KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA BÊ LAI 1/2 DROUGT MASTER VÀ 1/2
LIMOUSINE NUÔI TẠI ĐĂK LĂK
Đinh Văn Tuyền, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Tấn Vui
Bộ môn Dinh dưỡng,Thức ăn Chăn nuôi và Đồng cỏ
TÓM TẮT Thí nghiệm được triển khai tại các nông hộ và trại chăn nuôi nằm trên địa bàn huyện
Eakar tỉnh Đăk Lăk trong thời gian từ 2007 đến 2010 nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng
phát triển của bê lai Drought Master x Lai Sind và Limousine x Lai Sind nuôi trong điều kiện
nông hộ và điều kiện thí nghiệm. Nhóm bê theo dõi trong điều kiện thí nghiệm gồm 8 con lai
½ Drought Master và 8 con lai ½ Limousine (mỗi nhóm giống gồm 4 con đực và 4 con cái).
Nhóm bê nuôi trong điều kiện nông hộ gồm 111 bê lai ½ Drought Master và 100 bê lai ½
Limousine. Bê nuôi trong điều kiện thí nghiệm được chăn thả trên bãi chăn tự nhiên khoảng
6h/ngày và bổ sung thêm thức ăn tại chuồng ở mức, tính theo chất khô, tương đương khoảng
2% khối lượng cơ thể (50% thức ăn tinh và 50% thức ăn thô) còn bê nuôi trong điều kiện
nông hộ nuôi theo các chế độ khác nhau tùy từng hộ. Khối lượng và kích thước một số chiều
đo (vòng ngực, cao vây, dài than chéo) của bê được cân (bằng cân điện tử đại gia súc) và đo
(bằng thước đo chuyên dụng) định kỳ 1 tháng/lần với nhóm nuôi trong điều kiện thí nghiệm
và 3 tháng/lần với nhóm trong nông hộ trong khoảng thời gian từ sơ sinh đến 21 tháng tuổi.
Kết quả cho thấy trong điều kiện thí nghiệm bê lai ½ Drought Master và ½ Limousine có
khối lượng tương đương nhau, đạt trung bình 182,1-200,2 kg lúc 12 tháng và 345,9-354,2 kg
lúc 21 tháng tuổi. Trong điều kiện chăn nuôi tại nông hộ, bê lai ½ Limousine có khối lượng ở
giai đoạn 3-9 tháng tuổi lớn hơn bê lai ½ Drought Master (khối lượng 9 tháng tuổi của ½
Drought Master là 152,8-177,4 kg; của bê ½ Limousine là 180,3-182,7 kg) nhưng ở các giai
đoạn sau, khối lượng của 2 nhóm giống là tương đương (khối lượng lcus 21 tháng tuổi của bê
lai ½ Drought Master là 284,5-317,8 kg; của bê lai ½ Limousine là 252,9-297,0 kg). Tăng
trọng tuyệt đối tính cho giai đoạn từ sơ sinh đến 21 tháng tuổi của bê lai ½ Drought Master
đạt mức tăng trọng trung bình từ 0,44 kg/ngày (bê cái) đến 0,58 kg/ngày (bê đực) và bê lai ½
Limousine đạt 0,47 - 0,57 g/ngày khi nuôi trong điều kiện thí nghiệm; các giá trị này ở nhóm
bê nuôi trong nông hộ đạt thấp hơn, lần lượt là 0,41-0,46 kg/ngày ở bê lai ½ Drought master
đáng kể so với con lai ½ Brahman và lai Sind. Tại thời điểm 12 tháng tuổi bê lai ½ Charolais
nặng 173-193 kg trong khi bê lai ½ Brahman là 146-172 kg còn bê lai Sind có khối lượng
138-150 kg, chỉ tương đương 80% khối lượng bê ½ Charolais.
Đăk Lăk là một tỉnh có tiềm năng phát triển chăn nuôi bò thịt và vì vậy trong những
năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu cải tiến giống cũng như thức ăn, đồng cỏ được tiến
hành trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là tại các xã thuộc huyện Eakar. Trong khoảng 10 năm gần
đây (1999-2008), đàn bò tăng 3,2 lần (Phòng Thống kê huyện EaKar, 2008) và tính đến năm
2010 tỷ lệ đàn bò lai chiếm 46% (Văn Tiến Dũng, 2011). Rất nhiều công thức lai tạo đã được
thử nghiệm tại địa bàn và gần đây nhất là các công thức lai giữa tinh bò ngoại nhập giống
Drought Master, Limoussine và Red Anguss với bò cái lai Zebu trong khuôn khổ đề tài cấp
Bộ “Nghiên cứu nhân thuần và lai tạo giống bò hướng thịt chất lượng cao ở Việt Nam”. Báo
cáo này trình bày kết quả đánh giá khả năng sinh trưởng của bê lai ½ Drought Master và ½
Limoussine nuôi tại huyện Eakar tỉnh Đăk Lăk. Đây là một phần kế quả của đề tài nghiên
cứu cấp bộ nói trên.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là bê lai ½ Drought Master và bê lai ½ Limousine từ 2 nhóm,
trong đó nhóm 1 gồm 8 bê lai ½ Drought Master và 8 bê lai ½ Limoussine (mỗi giống gồm 4
con đực và 4 con cái) nuôi trong điều kiện thí nghiệm tập trung và nhóm 2 gồm 111 bê lai ½
Drought Master và 100 bê lai ½ Limousine nuôi trong điều kiện nông hộ tại các xã của
huyện Eakar tỉnh Đăk Lăk. Bê thí nghiệm được lai tạo bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo
(sử dụng nguồn tinh ngoại nhập) cho bò cái Lai Sind khối lượng 220 kg trở lên nuôi tại các
hộ nông dân tại địa bàn trên. Tất cả bê thuộc nhóm nuôi trong điều kiện thí nghiệm đều được
sinh ra trong khoảng từ tháng 9 đến 11 năm 2007 và được nuôi dưỡng theo mẹ đến 6 tháng
tuổi trước khi chuyển về trại nuôi tập trung theo hình thức chăn thả (6 giờ/ngày) kết hợp bổ
sung thức ăn tại chuồng. Thức ăn bổ sung bao gồm bột sắn, hạt bông, urea và cỏ tươi ghi nê
hoặc rơm khô. Bột sắn được trộn với hạt bông và urea theo tỷ lệ 50:48,5:1,5 dạng sử dụng và
bổ sung cho bê ở mức khoảng 1% khối lượng cơ thể. Cỏ tươi cũng được bổ sung hàng ngày
ở mức 0,8-1% khối lượng cơ thể tính theo vật chất khô. Trong những ngày thiếu cỏ tươi thì
rơm khô được bổ sung cùng với cỏ tươi để sao cho mức ăn vào của bê đạt xấp xỉ 1% khối
Trong đó
: A là tăng trọng trung bình ngày (g/ngày); W2 là khối lượng cơ thể cuối kỳ
(kg); W1 là khối lượng đầu kỳ (kg); t2 là thời gian cuối kỳ (ngày); t1 là thời gian đầu kỳ
(ngày).
Sự thay đổi kích thước một số chiều đo được xác định bằng thước dây và thước gậy
chuyên dụng. Các chỉ tiêu này bao gồm kích thước vòng ngực, cao vây và dài thân chéo xác
định tại các thời điểm 0, 3, 6, 9, 12, 15, 18 và 21 tháng tuổi. Chỉ tiêu vòng ngực được xác
định bằng thước dây vải sử dụng đơn vị cm còn các chỉ tiêu cao vây và dài thân chéo được
xác định bằng thước gậy.
2.5. Xử lý số liệu
Phần mềm Minitab phiên bản 16.0 được sử dụng để xử lí số liệu thống kê. Các giá trị
trung bình, độ lệch chuẩn được xác định bằng phân tích các tham số thống kê (Descriptive).
Sai khác thống kê giữa 2 giống và giữa 2 giới tính về các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển
được xác định qua phân tích phương sai theo mô hình tuyến tính tổng quát GLM. Thuật toán
hồi qui đơn biến được sử dụng để xây dựng phương trình mô tả mối quan hệ giữa tuổi và
khối lượng của bê thí nghiệm.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Khả năng sinh trưởng của đàn bê thí nghiệm
Kết quả đánh giá khả năng sinh trưởng theo giới tính của đàn bê lai ½ Drought Master
và ½ Limousine nuôi trong điều kiện thí nghiệm được trình bày tại Bảng 1 và của đàn bê
nuôi trong điều kiện nông hộ trình bày ở bảng 2.
Bảng 1. Khối lượng bê đực và bê cái lai nuôi trong điều kiện thí nghiệm qua các
tháng tuổi (Mean±SD; kg)
Lai ½ Drought Master Lai ½ Limousine Sai khác thống kê
1
Đực Cái Đực Cái Giống Giới tính
Sơ sinh 25,6±2,29 22,6±3,35 26,6±1,25 25,3±1,19 ns ns
3 tháng 98,1±5,50 97,6±11,7 104,7±8,4 103,8±12,3
ns **
21 tháng 391,6±22,4
300,2±10,9 388,4±17,7
320,0±15,1
ns ***
1
ns: không sai khác (P>0,05); *: sai khác ở mức P<0,05; **: sai khác ở mức P<0,01; ***:
sai khác ở mức P<0,001
Bảng 2. Khối lượng bê đực và bê cái lai nuôi trong điều kiện nông hộ qua các tháng tuổi
(Mean±SD; kg)
Lai ½ Drought Master Lai ½ Limousine
Sai khác
thống kê
1Đực Cái Đực Cái
n Mean±SD
n
Mean±SD
n
88,2±21,6
48
89,4±26,5
** ns
6 tháng 75
128,4±36,0
34
120,4±31,2
51
139,8±35,6
47
139,6±40,8
** ns
9 tháng 68
177,4±43,3
29
152,8±37,9
21
251,8±42,2
20
224,5±57,3
ns *
18 tháng 14
292,4±51,5
11
258,8±42,1
12
280,3±50,9
11
249,0±48,8
ns *
21 tháng 8
313,8±43,7
8
284,5±36,0
Khối lượng lúc 12 tháng tuổi các nhóm bê lai ½ Drought Master và lai ½ Limousine
nuôi tập trung trong điều kiện thí nghiệm tại Eakar lần lượt là 211,4 và 187,8 kg ở con đực
và 175,5 và 176,4 kg ở con cái trong khi khối lượng lúc 18 tháng tuổi là 341,1 và 338,0 kg ở
con đực và 243,1 và 287,0 kg ở con cái. Như vậy so với kết quả nghiên cứu trên bê lai ½
Charolais lúc 12 tháng tuổi (khối lượng con đực là 193,2 và con cái 173,1 kg) của Vũ Chí
Cương (2007) thì khối lượng bê lai chuyên thịt ½ Drought Master và ½ Limousine trong
nghiên cứu của chúng tôi là tương đương. Tuy nhiên khối lượng lúc 18 tháng tuổi của bê lai
chuyên thịt trong nghiên cứu này lớn hơn đáng kể so với khối lượng của bê tương ứng trong
nghiên cứu của Vũ Chí Cương (2007). Kết quả của tác giả này cho thấy bê lai ½ Charolais
chỉ đạt khối lượng 242,5 kg ở con đực và 201,9 kg ở con cái. Một phần nguyên nhân có thể
là do trong nghiên cứu của Vũ Chí Cương (2007), bê lai ½ Charolais được nuôi tại các nông
hộ điều kiện về thức ăn, chăm sóc, nuôi dưỡng… chưa đáp ứng được nhu cầu dẫn đến khả
năng bê chưa thể hiện hết tiềm năng di truyền của giống. Kết quả xác định khối lượng bê lai
½ Drought master và ½ Limousine nuôi trong điều kiện nông hộ trình bày ở Bảng 2 và Đồ
thị 1 cũng cho thấy bê nuôi trong điều kiện nông hộ có khối lượng ở giai đoạn 15-21 tháng
tuổi thấp hơn bê nuôi trong điều kiện thí nghiệm.
Tại thời điểm 21 tháng tuổi, khối lượng của bê lai ½ Drought Master đạt 391,6 kg ở
con đực và 255,2 kg ở con cái còn bê lai ½ Limousine đạt 388,4 kg ở con đực và 320,0 kg ở
con cái. Theo báo cáo của Nguyễn Thiện và cộng sự (1992) thì bò lai ½ Charolais có thể đạt
khối lượng 375 kg và bò lai ½ Simental đạt khối lượng 365 kg lúc 24 tháng tuổi khi nuôi ở
vùng có khí hậu ôn đới tại Bảo Lộc Lâm Đồng. Còn theo Vũ Văn Nội và cộng sự (1995) nếu
được nuôi dưỡng chăm sóc tốt và bổ sung thức ăn xanh, cỏ cắt, ngọn mía và các thức ăn khác
(rỉ mật, sắn lát) bê lai ½ Charolais lúc 24 tháng tuổi tại Hà Tam-Gia Lai, Bình Định-Phú Yên
đạt 249-284 kg trong khi nuôi tại Lâm Đồng lúc 18 tháng tuổi đạt 274,5kg. Như vậy kết quả
của chúng tôi cho thấy bê lai ½ Drought Master và ½ Limousine nuôi tại Đăk Lăk có thể đạt
khối lượng tương đương hoặc lớn hơn bê lai ½ Charolais và ½ Simental ngay cả khi các con
lai này được nuôi trong điều kiện khí hậu thuận lợi hơn.
Kết quả trình bày ở Bảng 1 cũng cho thấy trong giai đoạn từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi
giới tính không ảnh hưởng đáng kể đến khối lượng bê mặc dù có sự khác nhau về trị số tuyệt
đối giữa 2 nhóm giới tính. Mức độ sai khác về khối lượng giữa bê đực và bê cái chỉ thể hiện
12 tháng tuổi, và đặc biệt là giai đoạn từ 15 tháng tuổi trở đi, khối lượng của các nhóm bê
nuôi trong điều kiện thí nghiệm cao hơn hẳn so với nhóm nuôi trong nông hộ có thể là do
điều kiện dinh dưỡng của nhóm bê nuôi trong nông hộ kém hơn.
Như vậy kết quả này cho thấy rõ ràng là trong các điều kiện chăn nuôi đáp ứng đủ
dinh dưỡng thì bò lai ½ Limousine có khả năng sinh trưởng tốt hơn bò lai ½ Drought Master
nhưng trong điều kiện dinh dưỡng hạn chế thì bò lai ½ Drought master có thể đạt khối lượng
cơ thể tương đương hoặc thậm chí lớn hơn so với bò lai ½ Limousine. Nói cách khác, tiềm
năng di truyền ở tính trạng sinh trưởng của bò lai ½ Limousine cao hơn của bò lai ½ Drought
Master nhưng để phát huy hết tiềm năng đó thì bò cần phải được nuôi dưỡng tốt. Theo chúng
tôi, mức nuôi dưỡng của các nông hộ đối với nhóm bò lai Limousine trong nghiên cứu này là
chưa đủ để bò phát huy hết tiềm năng giống, đặc biệt là ở giai đoạn từ 15 tháng tuổi trở đi khi
nhu cầu thức ăn của bò lớn. Do đó các hộ chăn nuôi cần phải xác định rõ khả năng cung cấp
thức ăn cho đàn bò trước khi quyết định lựa chọn phối giống cho bò cái. Nếu khả năng cung
cấp thức ăn tốt thì nên chọn phối với bò Limousine còn nếu chỉ có nguồn thức ăn hạn chế thì
nên chọn phối với bò Drought Master.
Đồ thị 1. Diễn biến khối lượng bò lai ½ Drought Master và lai ½ Limousine trong các điều
kiện nuôi dưỡng khác nhau
3.2. Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của bê lai Sind và ½ Red Angus nuôi tại Đăk Lăk
Tính trạng sinh trưởng tuyệt đối liên quan tới chất lượng con giống và liên quan tới
chế độ chăm sóc nuôi dưỡng. Thông qua các chỉ tiêu khối lượng tuyệt đối hàng ngày có thể
đánh giá khả năng sinh trưởng, hiệu quả của phương thức nuôi dưỡng cũng như tiềm năng
nuôi thịt của phẩm giống.
Kết quả trình bày ở Đồ thị 2 cho thấy trong điều kiện chăn nuôi tại trang trại tập trung
tăng trọng của bê lai ½ Drought Master trong giai đoạn từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi là khá
cao, đạt 0,67 kg/ngày ở con đực và 0,54 kg/ngày ở con cái. Trong giai đoạn 7 đến 12 tháng
tuổi tăng trọng trung bình đạt 0,36 kg/ngày ở cả bê đực và bê cái. Mức tăng trọng trong giai
đoạn từ 13 đến 21 tháng tuổi của bê đực là 0,67 kg/ngày đối với bê đực và 0,41 kg/ngày đối
với bê cái. Tính chung cho cả giai đoạn từ sơ sinh đến 21 tháng tuổi bê lai ½ Drought Master
tăng trọng trung bình 0,58 kg/ngày ở bê đực và 0,44 kg/ngày ở bê cái. Như vậy, tăng trọng
Diễn biến tăng trọng tuyệt đối của bê lai ½ Limousine nuôi trong điều kiện thí nghiệm
cũng tương tự như đối với bê lai ½ Drought Master, đạt mức tăng trọng 0,59-0,60
kg/con/ngày ở giai đoạn sơ sinh đến 6 tháng tuổi; giảm còn 0,25-0,29 kg/ngày ở giai đoạn 7-
12 tháng trước khi tăng trở lại và đạt 0,53-0,74 kg/ngày ở giai đoạn tiếp theo. Tính trung bình
cho cả giai đoạn từ sơ sinh đến 21 tháng tuổi, bê đực lai ½ Limousine đạt tăng trọng 0,57
g/ngày và bê cái đạt 0,47 g/ngày, tương đương với tăng trọng của bê lai ½ Drought Master
nuôi trong cùng điều kiện.
Đồ thị 2. Tăng trọng của bê lai thí nghiệm trong các giai đoạn tuổi khác nhau
0
-
6 tháng
7-12
tháng
13-21
tháng
0-21
tháng
Đực lai 1/2 Drought Master
0.67
0.36
0.67
0.58
Cái lai 1/2 Drought Master
0.57
0.36
0.41
0.44
Đực lai 1/2 Limousine
0.60 0.29 0.74 0.57
đoạn 0-6 tháng tuổi tăng trọng của cả bê đực và bê cái nuôi trong 2 điều kiện này là như nhau
0
-
6 tháng
7
-
12 tháng
13
-
21 tháng
0
-
21 tháng
Đực lai 1/2 Drought Master
0.57
0.54
0.51
0.46
Cái lai 1/2 Drought Master
0.53
0.44
0.43
0.41
Đực lai 1/2 Limousine
0.63 0.43 0.54 0.43
Cái lai 1/2 Limousine
0.63 0.39 0.41 0.36
0.00
0.10
0.20
Phạm Văn Quyến (2009) trên đàn bò lai ½ Drought Master tại Bình Dương và Phạm Thế
Huệ (2010) trên đàn bò lai ½ Charolais tại Đăk Lăk.
Bảng 3. Kích thước các chiều đo của bê ½ Drought Master và ½ Limousine nuôi tại Đăk Lăk6 tháng 9 tháng 12 tháng
15 tháng
18 tháng
21 tháng
Vòng ngực (Mean ± SD)
½ Drought Master
108,1±7,88
120,1±4,86
131,9±8,53
143,3±6,45
153,8±6,52
163,6±9,35
½ Limousine
108,8±5,87
120,6±4,96
132,6±4,93
144,5±5,21
156,5±5,76
122,3±4,92
127,4±5,4½ Limousine 99,5±3,55
105,5±6,08
111,6±2,97
117,8±3,20
123,6±3,46
129,9±4,52
4. Kết luận
4.1. Kết luận
- Trong điều kiện nuôi tập trung tại trang trại theo phương thức bán chăn thả ở Đăk
Lăk, bê lai ½ Drought Master và ½ Limousine có khối lượng tương đương nhau, đạt trung
bình 182,1-200,2 kg lúc 12 tháng và 345,9-354,2 kg lúc 21 tháng tuổi.
- Trong điều kiện chăn nuôi tại nông hộ, bê lai ½ Limousine có khối lượng ở giai
đoạn 3-9 tháng tuổi lớn hơn bê lai ½ Drought Master nhưng ở các giai đoạn sau, khối lượng
của 2 nhóm giống là tương đương.
- Tăng trọng tuyệt đối tính cho giai đoạn từ sơ sinh đến 21 tháng tuổi của bê lai ½
Drought Master đạt mức tăng trọng trung bình từ 0,44 kg/ngày (bê cái) đến 0,58 kg/ngày (bê
đực) và bê lai ½ Limousine đạt 0,47 - 0,57 g/ngày khi nuôi trong điều kiện thí nghiệm; các
giá trị này ở nhóm bê nuôi trong nông hộ đạt thấp hơn, lần lượt là 0,41-0,46 kg/ngày ở bê lai
½ Drought master và 0,36-0,43 kg/ngày ở bê lai ½ Limousine.
- Kích thước vòng ngực, cao vây và dài thân chéo của bê lai ½ Drought Master tương
đương với kích thước các chiều đo tương ứng của bê lai ½ Limousine và thể hiện đặc trưng
của nhóm bò chuyên thịt.
4.2. Đề nghị
Tiếp tục nghiên cứu để đánh giá năng suất và chất lượng thịt sau khi vỗ béo của bê
nhập nội và bò lai F1 giữa bò Droughtmaster với bò Lai Sind tại miền Đông Nam Bộ.
Luận án tiến sĩ chuyên ngành chăn nuôi động vật. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp
Miền Nam, TP. Hồ Chí Minh.
10. Nguyễn Thiện, Vũ Văn Nội, Vũ Chí Cương, Phạm Kim Cương, Nguyễn Quốc Đạt (1992).
Kết quả nghiên cứu bê lai hướng thịt của dự án VIE 86/008. Công trình nghiên cứu khoa
học kỹ thuật chăn nuôi (1991-1992). Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.
11. Nguyễn Văn Thưởng, Lê Viết Ly, Vũ Văn Nội, Nguyễn Quốc Đạt, Nguyễn Văn Niêm, Hồ
Khắc Oánh, Phạm Kim Cương, Văn Phú Bộ và CTV (1995). Kết quả nghiên cứu các biện
pháp kỹ thuật nhằm tăng nhanh năng suất thịt của đàn bò Việt Nam. Nuôi bò thịt. Nhà
xuất bản Nông nghiệp (trang 45-53), Hà Nội.
12. Đinh Văn Tuyền, Nguyễn Quốc Đạt, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Thanh Bình (2008). Kết
quả bước đầu đánh giá một số chỉ tiêu sinh sản của đàn cái thuần Brahman và
Droughtmaster ngoại nhập và khả năng sinh trưởng của bê thuần sinh ra từ đàn cái này
nuôi tại thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi. Số 15 trang
20.
13. Đinh Văn Tuyền, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Tấn Vui (2010). Sinh trưởng của bê lai ½ Red
Angus x Lai Sind và bê Lai Sind nuôi tập trung và bán chăn thả tại Đắk Lắk. Tạp chí
Khoa học Công nghệ Chăn nuôi 22: 5-12