GIÁO DỤC KHOA CỬ VIỆT NAM DƯỚI THỜI LÝ - TRẦN - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

ĐỖ THỊ THƯƠNG GIÁO DỤC KHOA CỬ VIỆT NAM
DƯỚI THỜI LÝ - TRẦN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

thành khoá luận này.
Em xin chân thành cảm ơn tới ban giám hiệu trường Đại học Tây Bắc,
Thư viện Trường Đại học Tây Bắc, Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô giáo
trong khoa Sử - Địa, cùng các phòng ban chức năng đã giúp em trong quá trình
nghiên cứu.
Qua đây em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo chủ
nhiệm, các bạn sinh viên lớp K50 - ĐHSP Lịch sử, cùng toàn thể các bạn sinh
viên khoa Sử - Địa cũng rất quan tâm tạo cho em những điều kiện thuận lợi
trong quá trình nghiên cứu.
Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng vì nhiều lí do khác nhau nên khóa luận
chắc chắn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của
các thầy cô giáo và bạn đọc.
Em xin chân thành cảm ơn.

Sơn La, tháng 5 năm 2013
Người thực hiện
Đỗ Thị Thương MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu, đóng góp của đề tài 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu 3
3.2. Mục đích nghiên cứu 3

3.2.1. Đối với tổ chức bộ máy nhà nước 35
3.2.2. Đối với sự phát triển kinh tế 37
3.3.3. Đối với sự phát triển văn hóa, tư tưởng 38
3.3.4. Đối với sự phát triển xã hội 42
KẾT LUẬN 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………….46

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia giàu truyền thống hiếu học và coi trọng nhân tài.
Sự đề cao việc học, tôn vinh người thầy, coi trọng bậc hiền tài đã tạo nên truyền
thống hiếu học hàng ngàn năm ở nước ta. Từ xưa đến nay không ai có thể phủ
nhận được vai trò của những bậc anh tài đứng ra giúp vua trong việc quản lí đất
nước. Đó là những người có tài năng, có nhân cách góp phần gây dựng cơ cấu

tạo nhân tài cho đất nước, mở đường cho chế độ giáo dục sau này. Vì: hiền tài
là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí mạnh thế nước mạnh rồi lên cao.
Nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp…nguyên khí cường thịnh thì
con người được hưởng thọ lâu dài, nhân tài đông đảo thì quốc gia được thái bình
vững chãi.
Tuy nhiên cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập khoa
cử thời kỳ này một cách trọn vẹn, hoàn chỉnh và có hệ thống.Vì vậy tôi lựa chọn
“Giáo dục khoa cử Việt Nam dưới thời Lý – Trần” làm khoá luận tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chế độ khoa cử Việt Nam dưới thời Lý - Trần nhận được rất nhiều sự quan
tâm của giới nghiên cứu, cũng được đề cập đến trong nhiều tác phẩm, công trình
nghiên cứu. Ở mỗi góc độ khác nhau đã có những công trình nghiên cứu khác nhau
về vấn đề này trong đó có thể kể đến một số tác phẩm quan trọng cụ thể như sau:
+ Trong cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư”, tập I của tác giả Ngô Sĩ Liên -
Nhà xuất bản Văn hóa thông tin đã đề cập một cách khái quát toàn bộ các khoa
thi thời Lý – Trần.
+ Cuốn “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú, nhà xuất
bản Sử học tập 3 in năm 1961 trong phần “ khoa mục chí” đã đề cập một cách
đầy đủ các khoa thi cũng như quy chế, cách thức, nội dung, hình thức, luật lệ
của các kỳ thi và những người đỗ đầu các khoa thi thời Lý – Trần.
+ Cuốn “Thi cử, học vị học hàm dưới các triều đại phong kiến Việt Nam”
của Đinh Văn Niêm nhà xuất bản Lao động trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông
Tây in năm 2011 đã đề cập một cách rõ ràng các khoa thi, và tiểu sử của những
người đỗ đầu các khoa thi dưới thời Lý - Trần.
+ Hay cuốn “Giáo dục – khoa cử và quan chế ở Việt Nam thời phong kiến
và thời Pháp thuộc” chuyên khảo của nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh in năm 2011. Trong sách có chương 3: “Lịch sử khoa cử Việt Nam
thời phong kiến” đã viết đầy đủ các khoa thi đầu tiên năm 1075 đến khoa thi
cuối cùng năm 1919. Trong đó có trình bày về khoa cử thời Lý – Trần.
+ Cuốn “Chuyện kể các nhà khoa bảng trong lịch sử Việt Nam”, nhà xuất

và thành tựu của khoa cử Việt Nam thời Lý - Trần.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu chế độ khoa cử trên lãnh thổ
Đại Việt thời Lý - Trần.
Về thời gian: Từ năm 1009 đến năm 1400 là khoảng thời gian mà nhà nước
Lý - Trần tiến hành thực hiện chế độ khoa cử.
3.4. Đóng góp của đề tài
Nhìn nhận đánh giá được vai trò của khoa cử đối với sự phát triển đất
nước nói chung và nền giáo dục nói riêng.

4
Làm phong phú thêm nguồn tư liệu về vấn đề giáo dục ở Việt Nam.
Nghiên cứu đề tài này giúp cho chúng ta thấy được những bài học kinh
nghiệm về những chính sách giáo dục của một thời kì lịch sử, qua đó góp phần
giải quyết tốt các vấn đề về giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
Phục vụ cho quá trình giảng dạy ở trường trung học phổ thông.
4. Cơ sở tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở tư liệu
Để hoàn thành đề tài này chúng tôi đã sử dụng những nguồn tư liệu sau:
Các tài liệu về chính sử, thông sử.
Các công trình nghiên cứu khoa học lịch sử.
Các tạp chí lịch sử, sách báo về sử học.
Các tư liệu điện tử.
Tất cả những tư liệu trên đều là nguồn tài liệu quý báu cho việc nghiên cứu
các vấn đề đặt ra trong đề tài của chúng tôi.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lí luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng và Nhà nước đề tài này được thực hiện bằng các phương pháp chủ yếu
như: phương pháp lịch sử, phương pháp logic, đồng thời tiến hành phân loại, so
sánh, đối chiếu các sự kiện để nhìn nhận, đánh giá về chế độ khoa cử Việt Nam

nông dân đã phổ biến hay ruộng đất tư hữu của địa chủ và ruộng đất điền trang.
Không những thế, là một quốc gia có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu,
triều đại Lý - Trần rất quan tâm đến nông nghiệp như mở rộng diện tích đất canh
tác cùng với những chính sách bảo vệ sức sản xuất, kêu gọi người phiêu tán trở
về quê cũ làm ăn. Đặc biệt nhà nước rất chú ý đến việc bảo vệ nhân đinh nguồn
lao động chủ yếu của xã hội, cấm buôn bán hoàng nam làm nô tì. Ngoài ra nhà
nước còn thi hành nhiều chính sách trọng nông, khuyến nông. Vua cày ruộng
tịch điền, thăm gặt hái, ban hành chính sách ngụ binh ư nông. Hay nhà nước quy
định cấm trộm trâu bò vì đây là sức kéo trong nông nghiệp để tránh ảnh hưởng
đến sản xuất, nếu ai vi phạm sẽ bị trừng trị nặng. Gặp những năm mất mùa đói
kém vua giảm thuế phát chẩn cứu đói cho dân nghèo. Ngoài ra, để thúc đẩy phát
triển nông nghiệp cả hai triều đại hết sức quan tâm đến công tác trị thủy và công
việc thủy lợi như xây dựng các công trình thủy nông, thành lập các cơ quan
chuyên trách như Hà đê sứ, cho đắp và đào sông, kênh. Từ đó sản xuất nông
nghiệp được ổn định và phát triển nhiều năm mùa màng bội thu.

6
Như vậy, với những chính sách và biện pháp khuyến nông tích cực trên đã
có tác dụng mạnh mẽ đối với phát triển kinh tế nông nghiệp nền kinh tế chủ đạo
của cư dân Đại Việt, góp phần ổn định đời sống nhân dân tạo cơ sở vững vàng
cho công cuộc xây dựng đất nước cùng với những thắng lợi trong công cuộc
chống ngoại xâm. Từ đây đòi hỏi phải tạo nên những ông vua anh minh quan
tâm đến kinh tế nông nghiệp hay giải quyết các mối quan hệ về kinh tế.
1.1.2. Sự phát triển các ngành thủ công nghiệp
Bên cạnh nền kinh tế nông nghiệp phát triển dưới thời độc lập tự chủ Lý -
Trần thì các ngành thủ công nghiệp càng có điều kiện phát triển và bao gồm hai
bộ phận là: thủ công nghiệp nhà nước và thủ công nghiệp dân gian trong đó.
Thủ công nghiệp nhà nước gồm các quan xưởng hay cục bách tác với
những người thợ khéo tay được gọi là thợ bách tác sản xuất phục vụ riêng cho
nhu cầu vua như đúc tiền, chế tạo vũ khí, làm các phẩm phục triều đình. Điều

nhiều trung tâm buôn bán với nước ngoài như cảng Vân Đồn (Quảng Ninh), Càn
Hải (Nghệ An), Hội Thống (Hà Tĩnh) hàng hóa khá nhiều thường là lâm thổ
sản như tràm hương đã thu hút rất nhiều thương nhân nước ngoài vào buôn bán
như Trung Quốc, Inđônêxia.Ngoài ra, các dân tộc ít người vùng biên giới cũng
có buôn bán với nhau.
Như vậy, thời Lý - Trần dưới tác động của những chính sách cũng như sự
chỉ đạo của nhà nước cộng với tinh thần ý thức của bản thân nhân dân Đại Việt
đã xây dựng được cho mình một nền kinh tế tự chủ, tương đối toàn diện đảm
bảo đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống cũng như tạo tiềm lực
cho sự phát triển lâu dài, thịnh vượng của đất nước. Đồng thời, sự phát triển của
nền kinh tế ấy cũng là cơ sở, tiền đề thuận lợi cho sự phát triển những yếu tố
khác của đất nước trong đó yếu tố được coi trọng hàng đầu đó chính là yếu tố
con người. Yếu tố con người có tốt thì mới có cơ sở xây dựng được một đất
nước vững mạnh. Muốn có con người tốt thì con người ấy phải được trải qua
đào tạo, giáo dục và tuyển chọn kĩ lưỡng. Và như vậy, sự ra đời của một nền
giáo dục khoa cử để đào tạo con người là hoàn toàn tất yếu.
1.2. Tình hình chính trị
Bên cạnh công cuộc phát triển kinh tế triều đại Lý - Trần tích cực xây dựng
bộ máy nhà nước.
1.2.1. Tổ chức bộ máy nhà nước
Về mặt chính quyền trung ương: đứng đầu nhà nước trung ương tập quyền
là vua theo thể chế cha truyền con nối. Giúp vua trị nước là hệ thống quan văn
võ gồm nhiều cấp bậc khác nhau với số lượng đại thần không nhất định thường
bao gồm Tể tướng, Á tướng, Tam thái (thái sư, thái phó, thái bảo), Tam thiếu
(thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo) cùng thái úy. Đến thời Trần còn có thêm chức vụ
Tư đồ. Bên cạnh đó còn có các chức vụ quan trọng khác như Tả hữu phúc tâm,
Tả hữu Gián nghị đại phu, tả hữu tham tri Đây là những chức gần gũi thân
vua, thân cận vua, khuyên vua lúc cần.

8

của triều đình. Dưới thời Lý lực lượng Cấm quân còn ít khoảng chục đô và vệ
quân. Nhưng sang đến thời Trần đặc biệt quan tâm đến việc tuyển chọn quân
triều đình gồm 8 quân đứng đầu mỗi quân là một đại tướng có thể được điều đi
khắp nơi hoặc phối hợp với các lộ tác chiến.
Tiếp theo là quân địa phương được gọi là lộ quân hay sướng quân (quân ở
phủ, lộ) có nhiệm vụ bảo vệ địa phương trong lộ. Ngoài ra, còn có lực lượng dân

9
binh, hương binh ở đồng bằng và thổ binh ở miền núi, là lực lượng dân chúng
được động viên trong thời chiến để bảo vệ. Dưới thời Trần còn có quân đội của
các vương hầu, quý tộc.
Tuy nhiên lực lượng quân đội chủ yếu là quân thủy và quân bộ được huấn
luyện chu đáo với kỉ luật nghiêm minh. Nhà nước thực hiện chính sách “Ngụ
binh ư nông”, binh pháp kỹ thuật quân sự được chú ý đặc biệt.
Như vậy, dưới thời Lý – Trần đã xây dựng được một lực lượng quân sự
hùng mạnh sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đất nước. Đây là cơ sở để quân dân Đại
Việt hai lần đánh thắng quân Tống, ba lần đánh thắng quân Nguyên - Mông để
bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc.
1.2.3. Luật pháp
Pháp luật là công cụ hữu hiệu để quản lý xã hội, phản ánh mức độ hoàn
thiện của một thiết chế xã hội, một chính quyền nhà nước. Chính vì vậy ngay sau
khi lên ngôi và ổn định tổ chức bộ máy nhà nước các vua Lý - Trần đã cho ban hành
hệ thống luật pháp nhằm quản lí và điều hành đất nước tốt hơn.
Dưới thời Lý bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta ra đời vào năm 1042 đó là
bộ luật Hình thư đã góp phần hạn chế những tiêu cực, phiền nhiễu trong việc xử kiện
trước đây của các quan lại, tăng cường ý thức pháp luật trong dân chúng và góp phần
kiện toàn bộ máy trung ương tập quyền. Đồng thời sự ra đời của bộ luật đã đánh dấu
một bước tiến trong lịch sử pháp quyền Việt Nam. Điều đó chứng tỏ nhà nước trung
ương tập quyền được củng cố và hoàn thiện thêm một bước. Nội dung quan trọng
của bộ luật là bảo vệ hoàng cung và quyền lực của đẳng cấp quý tộc, quan lại, đặc

1.3. Tình hình văn hóa - xã hội
Song song với công cuộc giữ nước thời Lý – Trần đã ra sức xây dựng đất
nước và đạt được những thành tựu rực rỡ trong nền văn hóa, xã hội.
1.3.1. Tình hình văn hóa
Trước hết là tôn giáo tín ngưỡng nhà nước Lý – Trần chủ trương một chính
sách khoan dung hòa hợp và chung sống hòa bình giữa các tín ngưỡng tôn giáo.
Đó chính là hiện tượng Tam giáo đồng nguyên, Tam giáo cùng tồn tại. Bên cạnh
đó các tín ngưỡng dân gian cổ truyền như tín ngưỡng thần linh, vật linh, tục thờ
mẫu, pha trộn với đạo giáo đã được tự do phát triển và khuyến khích. Trong đó
đạo Phật là tôn giáo thịnh đạt nhất được coi là quốc giáo và có ảnh hưởng sâu
đậm trong xã hội nhất là trong làng xã. Nhưng Nho giáo đã trở thành một nhu cầu
tư tưởng thiết yếu cho việc xây dựng một thiết chế quân chủ tập quyền với những
nguyên lý cơ bản của phép trị nước nhưng chỉ ảnh hưởng đến tầng lớp trên và rất
mờ nhạt ở các làng xã.
Tiếp theo tôn giáo tín ngưỡng là văn học nghệ thuật. Văn học đã phản ánh
những tư tưởng và tình cảm của con người với hai dòng văn học chính: Văn học
Phật giáo và văn học yêu nước dân tộc đã thể hiện tinh thần dân tộc sâu sắc. Với
thành tựu quan trọng đó là việc phổ biến chữ Nôm vừa mang tính dân tộc (Nam
Nôm) vừa mang tính dân gian (nôm na), cải biến và Việt hóa chữ Hán được coi
là “Quốc ngữ”, “Quốc âm”.

11
Không những vậy, thời Lý – Trần cũng để lại nhiều công trình nghệ thuật,
kiến trúc, điêu khắc. Trong đó, kiến trúc thời Lý mang tính hoành tráng, quy mô
nhưng kiến trúc thời Trần mang tính thực dụng khỏe khoắn và tinh thần dân tộc
thấm đượm trong các công trình này như: thành Thăng Long, các cung điện ở khu
Tức Mặc – Thiên Trường, cùng với thành quách còn có các khu lăng mộ và phủ
đệ như khu sơn lăng ở Đình Bảng (Bắc Ninh), khu lăng mộ ở Long Hưng (Thái
Bình), phủ đệ Trần Quốc Khang ở Diễn Châu (Nghệ An). Bên cạnh đó là các
chùa tháp như chùa Diên Hựu (Một Cột), chùa Phật Tích, chùa Thái Lạc, tháp

sẽ dần đến những biến đổi căn bản trong cách tư duy, óc sáng tạo và thị hiếu của
xã hội, góp phần tạo nên một nền văn hóa phong phú đa dạng.
1.3.2. Tình hình xã hội
Bên cạnh tình hình, kinh tế, chính trị, văn hóa đó là tình hình xã hội. Dưới thời
Lý - Trần dần dần hình thành và xác lập những giai cấp chính của xã hội bao gồm
hai giai cấp chính là giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Trong đó:
Giai cấp thống trị bao gồm các vương hầu quý tộc, quan lại cao cấp và một
bộ phận địa chủ quan chức hóa và ngày càng mở rộng ruộng đất tư hữu. Ban đầu
điều này góp phần mở rộng diện tích canh tác, giải quyết ít nhiều tình trạng
phiêu tán. Về sau vua quan quý tộc chiếm ruộng đất, ăn chơi sa xỉ, không quan
tâm tới cuộc sống của nhân dân.
Bên dưới giai cấp thống trị là giai cấp bị trị bao gồm đông đảo nhân dân
thuộc nhiều tầng lớp khác nhau như địa chủ, nông dân, thợ thủ công, thương
nhân…. Giai cấp nông dân chiếm tuyệt đại đa số trong dân cư và là lực lượng
sản xuất chủ yếu, là những người gánh chịu mọi trọng trách của xã hội: làm
ruộng, đóng thuế, lao dịch, đi lính, bảo vệ tổ quốc…. Thợ thủ công có số lượng
không nhiều sống và làm ăn ở các phường của Thăng Long còn có một số sống
rải rác ở các làng, làm nghề thủ công phục vụ làng mình là chính. Thương nhân,
ngày càng nhiều chuyên buôn bán. Thân phận thấp nhất trong xã hội là tầng lớp
nô tì, với nhiều tên gọi khác nhau như gia nô, gia đồng, nô tì, điền nhi, lộ ông,…
Như vậy, từ thế kỉ X, được đánh giá là thế kỷ mang tính “bản lề” nhà nước
đã tiến hành củng cố và xây dựng nhà nước Đại Việt độc lập, tự chủ và phát
triển toàn diện. Chế độ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền đang dần
hoàn chỉnh, bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương được tổ chức
ngày càng chặt chẽ, đời sống nhân dân Đại Việt được nâng cao. Thế nhưng sự
phát triển nhanh của nền kinh tế đặt ra yêu cầu phải mở rộng bộ máy nhà nước
và quan lại, đồng thời để duy trì nền quân chủ chuyên chế đó cần thiết phải có
những nhân tài làm cho bộ máy nhà nước ngày càng vững mạnh. Điều này đặt ra
yêu cầu khách quan cho sự ra đời của nền giáo dục khoa cử. Đồng thời, việc xây
dựng nền giáo dục khoa cử cũng khẳng định tính độc lập tự chủ của một quốc

âm mưu đồng hóa một dân tộc bị chinh phục. Cho đến khi Ngô Quyền giành
được độc lập, giáo dục phong kiến đã có trong xã hội Việt Nam. Mặc dù chỉ
đọng lại ở tầng lớp trên của xã hội, đặc biệt là trong tầng lớp tăng lữ mà biểu
hiện ở học vấn của các nhà sư tham chính trong buổi đầu xây dựng nền độc lập
tự chủ như: Ngô Chân Lưu, Lý Vạn Hạnh và sáng tác của các nhà sư. Nhưng
trong buổi đầu củng cố xây dựng độc lập và thống nhất, các triều đại phong kiến
Ngô (939 - 980), Đinh (968 - 980), Tiền Lê (980 - 1009) còn non trẻ vẫn phải
đánh dẹp thù trong giặc ngoài, coi việc võ bị cần thiết hơn và tình hình kinh tế,
chính trị, xã hội thời kỳ này chưa ổn định lắm. Hơn nữa, các triều đại tồn tại
trong một thời gian ngắn ngủi (nhà Ngô: 43 năm, nhà Đinh: 12 năm, Tiền Lê: 29
năm) nên nhà nước chưa có điều kiện chăm lo việc giáo dục và tổ chức học hành

14
thi cử một cách quy củ, không giành nhiều thời gian cho việc khuyến học. Do
vậy, các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê chưa có tổ chức thi cử để tuyển chọn
người làm quan, triều đình đặt ra lệ tiến cử và bảo cử.
Đặt trong bối cảnh tiếp xúc và giao lưu văn văn hóa Trung Hoa, văn hóa
Việt Nam nổi lên một đặc điểm tưởng chừng như mâu thuẫn nhưng rất thực tế.
Trong gần một năm Bắc thuộc dưới ảnh hưởng của văn hóa Hán thì tinh thần
chủ đạo của người Việt, là tinh thần chống đồng hóa nhưng đến khi giành độc
lập tự chủ thì người Việt lại chủ động tiếp nhận văn hóa Hán để xây dựng và
phát triển quốc gia mà một trong những biểu hiện của nó là tiếp nhận mô hình
giáo dục khoa cử. Hán học được các quan lại Trung Hoa (Tích Quang, Nhâm
Diêm, Sĩ Nhiếp, ) truyền vào Việt Nam từ buổi đầu Công Nguyên nhưng suốt
gần một nghìn năm Bắc thuộc chưa bao giờ Nho giáo, Nho học có được chỗ
đứng vững chắc trong xã hội người Việt mà phải đến nhà Lý, với tinh thần chủ
động tiếp nhận thì Nho giáo và Nho học Trung Hoa mới thực sự cắm rễ, từng
bước hoàn thiện và phát triển.
Ngay từ đầu Phật giáo được nhân dân ta tiếp thu và ăn sâu vào đời sống
văn hóa tinh thần. Đạo Phật được truyền vào bằng “con đường hòa bình”, phù

quản lý và phát triển xã hội. Bởi Phật giáo không cung cấp cho vương triều
những điều cần thiết bài học đẻ bảo vệ ngai vàng, xây dựng đất nước, kiến tập
nền chính trị hành chính trị quốc an dân và Nho giáo có thể đem lại vì đây là
học thuyết giành cho người cai trị quốc gia, là học thuyết phù hợp cho việc đào
tạo và lựa chọn đội ngũ tri thức cho bộ máy quản lý nhà nước. Và trên thực tế
triều Lý không giáo điều cả hệ thống Nho giáo Trung Hoa vào quan điểm
chính trị và giáo dục Đại Việt. Nói tóm lại, triều đại Lý - Trần tiếp nhận Nho
giáo và đã được tái cấu trúc cho phù hợp với xã hội Việt Nam. Độ khúc xạ
trong tiếp nhận và giao lưu văn hóa đã tạo ra những đặc điểm của Nho giáo
Nho học Việt Nam.
Nhìn chung, Nho giáo từ một tôn giáo, một công cụ của kẻ đi xâm lược đã
dần dần được chính quyền trung ương và nhân dân chấp nhận. Hệ tư tưởng của
nó tạo ra sức mạnh bảo vệ sự liên kết gia đình, dòng họ. Bảo vệ sự liên kết giữa
cá nhân với xã hội. Bảo vệ sự phân chia danh phận với khả năng dung hợp sự
phân chia này trên nền tảng đạo đức. Lí luận chính trị mà cơ sở của nhà nước về
nguyên tắc và lễ phép hòa lẫn nhau và được thần thánh hóa là thiên mệnh, trung
hiếu, tam cương, ngũ thường đã phục vụ đắc lực cho yêu cầu của giai cấp thống
trị đương thời. Sự phát triển của Nho giáo còn gắn liền với nhu cầu phát triển
giáo dục cấp thiết hiện thời.
Điểm cần nhấn mạnh ở đây là khi tiếp nhận Nho học triều đại Lý – Trần đã
chủ động tiếp nhận tinh thần lấy: giáo dục để bồi dưỡng hiền tài và từng bước
thay thế cho các phương thức dùng người cũ trong việc bổ sung quan lại là
nhiệm cử và tiến cử của các triều đại trước đó. Mặc dù, tiến cử và nhiệm cử vẫn
tiếp tục được sử dụng nhưng thông qua các kỳ thi đã bước đầu thực hiện phương
pháp dùng khoa củ để chọn nhân tài. Đây là bước đặt nền móng, bệ đỡ cơ bản
cho các triều đại kế tiếp trong việc dần dần thay thế từ chỗ khoa cử là phụ và
tiến cử là chính chuyển sang dựa vào khoa cử hoàn toàn.

16
Khi chế độ phong kiến tập quyền bắt đầu ổn định, triển khai theo quy mô

Thanh Hóa vào cuối thế kỷ VII dưới thời Đường.
Trong suốt 1000 năm Bắc thuộc, Nho giáo tuy chưa chiếm được vị trí độc
tôn trong đời sống xã hội Việt Nam song văn tự Hán lại được dùng làm phương
tiện chủ yếu để kinh, in sách Phật. Sau khi nước ta giành được độc lập tự chủ
nhà nước phong kiến Đại Việt được thiết lập, chữ Hán được coi là văn tự chính

17
thức, trở thành chữ thông dụng trong các văn bản hành chính, trong học tập, thi
cử và sáng tác văn học. Ra đời từ cuộc đấu tranh chống ách đô hộ gần nghìn
năm của các thế lực phong kiến Trung Quốc giành quyền độc lập, tự chủ. Giai
cấp phong kiến Đại Việt bắt đầu từ thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, nhất là từ thời Lý
đứng trước yêu cầu xây dựng đất nước vững mạnh đủ sức đảm đương được
nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc, đã vận dụng mô hình thể chế chính trị xã
hội dựa vào ý thức hệ Nho giáo của Trung Quốc. Tiếp thu Nho giáo có hệ thống
từ triều đình đến hoàng tộc đến gia đình các tầng lớp quan lại tổ chức học chữ
Hán để làm công cụ soạn thảo các văn bản hành chính, văn bản ngoại giao và
văn bản luật, soạn kinh Phật hoặc làm thơ, soạn văn tế. Trong dân gian đã xuất
hiện các tầng lớp dạy chữ Hán đáp ứng nhu cầu của cuộc sống (làm văn tự mua
bán ruộng đất, tài sản lớn,…) và có đủ kiến thức Nho học để thi tuyển làm quan.
Tháng Tám năm Canh Tuất niên hiệu Thuần Vũ (1070) vua Lý Thánh
Tông cho dựng nhà Khổng miếu tiền thân của Văn Miếu sau này ở phía Nam
kinh thành, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối, bốn mùa cúng tế. Đây
cũng là nơi Hoàng thái tử đến học. Về sau cả một số con em của các triều thần
và quan viên văn chức người nào biết chữ được học tại đây.
Sáu năm sau, năm Bính Thìn niên hiệu Anh Vũ Chiêu Thắng (1076) vua
Lý Nhân Tông cho lập Quốc tử giám, tuyển các văn thần, lấy những người có
văn học bổ vào đó, lại chọn những nhân sĩ trong nước, lấy đỗ người có tài văn
võ, phân phối cai quản quân và dân. Như vậy, đây là sự tôn vinh Nho giáo và
nền giáo dục Nho học của nhà nước phong kiến Đại Việt. Đồng thời, là quyết
định vô cùng quan trọng và đúng đắn của nhà Lý và được tiếp tục phát triển ở

triều Trần Quốc học viện được nâng dần trình độ đào tạo tới mức đại học và đặt
tên là Thái học viện.
Quốc tử giám bao gồm sáu nhà Minh Luân, giảng đường Đông Tây, phòng
học của sinh viên, tam xá kho chứa văn in, thư viện trường là nơi cung cấp sách
học cho không chỉ học sinh trường mà còn học sinh của các trường ở cấp phủ lộ
gồm tứ thư, ngũ kinh, Ngọc Đường văn phạm, sách học đề cương: văn hiến
thông khảo (sách đời Nguyên, gồm 348 quyển), văn tuyển (sách đời Lương gồm
602 quyển), Cương mục (sách đời Tống gồm 592 quyển), Thiếu vi thông giám
(sách đời Tống gồm 20 quyển), Nốc trai thập khoa sách lược (sách thời Minh),
Tính lý đại toàn (sách đời Thanh),….Những giáo trình học tập này cũng mang
tính định hướng về nội dung, cách thức học tập cho các trường tư Nho học.
Tự thân Quốc tử giám đã trở thành khuôn mẫu về cách thức quản lý nội
dung, hình thức, giáo dục đối với các trường học ở các cấp, đơn vị hành chính
thấp hơn, kể cả trường công và trường tư trong cả nước. Việc đề cao vai trò của
những người đỗ đạt của triều đình phong kiến, thông qua sự tồn tại của Văn
Miếu và Quốc tử giám đã đào tạo ra không khí học tập cho Nho sinh cả nước
với ước muốn thành công trong bước đường khoa cử. Từ trường Quốc học ban
đầu cùng thời gian Quốc tử giám đã phát triển hoàn thiện đóng góp to lớn trong
việc đào tạo và giáo dục nhân tài cho đất nước. Hơn hết Quốc tử giám là biếu
tượng gửi gắm triết lý muốn có nhân tài phải đào tạo, vun trồng bồi dưỡng của
ông cha ta từ thời Lý cho các thế hệ hiên tại. Bên cạnh Quốc tử giám đến thời

19
Trần 1281 nhà Trần lập thêm nhà học ở phủ Thiên Trường. Như vậy, đây là các
trường học công mà nhà nước mở nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước.
Ngoài trường học do nhà nước mở ra lúc bấy giờ, nước ta còn có hệ thống
trường tư. Trường học tư đầu tiên được xác nhận là trường Bái Ân do Lý Công
Ân - một tôn thất nhà Lý không ra làm quan mà ở nhà dạy học. Ông sống ở Bái
Ân (nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội), là học trò của sư Vạn
Hạnh cũng là một tín đồ đạo Phật nhưng ông mở trường dạy học truyền thụ kiến

Về nội dung giáo dục khoa cử, về cách thức tổ chức và quy chế thi nếu ban
đầu ở triều Lý chưa có quy củ thì sang đời Trần mới thành thể lệ càng về sau
càng chính quy chặt chẽ, quy củ hơn. Việc lập Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng
Tử cùng với đồ đệ của ông và sai Hoàng thái tử đến học có nghĩa rằng vua Lý
Thánh Tông đã tìm thấy một học thuyết về đạo trị nước phù hợp, có giá trị dẫn
đường cho chế độ chính trị xã hội mà triều Lý đang ra sức xây dựng và củng cố.
Nho giáo với học thuyết của Khổng tử mà xương sống của nó là thuyết “Tam
cương, ngũ thường” trở thành tiêu chuẩn mẫu mực về đạo đức của con người,
nhằm thiết lập và ổn định một xã hội phục vụ cho quyền uy vô thượng của nhà
vua, đại diện tối cao cho giai cấp phong kiến thống trị. Nhưng đến mãi năm
1253 thì Quốc tử viện mới giảng học Tứ thư, Ngũ kinh tức học tập sách kinh
điển của Nho giáo. Lúc đầu Nho giáo chưa phải là nội dung duy nhất trong học
tập và thi cử. Tình hình phát triển đến cực điểm của Phật giáo và sự hiện diện
phổ biến của Đạo giáo thời Lý, cũng như ảnh hưởng vai trò của tăng lữ trong
thời này đã chi phối mọi mặt sinh hoạt của xã hội trong đó có giáo dục khoa cử.
Thi Tam giáo không chỉ có ở thời Lý mà còn ở đầu thời Trần. Vào năm 1299, sử
cũ cho hay nhà nước còn cho in sách giáo khoa nhà Phật phát cho trong nước.
Về các khoa thi tam giáo thời Lý - Trần, Phan Huy Chú có nhận xét rằng: đời Lý
- Trần, đều tôn chuộng Phật Giáo và Đạo giáo, cho nên buổi ấy chọn người
muốn được thông cả hai giáo ấy, dù là chính đạo hay dị đạo đều tôn chuộng
không phân biệt mà học trò đi thi khoa ấy nếu không học rộng biết nhiều thì
cũng không đỗ được.
Đến năm 1304 vua Trần Anh Tông đã quy định phép thi như sau:
Kỳ nhất thi ám tả “y quốc thiên” và “mục thiên tử truyện” để loại bớt.
Kỳ nhì thi kinh nghi, kinh nghĩa, thơ dùng thể cổ thì ngũ ngôn trường thiên
hỏi vể “vương độ khoan mãnh” lấy bốn chữ “tài, nạn, xạ, trĩ” làm vần phú dùng
thể tám vần: “đế đức hiếu sinh hiệp vụ dân tâm” đức độ đế vương vốn ưa sống
phù hợp với lòng dân.
Kỳ ba thi chiếu, chế, biểu.
Kỳ tư thi văn sách.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status