nuôi không cọ rửa chuồng trại lần lượt là 9,2%, 30,6% và
20,9% ở vùng đồng bằng, trung du và miền núi. Điều này cho thấy, chính khu vực chăn nuôi gia súc là một
C.A Website Phú Thọ, ngày 28/03/2008
Phụ lục 2
BỨC XÚC TỪ MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
21
Do thời gian gần đây lượng mưa ít, cộng với nước thải ở Hà Tây và Hà Nội theo sông Đáy và sông
Nhuệ tiếp tục đổ về đã dẫn tới nguồn nước nhiều dòng sông, kênh mương và ao hồ ở khu vực
tỉnh Hà Nam ô nhiễm nặng nề, làm nhiều loài động vật thuỷ sinh bị chết hàng loạt và nhiều nhất
là vào những ngày giữa tháng 12/2007.
Nhiều đặc biệt nghiêm trọng là: do kém hiểu biết nên m
ột số hộ dân địa phương đã vớt cá chết
mang ra chợ bán cho người tiêu dùng làm thực phẩm. Không ít người, nhất là một số gia đình
nghèo đã ham đồ rẻ mua về chế biến cho gia đình sử dụng. Sau khi phát hiện việc này, Trung tâm
Y tế dự phòng tỉnh Hà Nam đã có những thông tin cảnh báo về việc cá chết là những thực phẩm
bị ô nhiễm, có thể gây nguy hiểm cho người sử dụng. Để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, dự
phòng những trường hợp ngộ độc do sử dụng thủy sản bị ô nhiễm, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh
Hà Nam đã khuyến cáo người dân không vớt cá và các loại thủy sản chết tại sông Đáy, sông Nhuệ
để bán hoặc sử dụng làm thực phẩm và đưa ra những hình thức hướng dẫn người dân cách lựa
chọn cá tươi. Chính quyền địa phương ven sông Đáy, sông Nhuệ cũng được yêu cầu tăng cường
kiểm tra, giám sát, hướng dẫn người dân tiêu hủy cá chết và không sử dụng các loại thủy sản
trên sông làm thực phẩm trong giai đoạn nước sông bị ô nhiễm nặng.
Nguồn: Hồng Ninh. Bộ Tài nguyên và Môi trường. www.monre.gov.vn, ngày 24/12/2007
Phụ lục 3
NƯỚC SÔNG ĐÁY, SÔNG NHUỆ Ô NHIỄM NẶNG,
LÀM NHIỀU LOÀI ĐỘNG VẬT THUỶ SINH KHU
VỰC TỈNH HÀ NAM BỊ CHẾT HÀNG LOẠT
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
22
Quy định về bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp (KCN) được đề cập dưới rất nhiều hình
thức khác nhau, trong các văn bản luật, nghị định, quyết định, chỉ thị về các vấn đề bảo vệ môi
sáu KCN mới tập trung đã cơ bản hoàn thành hạ tầng kỹ thuật (Nội Bài, Sài Đồng B, Bắc Thăng
Long) và thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Trong đó, chỉ có KCN Bắc Thăng Long xây dựng
hệ thống xử lý nước thải tập trung, còn KCN Nội Bài xây dựng trạm xử lý nước thải sinh hoạt.
Trong tổng số 13 cụm công nghiệp vừa và nhỏ chỉ có cụm công nghiệp vừa và nhỏ Cầu Giấy hoàn
thành xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, còn lại đều chưa thực hiện đầu tư xây dựng
các trạm xử lý nước thải, v.v
Theo chúng tôi có ba nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nhiều KCN gây ô nhiễm môi trường.
Thứ nhất là, công tác quy hoạch KCN còn bộc lộ nhiều điểm bất hợp lý. Một số KCN được bố trí
gần đường giao thông, có khoảng cách quá gần so với khu dân cư, do đó, ô nhiễm trong KCN
dễ dàng gây nên những ảnh hưởng không tốt tới môi trường chung quanh KCN. Một số KCN xây
dựng cơ sở hạ tầng không tuân thủ quy hoạch, không xây dựng hệ thố
ng thoát nước thải riêng
với hệ thống thoát nước mưa. Các cơ quan nhà nước ở địa phương và trung ương chưa có chế
tài ràng buộc và giám sát chặt chẽ việc thực hiện xây dựng KCN theo quy hoạch và theo đúng dự
án nghiên cứu khả thi đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Thứ hai là, ý thức bảo vệ môi trường của một số chủ đầu tư xây dựng hạ tầng KCN và nhà đầu
tư vào các KCN còn hạn chế. Sự mâu thuẫn lợi ích - chi phí khi xây dựng hệ thống xử lý chất thải
Phụ lục 4
NHIỀU KHU CÔNG NGHIỆP HOẠT ĐỘNG NHƯNG
CHƯA CÓ HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI TẬP TRUNG
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
23
cùng với việc chưa có cơ chế hỗ trợ thoả đáng từ phía Nhà nước đã khiến cho các nhà đầu tư
chậm triển khai việc xây dựng hệ thống xử lý chất thải tập trung cho KCN.
Thứ ba là hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường trong KCN chưa hoàn chỉnh. Chưa hình thành
hệ thống các quy định thống nhất về công tác quản lý môi trường trong KCN theo các loại hình
ô nhiễm (rắn, lỏng, khí) và ch
ưa thích hợp với đặc điểm phổ biến hiện nay của KCN là đa ngành
đòi hỏi phải quản lý ô nhiễm theo từng ngành và theo cả hệ thống trong KCN.
Để tăng cường hoạt động bảo vệ môi trường ở các KCN, chúng tôi kiến nghị các cấp có thẩm
cảnh sát môi trường.
Nguồn: Hà Hồng. Nhân dân, ngày 11/11/2008
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
24
Các bãi tắm của Phan Thiết (Bình Thuận) cả tuần qua ngập màu đỏ của trứng báng (hoa tảo).
Xác cá chết và rong tảo bị đánh trôi vào bờ bốc mùi hôi thối gây ô nhiễm môi trường.
Thay vì được thư giãn với sóng biển, khách du lịch đến Phan Thiết phải chuyển sang các trò chơi
tập thể trên cát. Không ít du khách Sài Gòn thất vọng vì cuối tuần cất công ra Hòn Rơm nhưng
không chạm được chân vào nước biển.
Ghi nhận của VnExpress hôm chủ nhật 13/7, hầ
u hết bãi tắm tại thành phố biển Phan Thiết chìm
trong màu nước đỏ đen của những vạt tảo và những cánh lá rong biển trộn trong nước với mật
độ dày đặc. Đây là loại thực vật có hoa chứa nước màu đỏ to bằng viên bi (thường được dân địa
phương gọi là trứng báng). Không chỉ làm bẩn mặt biển, khi chạm vào da người, trứng báng và
lá rong còn gây ngứa.
Tại hai bãi tắm Hòn Rơm 1 và 2, nơi thường t
ập trung nhiều du khách, nước biển ở khu vực gần
bờ chỉ sạch lúc rạng sáng. Tuy nhiên xác cá chết và rong tảo bị đánh trôi vào bờ lại bốc mùi hôi
thối gây ô nhiễm môi trường.
Theo ngư dân Phan Thiết, dịch tảo đỏ là hiện tượng thiên nhiên thường diễn ra khoảng một tuần
vào tháng 6 âm lịch hàng năm. Riêng hè năm nay, hiện tượng này kéo dài bất thường đến gần
một tháng và chưa có dấu hiệu giảm bớt.
Người dân địa phương cho biết, thủy triều đỏ từng tấn công bờ biển phía bắc Bình Thuận vào
tháng 7/2002. Lần đó hoa tảo không chỉ làm giảm lượng khách du lịch đến Bình Thuận mà còn
gây ô nhiễm khiến hàng loạt trại cá mú nuôi lồng của ngư dân bị chết.
Theo đại diện Viện Hải dương học, thủy triều đỏ được tạo ra bởi loại thực vật có tên Phaeocystis
of globosa. Tại Bình Thuận, hi
ện tượng hoa tảo tràn bờ thường xảy ra vào mùa hè.
Cũng có nhiều khách du lịch trẻ tuổi, vì tiếc chuyến du lịch cuối tuần ở Phan Thiết đã liều mình
xông xuống biển tắm nhưng cũng chỉ vài phút là lên bờ vì không chịu được mùi hôi thối và ngứa