Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
25
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
26
Tài nguyên nước có vai trò đặc biệt đối với cuộc sống của mọi người, đối với sự phát triển bền
vững của các cộng đồng, quốc gia. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, mà chủ yếu do hoạt động
của con người, tài nguyên nước hiện nay đang bị cạn kiệt, suy thoái và ô nhiễm nghiêm trọng,
đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống và sức khoẻ của con người, tới các hoạt động
kinh tế, văn hoá, xã hội của các cộng đồng nói riêng và của quốc gia nói chung.
Vì vậy, cần thiết và cấp bách phải nâng cao nhận thức của mọi người dân về tầm quan trọng của
việc bảo vệ tài nguyên nước, về thực trạng bảo vệ tài nguyên nước hiện nay và các chủ trương,
chính sách của Đảng, Nhà nước và qui đinh pháp luật có liên quan.
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC
1. Một số khái niệm có liên quan
Theo Luật Tài nguyên nước 1998
Tài nguyên nước bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển thuộc lãnh
thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nước biển, nước dưới đất thuộc vùng đặc quyền
kinh tế, thềm lục địa được quy định tại các văn bản pháp luật khác. Nước khoáng, nước nóng
thiên nhiên do Luật khoáng sản quy định.
Bảo vệ tài nguyên nướ
c là biện pháp phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, bảo đảm an
toàn nguồn nước và bảo vệ khả năng phát triển tài nguyên nước.
Phát triển tài nguyên nước là biện pháp nhằm nâng cao khả năng khai thác, sử dụng bền vững
tài nguyên nước và nâng cao giá trị của tài nguyên nước.
2. Một số hiểu biết chung về bảo vệ tài nguyên nước
Quan điểm:
Tài nguyên nước là thành phần chủ yếu của môi trường sống, là yếu tố đặc biệt quan trọng bảo
đảm thực hiện thành công các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, bảo
đảm quốc phòng, an ninh quốc gia.
Tài nguyên nước thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Mọi tổ chức, cá nhân
có quyền khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho nhu cầu đời sống và sả
• Nhà nước có kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn và các loại rừng khác,
xây dựng công trình thuỷ lợi, khôi phục nguồn nước b
ị suy thoái, cạn kiệt; khuyến khích tổ
chức, cá nhân khai thác, sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm để bảo vệ tài nguyên nước.
• Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nguồn nước phải tuân theo các quy định về phòng,
chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước.
Bảo vệ nước dưới đất
Điều 12, Luật tài nguyên nước quy định Bảo vệ nước dưới đất như sau
• Tổ chức, cá nhân khoan th
ăm dò địa chất, khoan thăm dò nước dưới đất, xử lý nền móng
công trình phải thực hiện các biện pháp để bảo vệ tài nguyên nước dưới đất theo quy định
của pháp luật.
• Tổ chức, cá nhân khai thác nước dưới đất phải tuân theo các quy trình, quy phạm về an
toàn kỹ thuật và chống sụt lún, về bảo vệ các tầng chứa nước và môi trường liên quan, về
san, lấp sau khi khai thác.
• Tổ chức, cá nhân khai khoáng, xây dựng công trình ngầm dướ
i đất, thi công công trình
khai thác nước dưới đất phải tuân theo quy trình, quy phạm về an toàn kỹ thuật, chống suy
thoái, cạn kiệt nguồn nước dưới đất và gây sụt lún nghiêm trọng mặt đất.
Bảo vệ chất lượng nguồn nước sinh hoạt
Điều 14, Luật tài nguyên nước quy định Bảo vệ chất lượng nguồn nước sinh hoạt như sau
• Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện các biện pháp vệ sinh môi trường
để bảo vệ
nguồn nước sinh hoạt.
• Cấm xả nước thải, đưa các chất thải gây ô nhiễm vào vùng bảo hộ vệ sinh của khu vực lấy
nước sinh hoạt.
• Uỷ ban nhân dân các cấp quy định vùng bảo hộ vệ sinh của khu vực lấy nước sinh hoạt
trong phạm vi địa phương.
Bảo vệ chất lượng nước trong sản xuất nông nghiệp, nuôi, trồng thuỷ, hải sả
n, sản
Tổ chức, cá nhân được phép xả nước thải vào nguồn nướ
c có những quyền sau đây:
• Được đền bù thiệt hại theo quy định của pháp luật trong trường hợp cơ quan có thẩm
quyền cấp giấy phép xả nước thải thay đổi vị trí hoặc rút ngắn thời hạn cho phép xả nước
thải.
• Khiếu nại, khởi kiện về hành vi vi phạm quyền xả nước thải và lợi ích hợp pháp khác theo
quy định của pháp luật.
Tổ chức, cá nhân được phép x
ả nước thải vào nguồn nước có những nghĩa vụ sau đây:
• Thực hiện việc xử lý nước thải để đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi xả vào nguồn nước;
nếu vi phạm những quy định về việc xả nước thải mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
• Nộp lệ phí cấp phép, phí xả nước thải vào nguồn nước theo quy định của pháp luật.
II. THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP BẢO VỆ
TÀI NGUYÊN NƯỚC
1. Thực trạng bảo vệ tài nguyên nước
Vấn đề bảo vệ tài nguyên nước đã được Đảng và Nhà nước quan tâm và có nhiều chủ trương,
chính sách và đã được thể chế hoá trong Luật Bảo vệ môi trường và đặc biệt trong Luật Tài
nguyên nước năm 1998.
Tuy nhiên, nhận thức, ý thức bảo vệ tài nguyên nước của người dân, của các tổ chức, các bệnh
viện, các nhà máy, xí nghiệp, doanh nghiệp, làng nghề còn nhiều hạn chế. Các cá nhân, tổ
chức, doanh nghiệp còn chạ
y theo lợi nhuận kinh tế, không đầu tư cho việc xử lí rác thải, nước
thải trước khi thải vào môi trường đất, nước. Việc giám sát, quản lí bảo vệ tài nguyên nước con
nhiều bất cập. Việc phát hiện các hành vi vi phạm còn chậm. Nhiều bệnh viện, doanh nghiệp, làng
nghề sau nhiều năm mới bị phát hiện. Việc xử lí chưa nghiêm, chưa đủ mạnh để răn đe.
Nguồn nước ng
ầm, nước mặt, nước biển hiện bị ô nhiễm nghiêm trọng, đã và đang ảnh hưởng
tới cuộc sống, sức khỏe, bệnh tật của người dân, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của cộng
đồng, quốc gia.
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
tổ chức cấp nước sạch cho nông thôn.
Khó khăn kỹ thuật và thiên tai:
• Thời gian gần
đây khí hậu thời tiết có những biến động thất thường, lũ lụt và hạn hán xẩy
ra ở nhiều địa phương. Một số nơi nguồn nước cạn kiệt đang trở thành vấn đề nghiêm trọng
cho cả sản xuất và sinh hoạt.
• Các làng chài ven biển có mật độ dân số rất cao nhưng lại thiếu nước sạch và không có nhà
vệ sinh nên người dân đổ các chất thải ra sông, biể
n gây ô nhiễm nước. Các làng nghề môi
trường bị ô nhiễm nghiêm trọng do chưa có các biện pháp kỹ thuật xử lý đúng mức.
• Ô nhiễm do chuồng trại gia súc và thuốc trừ sâu cũng là một vấn đề lớn cần được giải quyết
bằng kỹ thuật.
• Chưa có các trung tâm chuyển giao công nghệ và sản xuất cung ứng các vật tư thiết bị cho
cấp nước sạch sinh hoạt nông thôn
•
3. Các giải pháp bảo vệ tài nguyên nước
Để bảo vệ nước, cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau
a. Nâng cao hiệu quả, tiết kiệm dùng nước trong tất cả các ngành sản xuất vụ sinh hoạt
• Về nông nghiệp: cần thực hiện các biện pháp tưới tiết kiệm nước, giảm tổn thất nước bằng
cách kiên cố hoá hệ thống kênh mương, nâng cấp công trình đầu mối, nâng cao hiệu quả
quản lý; chuyể
n đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ưu tiên phát triển các cây con có nhu cầu
sử dụng nước thấp, hiệu quả kinh tế cao; tích cực phòng chống ô nhiễm nước; sử dụng các
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
30
hoá chất nông nghiệp theo đúng các quy định và hướng dẫn kỹ thuật.
• Về công nghiệp vụ thủ công nghiệp kiểu làng nghề: cần nâng cao hiệu quả sử dụng nước;
tái sử dụng nước; xây dựng bể nước; xây dựng và hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải; tích
cực phòng chống ô nhiễm nước; thực hiện nghiêm túc các luật pháp, quy định về quản lý
nước thải.
• Pha loãng: áp dụng với những lưu vực sông lớn, khả năng tự
làm sạch của sông lớn khi
lượng chất ô nhiễm ít.
• Ao ôxy hoá: là biện pháp dồn nước thải vào một cái ao, khi nước thải lưu lại thì diễn ra
quá trình phân huỷ sinh học, hoá học Sau đó nước thải sẽ hạn chế được qúa trình gây
ô nhiễm.
c. Các hành động cụ thể để tiết kiệm nước
• Không nên để vòi nước chảy tràn, liên tục khi đang giặt quần áo, hoặc rửa rau, rửa bát.
• Không nên để nước tràn bể
. Khi bể nước đầy nhớ khoá vòi lại hoặc lắp van phao.
• Tận dụng nước rửa rau, vo gạo để tưới cây
• Khoá vòi hoặc nút đường ống lại khi không dùng nước.
• Tận dụng nước mưa trong sinh hoạt. Tuy nhiên không nên lấy và dùng ngay nước mưa của
trận mưa đầu mùa và nước mưa ở các khu công nghiệp.
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
31
d. Các hành động cụ thể chống làm ô nhiễm nguồn nước
• Không được đục ống nước trái phép để lấy cắp nước.
• Bảo vệ môi trường sạch sẽ. Dọn sạch dòng sông và xung quanh bờ.
• Không xả nước thải, rác thải vào nguồn nước.
• Nơi đổ rác và nhà vệ sinh, chuồng nuôi gia súc phải xa nguồn nước.
• Trồng cây, gây rừng, phủ xanh đồi trọc. Trồng nhiều cây trên bờ sông để bảo vệ và chố
ng
xói mòn, lở đất.
• Nên dùng phân hữu cơ, hạn chế dùng phân hoá học.
• Thay đổi công nghệ sản xuất sạch, giảm lượng khí thải, dùng nước khép kín.
• Xây dựng hệ thống thu gom xử lý nước thải, khí thải.
•
III. CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC
VÀ MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
Không được đổ đất, đá, cát, sỏi, chất thải rắn, nước thải chưa qua xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
32
và các loại chất thải khác vào nguồn nước mặt của hồ, ao, kênh, mương, rạch.
Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến 2020 theo quyết định số 81/2006/QĐ-TTg, ngày
14/4/2006 của Thủ tướng chính phủ đã nêu rõ nguyên tắc và mục tiêu bảo vệ tài nguyên nước
như sau:
Nguyên tắc chỉ đạo
1. Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước phải được thực hiện đồng bộ, từng bước và có trọ
ng
điểm. Việc thực hiện chiến lược vừa mang tính cấp bách vừa có tính lâu dài, góp phần quan trọng
vào việc thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước từ nay đến năm 2020 và
các năm tiếp theo.
2. Việc quản lý, bảo vệ, phát triển tài nguyên nước phải bảo đảm tính hệ thống của lưu vực sông,
không chia cắt theo địa giới hành chính, đồng thời bảo đảm di
ễn thế tự nhiên của các hệ sinh
thuỷ, các thuỷ vực và hệ sinh thái, đặc biệt là cỏc loài thuỷ sản quý, hiếm, có giá trị khoa học,
kinh tế; bảo tồn và phát triển tính đa dạng, độc đáo của hệ sinh thái thuỷ sinh Việt Nam.
3. Tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về tài nguyên nước; nâng cao trách nhiệm
của các tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nướ
c, phòng, chống
và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra.
4. Phát triển kinh tế - xã hội phải gắn với khả năng nguồn nước, với việc bảo vệ và phát triển tài
nguyên nước. Khai thác, sử dụng tài nguyên nước phải mang tính tổng hợp, đa mục tiêu, kết hợp
hài hoà lợi ích của từng ngành, từng địa phương và cộng đồng trong mối quan hệ tổng thể giữa
thượng lư
u và hạ lưu, giữa các vùng, khu vực, bảo đảm tính cân đối, có trọng điểm nhằm đạt
hiệu quả kinh tế - xã hội cao và bảo vệ môi trường.
5. Đầu tư cho bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên nước là đầu tư cho phát triển, mang lại
hiệu quả kinh tế - xã hội cả trước mắt và lâu dài. Nhà nước bảo đảm các nguồn lực đầu tư cần
ng sinh học.
Về khai thác, sử dụng tài nguyên nước
a) Khai thác, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên nước. Bảo đảm việc khai thác nước
không vượt quá ngưỡng giới hạn khai thác đối với các sông, không vượt quá trữ lượng có thể khai
thác đối với các tầng chứa nước, chú trọng đối với các dòng chính trên các lưu vực sông lớn và
các tầng chứa nước quan trọng của các vùng kinh tế trọng điểm.
b) Phân bổ, chia sẻ tài nguyên nước hài hòa, hợp lý giữa các ngành, các địa phương, ưu tiên
sử dụng nước cho sinh hoạt, sử dụng nước mang lại giá trị kinh tế cao, bảo đảm dòng chảy môi
trường; trước mắt đến năm 2010 thực hiện phân bổ tài nguyên nước bảo đảm khai thác có hiệu
quả 10,5 triệu ha đấ
t trồng cây hàng năm và cây lâu năm với mục tiêu đạt sản lượng lương thực
an toàn từ 39 đến 40 triệu tấn/năm; bảo đảm tổng công suất các nhà máy thủy điện đạt khoảng
13.000 - 15.000 MW; nuôi trồng thủy sản nước ngọt khoảng 0,64 triệu ha, nước lợ khoảng 0,8
triệu ha; tăng lượng nước cấp cho công nghiệp 70% - 80% so với mức năm 2000.
c) Đạt hiệu quả tổng hợp v
ề kinh tế, xã hội, môi trường trong cả mùa lũ lẫn mùa kiệt của các hệ
thống hồ chứa nước, đập dâng, chú trọng đối với các lưu vực sông Hồng - Thái Bình, Đồng Nai -
Sài Gòn, các lưu vực sông chính vùng Trung Bộ, Tây Nguyên.
d) Bảo đảm sự thống nhất giữa quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất,
quy hoạch phát triển rừng, yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với quy hoạch khai thác, sử
dụng tài nguyên nước và quy hoạch lưu vực sông ở cấp quốc gia cũng như ở cấp vùng và địa
phương.
đ) Hình thành thị trường cung ứng dịch vụ về nước với sự tham gia của các thành phần kinh tế
và thị trường chuyển nhượng, trao đổi giấy phép về tài nguyên nước.
Về phát triển tài nguyên nước
a) Bảo đảm an toàn các hồ chứa nước, chú trọng đối với các hồ chứa nước lớn, các hồ chứa có
khu dân cư tập trung hoặc các cơ sở chính trị, kinh tế, văn hóa, công trình quốc phòng, an ninh
quan trọng ở hạ du;
b) Hoàn thành cơ bản việc xây dựng các công trình chứa nước phục vụ đa mục tiêu, các công
b) Hình thành đồng b
ộ và bảo đảm hiệu lực hệ thống quản lý nhà nước về tài nguyên nước ở các
cấp; phát triển rộng rãi các tổ chức dịch vụ về tư vấn, khoa học công nghệ, cung ứng nước; phân
biệt rõ chức năng, nhiệm vụ giữa cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước với tổ chức quản
lý vận hành công trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước, cung cấp dịch vụ về nước.
c) Trình độ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực tài nguyên nước đạt mức trung bình tiên tiến ở
Châu Á và một số mặt đạt mức trung bình tiên tiến trên thế giới.
Điều.183 Bộ Luật hình sự về tội gây nhiễm nguồn nước quy định:
1. Người nào thải vào nguồn nước dầu mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá tiêu chuẩn cho
phép, các chất thải, xác động vật, thực vật, vi khuẩ
n, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng độc hại và gây
dịch bệnh hoặc các yếu tố độc hại khác, đều bị xử phạt hành chính mà cố tình không thực hiện
các biện pháp khắc phục theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền gây hậu quả nghiêm trọng,
thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm
hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.
4. Người phạm tội cũng có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm
đảm
nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến 5 năm.
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
35
KẾT LUẬN:
• Nước là một tài nguyên vô cùng quý giá và không vô tận. Bảo vệ tài nguyên là vô cùng
quan trọng đối với cuộc sống không chỉ của thế hệ hôm nay mà còn cả cho tương lai. Bảo
vệ tài nguyên nước là một nhiệm vụ để hướng tới phát triển bền vững.
• Tài nguyên nước của Việt Nam đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệt.
Bảo vệ tài nguyên nước là trách nhiệm của các cấp quản lý, các ban ngành, đoàn thể, của
mỗi người dân và cộng đồng.
• Cần bảo vệ tài nguyên nước trong mọi lĩnh vực sản xuất, trong sinh hoạt.
t tiêu chuẩn vệ
sinh. Ước tính mới có khoảng 30% dân số có nguồn nước tương đối sạch, trong đó chỉ có khoảng
10% đạt tiêu chuẩn quốc gia về nước sạch. Một số vùng còn thiếu cả nước dùng cho sinh hoạt
với số lượng tối thiểu chứ chưa nói đến chất lượng nước như: vùng bị nhiễm mặn ở ven biển, hải
đảo, vùng núi cao, các vùng sâu vùng xa, vùng biên giới, vùng đá vôi castơ và trong thời gian
gần đây là các vùng bị hạn hán như Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Hoà Bình,
Cao Bằng, Hà Giang.
Dưới đây là một số cách nhận biết và cách làm sạch nước một cách sơ bộ có thể áp dụng tại gia
đình
1. Nhận biết nước sạch
Theo kinh nghiệm dân gian, nước mưa dùng để pha trà là ngon nhất; hoặc nước sương đọng
trên những lá sen vào buổi sáng sớm; hoặc nước từ giếng chùa, nơi thanh tịnh không có nguồn
ô nhiễm nước, đồng thời ít người dùng và có ý thức bảo vệ giếng. Ngoài ra nước sạch là nước
phải trong, không có mùi, khi uống cho ta cảm giác mát dễ chịu. Tuy nhiên đó chỉ là những kinh
nghiệm đơn giản, người dân khó nhận biết và đánh giá được nước có chứa các chất độc hại, các
mầm bệnh hay không? Nếu thấy nghi ngờ và để nhận biết nước thực sự sạch hay không cần phải
đem mẫu nước tới các phòng thí nghiệm để kiểm tra chất lượng nước.
Nhìn chung, nước sạch là nước trong, không màu, không có mùi vị lạ, không có chất độc hại và
các vi khuẩn gây bệnh.
Ở những nơi nước không bị ô nhiễm thì các nguồn có thể sử dụng bao gồm:
• Nước máy được sản xuất đúng phương pháp khoa học là nước sạch nhất
• Nước giếng khoan
• Nước giếng đào (có thành và nắp bảo vệ)
• Nước suối
• Nước sông, hồ
Cần lưu ý là chất lượng nước từ các nguồn nước kể trên vẫn chưa an toàn nên phải đun sôi mới
được uống. Đun sôi là biện pháp tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh đơn giản và hiệu quả nhất. Tuy
nhiên khi đun nước nên để nước sôi một lúc mới sử dụng. Biện pháp đông lạnh không có tác
dụng sát trùng.
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
38
Bể lọc nước bằng cát, sỏi
Nhân dân thường xây bể lọc nước như hình vẽ:
Hình 2: Bể lọc nước bằng cát, sỏi
Quá trình lọc nước ở gia đình: đơn giản, rẻ tiền nhưng không lọc được các chất hoà tan mà chỉ
loại bỏ những vật thể lớn không hoà tan. Vì vậy chúng ta cần phải đun sôi nấu chín mới được ăn
uống.
Khử mùi tanh nước giếng khoan
Quy trình lọc nước khử mùi tanh (Theo tạp chí “Bảo vệ môi trường” của Cục bảo vệ môi trường.
Bộ Tài Nguyên và Môi trường số 6/2006).
Nước gi
ếng khoan bơm vào bộ phận lọc, trồng cây thuỷ trúc để khử mùi tanh. Sau đó chảy sang
bể lọc thông thường được rắc tán chất A 101 rồi chảy vào bể chứa nước sau khi lọc. Có thể thay
thế chất A 101 bằng phèn chua.
Hình 3: Làm sạch nước bằng cây thuỷ trúc
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
39
Ông Hờ A Sình, Trưởng bản Pá Chả đã triệu tập bà con trong bản, bàn cách bảo vệ nguồn nước.
Bản Pá Chả có 40 gia đình, trung bình khoảng 6 hộ sử dụng chung một bể nước (một số gia đình
chưa được sử dụng vì xa trung tâm bản). Mỗi bể cử ra một người đại diện làm tổ trưởng để nhắc
nhở các gia đình trong tổ ý thức tiết kiệm trong sử dụng nước sinh hoạt, đồng thời chịu trách
nhiệm bảo đảm an toàn hệ thống đường dẫn và bể chứa nước tổ mình
Trước đây, nước sạch không đến được với bà con vì đường lên bản vùng cao Pá Chả của xã
Mường Pồn, huyện Điện Biên quanh co dốc núi. Theo Chương trình 135 của Chính phủ, Pá Chả đã
được Nhà nước đầu tư kinh phí xây dựng hệ thống đường ống dẫn và bể
chứa nước sạch, phục
vụ sinh hoạt cho bà con. Hệ thống nước sinh hoạt của bản gồm 6 bể chứa bằng xi măng, dung
tích mỗi bể khoảng 3,5m
3
. Nước sạch về bản đã mang lại niềm vui cho bà con. Không còn cảnh
thời gian còn lại trong năm là nước mặn. Từ Chương trình ngọt hoá Gò Công năm 1992, nguồn
nước sông bị tù đọng nên mức độ ô nhiễm ngày càng trầm trọng. Trước nhu cầu bức xúc đặt ra
trước mắt, một số hộ ở ấp Bình Trung đã tiên phong xin phép UBND xã xây dựng công trình cấp
nước tập trung. UBND xã đã cùng các thành viên trong nhóm tiên phong tổ chức tuyên truyền
vận động nhân dân thành lập Tổ hợp tác cấp nước sinh hoạt nông thôn. Ban đầu nhiều ng
ười
nghi ngại không muốn tham gia hoặc do điều kiện còn khó khăn nên không thể tham gia cho dù
có nước sạch là cấp thiết, chỉ có 138/451 hộ tham gia. Các hộ tham gia tuy có quyết tâm nhưng
lại khó khăn về kinh tế, huy động tất thảy chỉ có 10 hộ có tiền mặt với số tiền là 10 triệu đồng,
một số tiền khá khiêm tốn so với nhu cầu đầu tư. Thiếu kinh phí, nhiều hộ gia đình phải thế chấ
p
đất, nhà ở để vay tiền và đã vay được 124,7 triệu đồng. Bên cạnh số tiền đóng góp của các hộ,
Tổ hợp tác nhận được sự hỗ trợ của Trung tâm khuyến nông tỉnh 15 triệu đồng và tổ chức UNICEF
tài trợ một số thiết bị với tổng giá trị là 27.489.000 đồng. Sau khi đã huy động đủ vốn, UBND xã
tổ chức họp dân và chính thức bầu 7 người tham gia vào ban quản lý dự án chịu trách nhiệm tổ
chức xây dựng, giám sát thi công và quản lý tài chính. Sau khi Ban quản lý hoàn tất các thủ tục
xây dựng cần thiết, công trình được khởi công vào ngày 04/02/1999 và khánh thành đưa vào
sử dụng ngày 28/04/1999 với các hạng mục chính bao gồm: đài nước cao 13m, dung tích 11m
3
;
bể chứa 37m
3
; bể lọc công suất 300m
3
; giếng khoan f 60. Công trình này sau khi xây dựng xong
đã đáp ứng được nhu cầu cấp bách của các hộ gia đình và hoạt động khá hiệu quả. Chứng kiến
tính hiệu quả và sự thuận tiện của công trình, nhiều hộ gia đình tham gia trước đây đã nộp đơn
đề nghị được vào Tổ hợp tác và được mắc nước. Tổ hợp tác đã được UBND xã đồng ý nâng cấp
công trình: khoan thêm giếng, nâng công suất bể lọc, kéo nối ống tuyến nâng giá trị tài sản công
trình lên 1.129.635.000 đồng. Đến cuối năm 2000, số hộ sử sụng nước đã lên đến 563 hộ, năm
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
41
Nhiều nước trên thế giới đã xây dựng bể chứa nước mưa vừa giảm ngập, vừa là nguồn cung cấp
cho các nhà máy và bổ sung cho nguồn nước ngầm. Vào mùa mưa, nhiều thành phố lớn của
nước ta như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh rất cần tận dụng nguồn nước này bởi lẽ chỉ tính ở TP. Hồ Chí
Minh, lượng nước mưa một năm đã tới gần 1 tỷ m
3
. Nước mưa là nguồn tài nguyên quan trọng.
Sử dụng nước mưa là trách nhiệm gắn liền với Phát triển bền vững của các thành phố. Chúng ta
có thể kiểm soát lụt lội trong thành phố bằng cách lưu giữ nước mưa trên các mái nhà và trên
mặt đất hoặc thấm xuống đất. Nước mưa trữ được có thể dùng trong các trường hợp khẩn cấp,
không phải để ăn uống, cho phép chúng ta bảo đảm tự cung cấp nước một mức độ nào đó. Tạo
điều kiện cho nước mưa thấm xuống đất có thể ngăn ngừa việc các thành phố bị hủy hoại do ô
nhiễm nhiệt, phòng ngừa tình trạng khan hiếm nước và cải thiện môi trường đô thị. Góp phần
tái nạp nguồn nước dưới đất và nhờ đó, ta có nước uống ngon lành từ các nguồn nước dưới đất.
Sử dụng nước mưa là giải pháp toàn diện cho các vấn đề tài nguyên nước và môi trường ở đô
thị. Làm vậy sẽ phục hồi được sự tuần hoàn nước tự nhiên, làm cho thành phố trở thành nơi mọi
người sống hài hòa và gìn giữ mưa như di sản cho các thế hệ mai sau.
Có thể chứa nước mưa trong những bể lớn đặt cố định trên mặt đất tại những
địa điểm có tính
chiến lược. Nên hạn chế lượng nước mưa chảy xuống các cống và rãnh thoát nước ở xung quanh
nhà hoặc hai bên đường phố. Lượng nước mưa được lưu giữ lại có thể sử dụng trong cộng đồng
như tưới cây và trong trường hợp khẩn cấp, có thể dùng lượng nước mưa dự trữ này để chữa
cháy hoặc thậm chí có thể thay thế nước ăn. Mỗi bể chứa nên được lắp đặt thêm một chiếc bơm
tay và một cái vòi nhỏ để bất cứ ai cũng có thể sử dụng nước vào bất cứ lúc nào.
Nhiều thành phố thuộc các nước phát triển, trong đó có Việt Nam, nhu cầu nước đang tăng vọt
do mật độ dân số tăng nhanh, dẫn đến việc bơm rút nước dưới đất quá mức gây sụt lún nghiêm
trọng. Tình tr
ạng lụt lội ở đô thị vào những lúc mưa to cũng xảy ra thường xuyên. Thạc sĩ Hồ Phi
Long, bộ môn Tài nguyên nước và Môi trường, Đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh, cảnh báo:
kiệm nước dễ lắp đặt.
5. Hãy tắm bồn
Tắm trong bồn có thể sẽ tiêu thụ ít nước hơn ngoại trừ tắm
nhanh bằng bồn hoa sen.
6. Hãy tắt nước trong khi chải răng
Không cần thiết để nước chảy lãng phí xuống cống. Chỉ cần
thấm ướt bàn chải đánh răng và hứng một ly nước đầy để
xúc miệ
ng.
7. Kiểm tra các vòi nước và đường ống để tránh rò rỉ
Ngay cả một chỗ rò rỉ nước nhỏ nhất từ một máy giặt cũ cũng có thể lãng phí trên 70 lít nước mỗi
ngày. Những chỗ rò rỉ lớn hơn có thể gây thất thoát đến hàng trăm lít nước.
4 điều bạn có thể làm để tiết kiệm nước trong nhà bếp và nhà giặt
1. Chỉ dùng máy rửa chén tự động khi đủ lượng chén, dĩa theo tải thiết kế.
2. Chỉ dùng máy giặt tự động khi đủ lượng quần áo theo tải thiết kế.
3. Nếu bạn rửa chén bằng tay, đừng rửa dưới vòi nước đang chảy. Hãy rửa chén trong bồn hoặc
trong chậu.
4. Kiểm tra các vòi nước và đường ống nước để tránh rò rỉ. Các chỗ rò rỉ sẽ làm thất thoát nước
24 giờ mỗ
i ngày, 7 ngày trong tuần, mà thường có thể được sửa chữa chỉ với một gioăng đệm
Phụ lục 5
21 ĐIỀU BẠN CÓ THỂ LÀM ĐỂ TRÁNH LÃNG PHÍ NƯỚC
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
43
bằng cao su rẻ tiền.
10 điều bạn có thể làm để tiết kiệm nước ngoài vườn
1. Chỉ tưới bãi cỏ hay cây kiểng của bạn khi cần
Cách tốt nhất để biết bãi cỏ của bạn có cần tưới nước hay
không là bước lên cỏ, nếu cỏ bật lên dậy sau khi bạn bước
khỏi thì nó vẫn chưa cần được tưới nước, nếu nó vẫn nằm
Nguồn: www.hcm.edu.vn/kynangsong
Các nguồn nước có thể sử dụng
Nước mưaNước sông hồ
Nước máy Nước ngầm (giếng đào, giếng khoan)
Phụ lục 6
LỜI KHUYÊN VỀ SỬ DỤNG NƯỚC SẠCH
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
45
Những nguyên nhân làm nguồn nước bị nhiễm bẩn
Sử dụng nhà vệ sinh trên sông, kênh rạch
Xả rác, xả nước thải
Giặt giũ, tắm rửa gần sát nguồn nước
Nước thải từ nhà máy không được xử lý
Sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu
trên đồng ruộng
Chất thải từ hoạt động chăn nuôi thải trực
tiếp vào nguồn nước
Đục phá ống nước làm cho chất bẩn ngấm
vào nguồn nước
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
46
Nguồn nước bị nhiễm bẩn ảnh hưởng đến
sức khoẻ như thế nào?
• Các bệnh đường tiêu hoá: Tiêu chảy, tả, lỵ,
thương hàn
• Các bệnh ký sinh trùng: Giun, sán, chí, rận
• Các bệnh do côn trùng có liên quan tới nước: Sốt
rét, sốt xuất huyết, viêm não
• Các bệnh do siêu vi trùng: Bại liệt, viêm gan A
tạo và khả thi trong áp dụng. Cả nhóm lại ngồi tranh luận, nhiều lúc căng thẳng đến độ xì -
căng - đan. Bà chủ nhà phòng Thịnh trọ phải chạy sang can vì tưởng cả bọn cãi nhau. Rốt cuộc,
phương án cuối cùng là về hỏi bố Long vốn là một kỹ sư hóa chất. Long tâm sự: “Bố chỉ gợi ý
cho em phương pháp xử lý nước thử dùng polime k
ết tách”. Hội ý mãi, cuối cùng cả nhóm quyết
định dùng Aronfolic A101 của Nhật Bản để lọc, làm sạch nước giếng khoan quy mô nhỏ. Theo em
được biết thì chất này đã được sử dụng lọc sạch nước tại nhiều nước trên thế giới. Khi đã có cơ
sở cho đề tài, cả nhóm góp tiền mua nguyên vật liệu hết 120.000đ với hai thùng lọc nước, ống
dẫn và chất A101. Thùng mua về, Long nhờ anh trai khoan lỗ cho nướ
c chảy. Rồi lại lòng vòng
trên chiếc xe đạp gần hai chục cây số mỗi ngày cả nhóm mới xin được 5 cân sỏi, 5 cân đá và bỏ
tiền ra mua thêm 1.500 đồng than hoa (than củi) về làm thực nghiệm.
Mặc dù việc học của năm cuối cấp bận rộn, nhưng vào ba buổi chiều thứ 3, 4 và 7, cả ba lại cặm
cụi dành thời gian thực nghiệm cho công trình dự thi. Công việc đang dang dở lại vướng vào mấy
ngày nghỉ Tết. Thịnh về quê. Để thùng lọc ở phòng trọ không yên tâm, cả nhóm lại chất tất cả
lên xe đạp trở về nhà Long. Chẳng may đi đường một chiếc thùng bị rơi vỡ, cả ba đành phải nhịn
ăn sáng lấy tiền mua thùng mới.
Những cố gắng của nhóm ba người đã cho những kết quả khả quan. Cả ba đã quyết định xây
dựng mô hình: Bể lọc cải tiến kết hợp cây thủy trúc với chất A101 để lọc nước giếng khoan. Quy
trình lọc của bể là: nước giếng khoan bơm vào bộ phận lọc bằng cây thủy trúc sau đó chảy sang
bể lọc thông thường được rắc tán A101 rồi chảy vào bể chứa nước sau khi lọc.
Cây thủy trúc lên đường đi Thụy Điển
Khả năng trình bày tự tin của Thịnh đã chinh phục H
ội đồng giám khảo. Từ những ý kiến phản
hồi của Hội đồng giám khảo, cả nhóm dự định sẽ đưa ra mô hình lọc nước với một bể cải tiến
gồm cây thủy trúc và phèn chua hoặc keo tụ, thay thế chất A101 để giảm giá thành. Cả nhóm
Phụ lục 7
LÀM SẠCH MÙI TANH NƯỚC GIẾNG KHOAN
Hãy bảo vệ tài nguyên nước vì chúng ta và vì sự phát triển cộng đồng bền vững
48
Giáo dục và Đào tạo TP Hồ Chí Minh: http:// www.hcm.edu.vn/ kynangsong; Các báo điện
tử: Vietnamnet.Tuổi trẻ online;