Lời Mở Đầu
Ngày nay cùng với sự phát triển của hệ thống thanh toán thì thương mại điện
tử càng có vai trò quan trọng. Nó giúp gắn kết dễ dàng giữa người mua và người bán
mà không bị giới hạn về không gian và thời gian, bạn ngồi ở nhà hay bất kỳ đâu có
internet chỉ cần một các click chuột bạn đã có được thứ bạn cần, có người mang đến
tận nhà cho bạn mà không phải mất công ra cửa hàng để lựa chọn, mua rồi mang về
nhà. Nhận thấy được thương mại điện tử là một lĩnh vực kinh doanh có thể kiếm ra
siêu lợi nhuận, vì vậy nhiều nhà đầu tư đã nhảy vào lĩnh vực này cung cấp hàng loạt
các dịch vụ mới xây dựng nhiều mô hình kinh doanh trong TMĐT. Trong đó với
dòng máu kinh doanh chảy trong huyết quản cùng sự nhạy bén về xu hướng thị
trường cùng tốc độ phát triển của internet những năm đầu thập kỷ 90, Jeff Bezos đã
thành lập công ty chuyên bán sách qua mạng mang tên con sông hùng vĩ nhất Nam
Mỹ với mục tiêu sử dụng internet để chuyển hoạt động mua sách sang một hình thức
nhanh nhất, dễ dàng nhất và đem lại nhiều lợi ích nhất có thể. Làm thế nào mà
Amazoon đạt được thành công nhanh chóng? Mô hình kinh doanh của Amazon đã
được xây dựng như thế nào? Tại sao khách hàng lại chọn Amazoon mà không chọn
công ty khác? có rất nhiều câu hỏi về Amazon được mọi người quan tâm và chú ý.
Nhóm chúng tôi lựa chọn đi phân tích mô hình kinh doanh của Amazon để có thể trả
lời được một phần các câu hỏi trên, để hiểu biết thêm về TMĐT cũng như lợi ích
kinh doanh thông qua TMĐT.
Chương I: Một số lý luận chung về mô hình kinh doanh thương mại
điển tử.
1.1. Một số khái niệm mô hình kinh doanh:
- Là phương pháp tiến hành kinh doanh qua đó doanh nghiệp có được doanh thu, điều
kiện cơ bản để tồn tại và phát triển trên thị trường.
- Mô hình kinh doanh là cách bố trí, xắp xếp các dòng sản phẩm, dịch vụ và các dòng
thông tin, bao gồm việc mô tả các yếu tố của quá trình kinh doanh và vai trò của nó
đối với kinh doanh; đồng thời mô tả nguồn doanh thu, khả năng thu lợi nhuận từ mỗi
mô hình kinh doanh đó.
1.2. Yếu tố cơ bản của mô hình kinh doanh:
- Mục tiêu giá trị: Tại sao khách hàng mua hàng của doanh nghiệp? Là cách mà sản
bán lẻ điện tử, nhà cung cấp nội dung, trung gian giao dịch, người tào nên thi trường,
nhà cung cấp dịch vụ, nhà cung cấp cộng đồng
- Mô hình thương mại điện tử B2B là laọi giao dịch giữa các doanh nghiệp với nhau,
đây là loại giao dịch quan trọng nhất chiếm tỷ trọng lớn nhất trên internet. Một số mô
hình: thị trường/sở giao dịch (trung tâm B2B), Nhà phân phối điện tử, nhà cung cấp
dịch vụ B2B, môi giới giao dịch B2B, trung gian thông tin.
- Mô hình kinh doanh giữa ngưới tiêu dùng với nhau C2C là cách mà người tiêu dùng
có thể sử dụng để bán các mặt hàngcủa mình cho người tiêu dùng khác với sự giúp
đỡ của một doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến.
- Mô hình kinh doanh ngang hàng P2P hoạt động với mục tiêu liên kết những người
sử dụng, cho phép họ chia sẻ tệp tin và các tài nguyên khác trên máy tính mà khong
cần truy cập vào một máy chủ chung.
Chương II: Phân tích mô hình kinh doanh của Amazon
2.1. Giới thiệu khái quát về Amazon:
Khi biết tốc độ phát triển của Internet là 2300%/năm vào những năm đầu thập
kỷ 90, mặc dù không có kinh nghiệm về bán hàng cũng như không nhiều hiểu biết về
Internet nhưng Jeff Bezos – sau này là người sáng lập đồng thời là tổng giám đốc
điều hành của Amazon - đã sớm nhìn thấy tương lai của việc bán hàng qua mạng.
Tháng 7/1995, công ty chuyên bán sách qua mạng mang tên con sông hùng vĩ
nhất Nam Mỹ ra đời với mục tiêu sử dụng Internet để chuyển hoạt động mua sách
sang một hình thức nhanh nhất, dễ dàng nhất và đem lại nhiều ích lợi nhất có thể. Dù
lượng khách hàng và lượng sản phẩm bán ra tăng lên đáng kể trong những ngày đầu
kinh doanh thương mại điện tử, Amazon vẫn duy trì những cam kết ban đầu là luôn
cung cấp cho khách hàng sự thoả mãn tối đa.
Ngày nay, Amazon.com là nơi để mọi người đến tìm mua bất cứ thứ gì một
cách trực tuyến. Hàng triệu người ở trên khắp 220 quốc gia đã đánh giá Amazon là
website bán lẻ hàng đầu. Sản phẩm mà Amazon cung cấp bao gồm thiếp điện tử miễn
phí, đấu giá trực tuyến, hàng triệu đầu sách, đĩa CD, phim ảnh, đĩa DVD, đồ chơi và
trò chơi, đồ điện tử, đồ làm bếp, máy tính và nhiều sản phẩm khác.
* Quá trình phát triển của Amazon:
- 07/2009,Amazon đã thâu tóm thành công đối thủ Zappos với giá khoảng 900 triệu USD.
- 10/2009, Amazon ra mắt Kindle trên toàn thế giới.
Doanh thu quý đầu năm 2009 của Amazon tăng khá ấn tượng, đạt mức 18%
(4,89 tỉ USD). Doanh thu trên mỗi cổ phiếu tăng 17%, đạt 41 cent – tăng gần 10 cent
so với mức 34 cent một năm trước đây. Doanh thu của Amazon thậm chí còn cao hơn
mức dự đoán 4,75 tỉ USD (31 cent/cổ phiếu) của giới phân tích. Và như vậy kỳ vọng
của giới đầu tư vẫn được đáp ứng mặc cho những khó khăn kinh tế đã làm cho không
ít các hãng kinh doanh chùn bước. Theo comScore, Amazone có 60 triệu khách ghé
thăm trang mua sắm trực tuyến của hãng này, cao hơn 15% so với một năm trước
đây. Trong khi đó eBay có 70 triệu khách, giảm hơn 10% so với mức 80,1 triệu
khách một năm trước đây. Nhìn vào số liệu này có thể thấy rằng tương lai Amazon sẽ
qua mặt eBay để trở thành trang thương mại điện tử lớn nhất thế giới.
2.2. Mục tiêu giá trị:
Với tư cách là hãng bán lẻ, Amazon cung cấp cho khách hàng phương thức
mua hàng với chi phí mua và giao dịch thấp hơn phương pháp truyền thống, có nhiều
phạm vi lựa chọn hơn, nhiều thông tin và chính xác nhanh chóng hơn, tiện lợi trong
mua, thanh toán và nhận hàng, được phục vụ 24x7 (24/24 giờ cả 7 ngày trong tuần).
Với những thông tin quí báu về thói quen tiêu dùng của khách hàng, Amazon sử dụng
những thông tin đó để giới thiệu sản phẩm mới cho khách hàng. Khi tung ra sản
phẩm chợ điện tử zShop.com, khách hàng của Amazon nhận được những giá trị mới
không giống như những gì mà Amazon cung cấp khi còn là hãng bán lẻ. Mặt khác,
khách hàng có thể có lượng lựa chọn sản phẩm lớn hơn. Thêm nữa, việc không phải
nhập đi nhập lại cùng một thông tin về mình cho mỗi lần mua một mặt hàng khiến
cho giá trị này càng trở nên “giá trị” hơn. Và cho tới nay, giá trị mà Amazon cung
cấp cho khách hàng vẫn được duy trì ở mức độ cao.
- Độ tin cậy: Khách hàng sử dụng loại hình dịch vụ đáng tin cậy hơn khi họ
mua hàng từ Amazon, không phải lo lắng như khi mua hàng tại các cửa hàng bán lẻ
không tên tuổi. Khi khách hàng yêu cầu một sản phẩm và cung cấp thông tin về thẻ
tín dụng của mình tại Amazon, họ có cảm giác an toàn và tuyệt đối tin tưởng.
- Bảo hành từ Amazon: Dịch vụ bảo hành từ A đến Z của Amazon bảo đảm cho
tập hợp các trang web tương ứng với các gian hàng điện tử, trên đó quảng cáo, giới
thiệu sản phẩm và bán sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp. Mỗi cửa hàng chỉ phải trả
một khoản thuê bao hàng tháng là 9,99 đô la, quá thấp so với mức chi phí thông
thường cho việc thuê chỗ, rồi trả khoản hoa hồng từ 1 đến 5% cho mỗi lần tiếp cận 12
triệu khách hàng của Amazon. Nếu các cửa hàng trong zShops quyết định chọn cách
thức thanh toán của Amazon, thì họ sẽ trả thêm một khoản phụ phí 4,75% tổng doanh
số bán hàng nữa.
- lĩnh vực cung ứng các dịch vụ máy tính đám mây trên thị trường doanh nghiệp và
tiêu dùng với dịch vụ Amazon EC Cloud.
- Với dịch vụ có tên Amazon Page, bạn sẽ không phải mua cả một cuốn sách về chỉ
để đọc vài trang nữa. Amazon.com đã đưa ra một quyết định có thể coi là cách mạng
trong văn hóa đọc: cho phép khách hàng mua "quyền đọc" một phần cuốn sách - hay
thậm chí chỉ vẻn vẹn một trang - qua mạng.
2.3. Mô hình doanh thu:
Quy mô kinh doanh của Amazon ban đầu và cho tới nay vẫn tập trung vào loại
hình giao dịch B2C. Khi là hãng bán lẻ, Amazon tăng cường quy mô kinh doanh của
mình bằng cách đa dạng hoá sản phẩm phục vụ (từ bán sách, thêm bán CD, bán đồ
chơi, đồ điện tử, v.v ). Khi có chợ điện tử, Amazon chỉ tận dụng những thuận lợi về
thương hiệu, giao diện với khách hàng và cơ sở hạ tầng công nghệ mà không phải là
tận dụng lượng thông tin về khách hàng, cơ sở nhà xưởng hay là sự chuyên nghiệp
trong khâu hậu cần nữa.
Thị trường của Amazon là toàn cầu, không giới hạn ở bất cứ đâu, ở bất cứ nơi
nào có kết nối Internet và không có những trở ngại về giao nhận vận tải, nơi đó
Amazon tiếp cận và triển khai kinh doanh.
Khi là hãng bán lẻ, doanh thu của Amazon lấy từ những người tiêu dùng cuối
(end-user consumer), đây là mô hình doanh thu bán hàng. Khi chuyển sang kinh
doanh hình thức môi giới, chợ điện tử, Amazon vẫn có được nguồn doanh thu từ các
cửa hàng trong chợ vì các cửa hàng trong chợ vẫn phải trả cho Amazon một khoản
phí cố định để được kinh doanh trên website của Amazon. Do đó, Amazon có thêm
hai nguồn doanh thu nữa ngoài nguồn doanh thu nêu trên, đó là: hoa hồng –
nhân không ai khác chính là khủng hoảng kinh tế. Mức giảm này vẫn tiếp diễn mặc
dù eBay đã thi hành nhiều chính sách ưu tiên và khuyến mại, chẳng hạn như giao
hàng miễn phí đối với gần 30% mặt hàng bày bán trên website này.
- Tình hình kinh doanh của PayPal lại sáng sủa hơn Ebay. Số người dùng đăng ký
dịch vụ tăng 22%, đạt 184 triệu người. Hiện đã có một số site thương mại điện tử thứ
ba sử dụng PayPal, chẳng hạn như Sears, và chắc chắn thời gian tới PayPal sẽ vẫn bá
chủ trong lĩnh vực này.
- Trong quý vừa qua số người dùng dịch vụ Netflix tăng gần 10% (10,3 triệu người)
so với quý trước. Đây là mức tăng lớn nhất trong lịch sử Netflix. Hãng này tuyên bố
sẽ tiếp tục đầu tư vào lĩnh vực sản xuất đồ điện tử tiêu dùng, và hy vọng sẽ thiết lập
các mối quan hệ khăng khít trong lĩnh vực này vào vài năm tới. Tuy nhiên,
Netflixđang phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của các kiốt cho thuê DVD mà
Redbox điều hành. Những kiốt này tọa lọa trên các vị trí buôn bán sầm uất, và
Redbox chỉ thu phí duy nhất 1USD cho mỗi lần thuê phim. Netflix ý thức được mối
đe dọa này và thẳng thắn thừa nhận rằng nếu hãng không có động thái quyết liệt nào
thì những hệ thống kiốt thuê phim của Redbox sẽ tràn lan trong vòng 3 năm tới.
- Trên lĩnh vực lưu trữ trực tuyến, có thể nói Amazon là tên tuổi lớn nhất, nhưng
không phải duy nhất. Nirvanix là một đối thủ tuy mới xuất hiện nhưng được dự báo là
“đáng gờm” đối với “ông lớn” Amazon. Nirvanix, được bảo trợ bởi quỹ đầu tư Intel,
là dịch vụ lưu trữ hỗ trợ cho sự gia tăng không ngừng của nguồn phương tiện thông
tin số nhờ những ứng dụng phổ biến của Web 2.0. Nirvanix hướng tới một số đối
tượng khách hàng như các hãng điều hành ứng dụng Web 2.0, các doanh nghiệp quan
tâm đến vấn đề hỗ trợ dữ liệu, các nhà xuất bản và những người chuyên khai thác tư
liệu. Nirvanix hiện có khoảng 150 khách hàng là doanh nghiệp với đủ loại quy mô.
Phí sử dụng của Nirvanix là 0,18USD/ GB, cao hơn so với mức phí 0,15USD của
Amazon. Tuy nhiên CEO của Nirvanix lại khẳng định mức phí này thực chất là rẻ
hơn bởi trong khi Amazon thu thêm phí tra dữ liệu ngoài thì Nirvanix lại cung cấp
thêm các dịch vụ khác như email, hỗ trợ điện thoại, nâng cao khả năng tìm kiếm,
quản lý tài khoản cá nhân với dung lượng lớn nhất lên tới 256 GB so với chỉ 5 GB
của Amazon.
mở rộng các dịch vụ hàng hoá bán ra 31 loại hiện nay (sách, nhạc, máy tính, đồ dụng
gia đình, quần áo, giáy dép, trang sức, đồng hồ, đồ thể thao, zShop.com, search inside
the book, “1-click” shopping, ). Không chỉ dựng lại ở đa dạng hoá hàng hoá dịch vụ
mà Amazon còn nắm bắt được tấm lý khách hàng nên đã tiến hành chiến lược giá
linh hoạt với những chương trình khuyến mại giảm giá hấp dẫn.
Không phải ai cũng biết thành công của Amazon là kết quả của quá trình đầu
tư bền bỉ và tốn kém cho hạ tầng thông tin và công nghệ bán hàng qua mạng. Công ty
được đặt tại thành phố Seattle cũng bởi nơi đây tập trung nhiều nhân lực giỏi về công
nghệ, 10 nhân viên đầu tiên của công ty đều là các kỹ sư vi tính. Hàng năm, Amazon
dành ra khoảng 200 triệu USD cho công nghệ, đặc biệt là phát triển phần mềm. Đến
nay, tất cả các phần mềm TMĐT của Amazon đều do công ty tự viết. Công nghệ của
Amazon đã giúp công ty hoàn thiện quy trình kinh doanh và giảm chi phí. Các phần
mềm quản lý phân phối hàng của Amazon đã làm tăng số lượng hàng phân phối năm
2003 lên gấp 3 lần so với năm 1999. Với tỉ lệ lỗi ở khâu phân phối ít hơn, số lần phải
tiếp xúc với khách hàng tính trên mỗi đơn hàng cũng giảm một nửa so với năm 1999.
Chi phí ở bộ phận phân phối giảm từ 15% doanh thu năm 1999 xuống 7% năm 2003.
Đây là chiến lược ứng dụng và phát triển công nghẹ dựa vào sức của bản thân nhằm
tạo lợi thế cạnh tranh thông qua giảm chi phí dẫn đến giảm giá bán.
2.8. Cấu trúc tổ chức:
Amazon là một công ty kinh doanh trực tuyến được tổ chức theo cấu trúc công
ty cổ phần mà đướng đầu là tổng giám đốc Jeffrey Preston Bezos.
Amazon.com mở ra giống như một trung tâm mua sắm, hàng hóa được trưng
bày bằng các dòng chữ và chúng được kết nối với những sản phẩm tương ứng bằng
các đường dẫn. Các gian hàng xuất hiện phía bên trái và thanh menu được để phía
trên. Một lợi thế là chúng được download rất nhanh, kể cả với đường truyền dial-up
chậm chạp. Cách trình bày rõ ràng và mang đầy tinh chuyên nghiệp trong việc thu hút
khách hàng. Cách thiết kế và trình bày đó làm cho chúng ta nghĩ đến một cái siêu thị
hơn là một cái cửa hàng bách hóa hay một tạp chí thời trang. Sự vui nhộn hài hước
của của tạp chí và sự lắm lời của các cô nhân viên bán hàng không phải là thuộc tính
định vị của Amazon.com.
giới truyền thông tôn vinh là "vị vua của thương mại điện tử" (The king of e-commerce).
Châm ngôn của Bezos là "Phải vừa cứng rắn,vừa linh hoạt và phải biết khi nào
nên cứng rắn,khi nào nên linh hoạt".Có lẽ vì vậy mà người đứng đầu Amazon.com
vẫn còn đủ "linh hoạt" để có thời gian nhất định cùng con cái dạo phố và mua
sách trong một hiệu sách bình thường.
* Phong cách lãnh đạo Amazon:
* Thuê nhân viên giỏi: Ngay cả với những công việc chân tay, Bezos cũng chú trọng
đến năng lực. Ông sợ nhất là việc những nhân viên thuê người dưới quyền chỉ giỏi
ngang bằng hoặc kém hơn mình.
* Dựa vào số liệu: Thông tin tốt được chú trọng hơn là suy đoán. Các nhân viên mới
được khuyến khích rằng với các con số chắc chắn, họ có thể vẫn vượt qua xét đoán
của các nhân viên cũ.
* Nhân viên sở hữu: Cấp cổ phiếu cho nhân viên để khuyến khích họ làm việc.
* Vượt quyền của sếp: Nhân viên được khuyến khích ra quyết định mà không cần
phải xin phép sếp.
* Đầu tư vào công nghệ: Công nghệ giúp giảm chi phí trong tình hình mọi thứ đều
tăng giá.
* Suy nghĩ dài hạn: Bezos lờ đi những lời lẽ phê phán và luôn theo đuổi những ý
tưởng mới của mình.
Với phương thức phân quyền quản lý mới, trọng dụng người có năng lực, áp
dụng khoa học công nghệ trong kinh doanh, Jeff Bezos đã xây dựng lên "huyền thoại
Amazon"; tạo ra mẫu hình kinh doanh mới trong nền kinh tế khoa học công nghệ.
* Phong cách "không uỷ quyền quản lý":
Một khi các tính toán được đưa vào, Bezos muốn thực thi theo cách của riêng
mình. Tất cả các thông cáo báo chí có trích dẫn lời của ông đều phải được ông đọc
duyệt kỹ lưỡng. Nếu Bezos không nhận được câu trả lời của một nhà quản lý cấp cao
dưới quyền, ông sẽ vượt qua 4 cấp quản trị để đối thoại với cấp thấp nhất. Theo ông
thì một nhà lãnh đạo hiệu quả mà không dành thời gian cho cấp cơ sở thì sẽ không
thể nào theo kịp thực tế, và do đó các tư duy và quá trình quản lý sẽ xa rời thực tế.
kết luận