BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ THU
HOẠT ĐỘNG CỦA NGUYỄN CHÍCH TRONG
CUỘC KHỞI NGHĨA LAM SƠN (1418 - 1427)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo và
giúp đỡ tận tình của cô giáo - Thạc sĩ Phí Thị Toan, qua đây em xin bày tỏ lòng
biết ơn chân thành tới cô.
Nhân dịp khóa luận được công bố, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm,
tạo điều kiện thuận lợi của phòng Đào Tạo, các thầy cô trong Khoa Sử - Địa,
thư viện nhà trường cùng tập thể lớp K50 ĐHSP Lịch Sử đã giúp đỡ em hoàn
thành khóa luận này.
Do hạn chế về mặt tài liệu nên khóa luận của em không thể tránh khỏi
những thiếu sót nên mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy (cô) và các
bạn sinh viên.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2013.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thu MỤC LỤC
Tiểu kết 21
CHƯƠNG 3: ĐÓNG GÓP CỦA NGUYỄN CHÍCH TRONG CUỘC KHỞI
NGHĨA LAM SƠN 22
3.1. Cờ nghĩa Lam Sơn mở đầu một thời kì đấu tranh mới 22
3.2. Về với Lam Sơn một quyết định đúng thời hợp thế 26
3.3. Chuyển hướng vào Nam - tầm nhìn chiến lược của Nguyễn Chích 28
3.3.1. Hoàn cảnh của sự chuyển hướng chiến lược 28
3.3.2. Những vấn đề cơ bản của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược 29
3.3.3. Vị trí, ý nghĩa của kế hoạch chuyển hướng chiến lược 33
3.4. Đóng góp của Nguyễn Chích trong kế hoạch Nam tiến 33
3.5. Nguyễn Chích với kế hoạch Bắc tiến - từ Nghệ An tới hội thề Đông Quan
43
Tiểu kết 44
KẾT LUẬN 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử dân tộc ta từ thời Hùng Vương dựng nước cho đến nay đã trải qua
khoảng 4.000 nghìn năm lịch sử, quãng thời gian dài hàng chục thế kỉ ấy đã
chứng kiến biết bao thăng trầm, biến động của lịch sử. Không phải ngẫu nhiên,
dân tộc Việt Nam được mệnh danh là dân tộc trận mạc, hơn hai chục thế kỉ dựng
nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam phải liên tiếp đứng lên chống lại các thế lực
ngoại xâm; từ kẻ thù phương Bắc với tư tưởng Đại Hán cho đến các thế lực tư
bản phương Tây. Tất cả những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm ấy đếu tô thắm
lịch sử anh hùng của dân tộc.
Trong toàn bộ quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước ấy, thế kỉ XV
được coi là thế kỉ vẻ vang của dân tộc với thắng lợi vang dội của cuộc khởi nghĩa
Lam Sơn. Đây được coi là đỉnh phát triển cao nhất, là kết tinh của toàn bộ phong
giúp độc giả hiểu thêm về một giai đoạn vẻ vang trong lịch sử dân tộc.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về các danh tướng Lam Sơn nói chung, danh tướng Nguyễn
Chích nói riêng từ lâu đã được giới nghiên cứu trong nước và thậm chí là các
học giả nước ngoài rất quan tâm, chú ý.
- Tiêu biểu là bài viết của giáo sư Phan Đại Doãn “Nguyễn Chích trong
cuộc kháng chiến chống Minh qua di tích và văn bia”, bài được công bố trên tạp
chí khảo cổ học số 20 - 1976, bài viết đã khái quát toàn bộ quá trình hoạt động
của Nguyễn Chích trong cuộc kháng chiến chống quân Minh.
- Trong cuốn “Khởi nghĩa Lam Sơn”, do hai giáo sư Phan Huy Lê và Phan
Đại Doãn đồng chủ biên, được Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm 1977,
đã đề cập đến con người và hoạt động của Nguyễn Chích một cách khái quát.
- Cuốn “Võ tướng Thanh Hoá trong lịch sử dân tộc” của học giả Trần Văn
Thịnh, đã khái quát về cuộc đời, sự nghiệp và chiến công của Nguyễn Chích.
- Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Thuần còn dành nhiều công sức cho bộ
sách “Danh tướng Việt Nam”, trong đó ông dành riêng tập hai nói về “Danh
tướng khởi nghĩa Lam Sơn” được Nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm 2000,
cũng đã đề cập đến con người và những đóng góp của Nguyễn Chích trên khía
cạnh quân sự.
- Ngoài ra một số lượng sách có liên quan rải rác đến nội dung của đề tài
như “Kỉ yếu Lê Lợi và Thanh Hoá trong khởi nghĩa Lam Sơn” do Nxb Thanh
Hoá phát hành 1988; cuốn “Khảo sát văn hoá truyền thống Đông Sơn”; cuốn
“Căn cứ địa Nghệ An trong Khởi nghĩa Lam Sơn” v.v Cùng một số bài viết về
danh tướng Nguyễn Chích của các tác giả Phạm Văn Kính, Nguyễn Đăng Ngân,
Võ Xuân Thưỡng Đó là những nguồn tư liệu cần thiết giúp tôi có một cái nhìn
tổng thể, sâu sắc về vấn đề đề tài đặt ra.
3
Đề tài của tôi một mặt là sự kế thừa thành tựu của những học giả đi trước,
mặt khác là sự cố gắng giải quyết những gì còn bỏ ngỏ khi nói về danh tướng
trong phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV. Không chỉ vậy, đề tài bước
4
đầu đi sâu phân tích những đóng góp của ông cả mặt lí luận lẫn thực tiễn về vấn
đề xây dựng căn cứ địa cho cuộc khởi nghĩa.
Về mặt thực tiễn: Đề tài là công trình khoa học, tài liệu tham khảo có giá trị
giúp học sinh, sinh viên tìm hiểu sự nghiệp đánh giặc cứu nước của danh tướng
Nguyễn Chích. Đề tài còn là nguồn tư liệu phục vụ cho công tác giảng dạy và
nghiên cứu lịch sử địa phương. Ngoài ra đề tài cũng góp phần giáo dục truyền
thống của dân tộc, dòng họ, quê hương.
7. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo, nội dung cơ bản
của đề tài gồm có ba chương:
Chương 1. Tình hình Đại Việt cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ XV.
Chương 2. Quá trình hoạt động của Nguyễn Chích trước khi tham gia khởi
nghĩa Lam Sơn.
Chương 3. Đóng góp của Nguyễn Chích trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. 5
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. TÌNH HÌNH ĐẠI VIỆT CUỐI THẾ KỶ XIV
ĐẦU THẾ KỶ XV
1.1. Cuộc khủng hoảng của quốc gia Đại Việt cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ
XV, sự xâm lược và chính sách cai trị của nhà Minh
1.1.1. Cuộc khủng hoảng của quốc gia Đại Việt cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ XV
Xã hội Đại Việt sau một thời kì phát triển phồn vinh, đến cuối đời Trần, chế
độ phong kiến trải qua những biến động sâu sắc: kinh tế bắt đầu sa sút, chính trị
khủng hoảng, xã hội bất ổn. Nguyên nhân chủ yếu của những biến động này là
ta. Ngày 19-11-1406, 80 vạn quân Minh dưới sự chỉ huy của Trương Phụ và
Mộc Thạnh đã vượt qua biên giới vào lãnh thổ nước ta. Quân đội nhà Hồ rút về
thủ giữ các phòng tuyến ở bên bờ sông Đà và sông Nhị. Nhưng ngày 20 -1-1407
thành Đa Bang thất thủ, phòng tuyến chính bị phá vỡ, tháng 6 năm 1407 thì cuộc
kháng chiến của nhà Hồ thất bại hoàn toàn. Dù quân Minh đã đánh bại được nhà
Hồ nhưng đã vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của nhân dân và ngay trong vùng
chúng đã chiếm đóng được, những cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra liên tiếp. Một
phong trào đấu tranh rộng rãi và mạnh mẽ của nhân dân ta dâng lên khắp nơi.
Mãi đến năm 1414, quân Minh mới thật sự chiếm được toàn bộ lãnh thổ nước ta
và hoàn thành cuộc xâm lược của chúng. Tuy nhiên, từ năm 1407, quân Minh đã
bắt đầu thiết lập chính quyền đô hộ trên đất nước ta để làm công cụ phục vụ kế
hoạch “bình định” của chúng và đồng thời tiến hành những chính sách thống trị
về các mặt.
Về chính trị:
Âm mưa của nhà Minh là không những chiếm nước ta làm thuộc quốc mà
còn muốn thực hiện dã tâm đồng hóa, vĩnh viễn xóa bỏ nước ta và sát nhập hẳn
vào lãnh thổ của nhà Minh. Tháng 4 năm 1407, Minh Thành Tổ hạ chiếu đổi
nước ta làm quận Giao Chỉ, coi như một địa phương của quốc gia phong kiến
nhà Minh. Chính quyền đô hộ ở Giao Chỉ nói chung được tổ chức như một
chính quyền địa phương của nhà Minh.
Đứng đầu quận Giao Chỉ là một tổ chức chính quyền gồm ba ti: đô chỉ huy
sứ ti, hay đô ti phụ trách về quân chính; thừa tuyên bố chính sứ ti hay bố chính ti
trông nom về dân chính và tài chính; đề hình án sát sứ ti hay án sát ti nắm quyền
tư pháp. Ba ti này lệ thuộc trực tiếp vào triều đình nhà Minh [2,24].
Dưới quận, nhà Minh chia lại các phủ, châu, huyện và thiết lập những cấp bộ
chính quyền địa phương. Năm 1407, nhà Minh lập ra 15 phủ gồm 36 châu, 181
huyện. Ngoài ra, còn 5 châu trực thuộc vào quận. Âm mưa của nhà Minh là không
những chiếm nước ta làm thuộc quốc mà còn muốn thực hiện dã tâm đồng hóa,
vĩnh viễn xóa bỏ nước ta và sát nhập hẳn vào lãnh thổ của nhà Minh. Năm 1419,
tổng binh Lý Bân đề nghị triều đình nhà Minh cho tổ chức lại xã thôn của ta thành
Bọn quan lại đô hộ thi hành rất nhiều hình thức và thủ đoạn để bóc lột, vơ
vét nhân dân ta một cách thậm tệ. Chỉ trong hơn nưa năm đầu tiến hành chiến
tranh xâm lược nước ta, quân địch đã cướp đoạt của nhân dân ta 235.900 con
voi, ngựa, trâu, bò; 13.600.000 thạch thóc; 8.670 chiếc thuyền và 2.539.800 vũ
khí [2,30].
Về thuế khóa, chính quyền đô hộ đặt ra vô số thứ thuế nặng nề đánh vào
mọi hạng người và mọi nghề nghiệp làm ăn của nhân dân từ nông nghiệp, thủ
công nghiệp đến thương nghiệp. Nhà Minh đã thiết lập một mạng lưới thu thuế
mang tên là ti thuế khóa, ti tuần kiểm, ti thị bạc, ti thuế muối Mọi hoạt động
kinh doanh buôn bán đều do chúng độc quyền, không những thế chúng còn bắt
8
nhân dân ta lao dịch khổ sai cho chúng, bắt hàng loạt các thợ thủ công giỏi đem
về nước phục dịch và thậm chí bắt cả phụ nữ, trẻ em bán làm nô tỳ.
Về văn hóa - xã hội:
Nhà Minh chủ trương thủ tiêu nền văn hóa lâu đời của dân tộc ta và đồng
hóa về mặt phong tục, tập quán. Trong quá trình xâm lược, chúng còn tìm cách
tiêu hủy những di sản văn hóa của nước ta bằng cách đốt hết những sách vở bắt
được và tịch thu sách vở đem về nước. Chính sách thâm độc độc đó của quân
địch đã làm một số tác phẩm lịch sử, văn học nghệ thuật v.v thời Lý, Trần bị
mất mát và tiêu hủy rất nhiều. Bên cạnh đó, nhà Minh còn bắt nhân dân ta thay
đổi cách ăn mặc và phong tục tập quán lâu đời của mình để đồng hóa theo phong
tục và lễ giáo nhà Minh.
Về giáo dục:
Nhà Minh ra sức việc hạn chế việc học hành, thi cử và biến trường học
thành nơi đào tạo bọn tay sai phục vụ cho chính quyền đô hộ. Đồng thời với việc
hạn chế phát triển giáo dục, chính quyền đô hộ ra sức truyền bá đạo Phật, đạo
Giáo và các hình thức mê tín khác để mê hoặc nhân dân. Trong chính quyền đô
hộ, chúng lập ra đến 257 cơ quan chuyên trách về tôn giáo gọi là các ty âm
dương, tăng cương, đạo kỷ, tăng chính, đạo chính v.v Do đó, những người làm
không cày cấy được [2,38].
Về công thương nghiệp, chính sách thuế khóa nặng nề cùng với những thủ
đoạn vơ vét tài nguyên, lùng bắt thợ thủ công, hạn chế sự đi lại buôn bán và cấm
chỉ về ngoại thương của nhà Minh là những trở lực nghiêm trọng. Do những
chính sách và thủ đoạn đó mà nhiều nghề thủ công bị phá sản, việc buôn bán
trong nước và ngoài nước trở nên sa sút.
Đời sống nhân dân thì lâm vào tình trạng lầm than, cơ cực. Ngoài thuế
khóa, phu dịch nhân dân còn phải chịu nhiều cảnh chém giết, cướp bóc và tàn
phá của quân địch.
Với tất cả những hậu quả to lớn do cuộc chiến tranh xâm lược và ách đô hộ
tàn bạo của giặc Minh gây ra đã kìm hãm sự phát triển của xã hội, đe dọa
nghiêm trọng vận mệnh dân tộc, chà đạp lên cuộc sống cũng như phẩm giá của
con người. Trong bối cảnh “nước sôi lửa bỏng” đó, một nhiệm vụ cấp thiết đặt
ra là phải đấu tranh thủ tiêu nền thống trị ngoại bang, khôi phục nền độc lập của
Tổ quốc.
1.2. Các phong trào đấu tranh trước khởi nghĩa Lam Sơn
Ngay sau khi cuộc kháng chiến của nhà Hồ thất bại, hàng loạt các cuộc đấu
tranh của nhân dân ta chống lại ách thống trị của nhà Minh liên tục nổ ra, không
ngừng, không ngớt trên khắp mọi miền Tổ quốc. Mùa thu năm 1407, ngay sau
khi nền đô hộ của nhà Minh vừa mới được thiết lập thì nhân dân huyện Đông
Lan và Trà Thanh thuộc phủ Diễn Châu (Nghệ An) nổi dậy đốt phá nhà ngục,
giết bọn quan lại.
Cũng trong năm 1407, nhân dân thiểu số miền châu Quảng Nguyên, Thất
Nguyên (Cao Bằng) đã nổi dậy chống quân Minh. Tháng 9, Trương Phụ phái đô
10
đốc Cao Sĩ Văn điều quân lên đàn áp. Quân Minh tiến đến châu Quảng Nguyên
thì bị chặn đánh kịch liệt. Quân địch bị tổn thất nặng nề, Cao Sĩ Văn bị giết.
Xung quanh những thành lũy trung tâm của địch như Đông Quan (tức
Đông Đô), Tây Đô, quân Minh phải thừa nhận có những “ổ quân ác nghịch” tức
quân sang tăng viện. Cuối năm 1408, Mộc Thạnh tập trung một lực lượng lớn
tiến đánh nghĩa quân ở bến Cô Bô (bến sông Đáy ở Ý Yên, đối diện với thị xã
11
Ninh Bình). Nhưng tại đây, quân ta đã giết chết nhiều tướng soái, quan chức cao
cấp của địch và tiêu diệt khoảng 10 vạn quân địch. Tướng Mộc Thạnh cùng đám
tàn quân rút chạy về thành Cổ Lộng (Ý Yên, Nam Định).
Như vậy, chiến thắng Cô Bô đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đánh giặc cứu
nước của nhân dân ta và tạo ra một thời cơ thuận lợi để tiến lên giành những
thắng lợi có ý nghĩa quyết định. Nhưng tiếc rằng, sau chiến thắng ấy, trong bộ
chỉ huy cuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi lại nảy sinh những mâu thuẫn, chia rẽ
nghiêm trọng. Do sợ bị lấn áp quyền lực, Trần Ngỗi đã giết hai tướng chủ chốt
của nghĩa quân là Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Hành vi đó làm cho nghĩa
quân chán nản, lòng người li tán. Nhiều người đã bỏ Trần Ngỗi đi tổ chức các
cuộc khởi nghĩa khác. Đến đây, cuộc khởi nghĩa do Trần Ngỗi lãnh đạo chính
thức chấm dứt.
Cũng giống như Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng cũng là một quý tộc nhà
Trần. Trần Quý Khoáng là con thứ của Mẫn Vương Ngạc, cháu vua Trần Nghệ
Tông và cũng là cháu Trần Ngỗi. Sau khi Giản Định Đế nghe lời gièm pha giết
hai tướng là Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân thì Trần Quý Khoáng được Đặng
Dung là con của Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Dị là con Nguyễn Cảnh Chân đưa
lên làm vua thay cho Giản Định Đế, lấy hiệu là Trùng Quang Đế. Tại Nghệ An,
Trần Ngỗi vẫn được tôn làm Thái thượng hoàng để cùng với Trần Quý Khoáng
hợp nhất hai lực lượng khởi nghĩa.
Nghĩa quân Trần Quý Khoáng, sau một thời gian củng cố lực lượng, vẫn
kiểm soát được khu vực từ Thanh Hóa trở vào. Dưới sự chỉ huy của các tướng
Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy, nghĩa quân nhiều lần tiến ra hoạt
động ở lưu vực sông Đáy, sông Nhị, sông Thái Bình, đánh chiếm cửa Hàm Tử,
đồn Bình Than, gây cho quân Minh nhiều thiệt hại. Tuy nhiên, nghĩa quân đã
gặp không ít khó khăn bởi sự đầu hàng và tiếp tế cho giặc của một số tướng tá.
hợp lực lượng đông đảo của mọi tầng lớp nhân dân yêu nước.
Cuộc xâm lược của nhà Minh được tiến hành vào lúc chế độ phong kiến
nước ta đang đứng trước một số trở ngại, trong lúc những mâu thuẫn giai cấp
trong nước đang gay gắt. Trong những mâu thuẫn giai cấp lúc bấy giờ, mâu
thuẫn giữa tầng lớp quý tộc với nông nô, nô tỳ và nông dân lệ thuộc là quyết liệt
nhất. Mâu thuẫn ấy đòi hỏi phải được giải quyết bằng cách phá vỡ kinh tế điền
trang thái ấp và giải phóng nông nô, nô tỳ thành nông dân tá điền hay nông dân
tự canh. Sự sụp đổ của triều Trần rồi những cải cách của Hồ Quý Ly và đặc biệt
là phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân đã làm cho quyền lợi kinh tế
và địa vị thống trị của tầng lớp quý tộc bị đe dọa nghiêm trọng.
Trước sự xâm lược và đô hộ của nhà Minh, tầng lớp quý tộc đã bộc lộ thái
độ phản động, sẵn sàng câu kết với giặc ngoại xâm để hòng duy trì quyền lợi và
địa vị riêng. Điều đó đã được minh chứng qua những hành động như cầu cứu
nhà Minh, dẫn đường cho quân Minh xâm lược, tham gia chính quyến đô hộ của
nhà Minh để đàn áp nhân dân Tuy nhiên, dưới ách thống trị của nhà Minh,
trong nội bộ tầng lớp quý tộc cũng diễn ra sự phân hóa sâu sắc. Trong lúc đại bộ
phận quý tộc đi vào con đường phản bội, thì cũng có một số quý tộc yêu nước đã
lãnh đạo và tổ chức nhân dân khởi nghĩa.
13
Đặc điểm của những cuộc khởi nghĩa do những quý tộc yêu nước lãnh đạo
là ngoài mục đích lật đổ nền đô hộ của nhà Minh, giải phóng đất nước, còn
nhằm khôi phục lại nhà Trần và bảo vệ quyền lợi của tầng lớp quý tộc. Lật đổ
nền đô hộ của nhà Minh, giải phóng đất nước là nội dung yêu nước và tiến bộ
của những cuộc khởi nghĩa này. Nhưng khôi phục lại nhà Trần và bảo vệ
quyền lợi của tầng lớp quý tộc lại biểu hiện mặt hạn chế và tiêu cực của bộ
phận lãnh đạo. Khẩu hiệu khôi phục lại nhà Trần có phần nào đó có tác dụng
bóc trần và chống lại chiêu bài “phù Trần” xảo trá của nhà Minh. Nhưng triều
Trần là một triều đại phong kiến đổ nát đã bị nhân dân lên án và lật đổ nên
khẩu hiệu khôi phục lại nhà Trần không có tác dụng động viên đối với nhân
lên miền núi và thu hút được mọi tầng lớp nhân dân tham gia, tiêu biểu là cuộc
khởi nghĩa của Trần Ngỗi, sau đó là Trần Quý Khoáng lãnh đạo. Các phong
trào đấu tranh trước khởi nghĩa Lam Sơn đều là những cuộc đấu tranh giải
phóng có tính chất yêu nước và chính nghĩa. Những cuộc khởi nghĩa đó đã
giành được một số thắng lợi nhất định, nhưng cuối cùng đều bị thất bại trước
sự đàn áp đẫm máu của quân Minh. Dù thất bại, nhưng phong trào đấu tranh
trước khởi nghĩa Lam Sơn đã thể hiện quyết tâm chống xâm lược, giành lại
độc lập, chủ quyền đất nước.
15
CHƯƠNG 2. QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NGUYỄN CHÍCH TRƯỚC
KHI THAM GIA KHỞI NGHĨA LAM SƠN
2.1. Quê hương và thân thế
2.1.1 Quê hương
Thanh Hóa - quê hương người anh hùng Nguyễn Chích là một tỉnh lớn thứ
8 trong 64 tỉnh thành trong cả nước với diện tích 11.138km
2
và 18.000km thềm
lục địa. Thanh Hóa là vùng đất nằm ở cực bắc miền Trung, nối liền với Bắc
Trung Bộ và Trung Bộ nước ta. Phía Bắc giáp 3 tỉnh: Sơn La; Hòa Bình; Ninh
Bình, phía Nam và Tây Nam giáp Nghệ An, phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn của
Lào, phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ.
Thanh Hóa là vùng đất có bề dày lịch sử hào hùng và truyền thống văn hóa
đặc sắc. Vào sơ kì đá cũ, bằng sự phát hiện và khai quật khảo cổ các di chỉ Núi
Đọ, núi Quan Yên, núi Nuông đã khẳng định Thanh Hóa là nơi sinh sống của
người nguyên thủy, đặc biệt hang Con Moong là nơi chứng kiến các giai đoạn
phát triển liên tục của con người từ hậu kì đá cũ sang thời đại đá mới. Quá trình
chinh phục đồng bằng trên đất Thanh Hóa của cư đân đồ đá mới đã để lại một
nền văn hóa Đa Bút - một nền văn hóa tiến bộ cách đây 6000 năm.
Về giao thông: Có quốc lộ 45 chạy từ thành phố Thanh Hóa, cắt ngang phía
Bắc huyện, qua thị trấn Rừng Thông, sau huyện Thiệu Hóa và quốc lộ 47 sang
huyện Nông Cống cùng với đường sắt Bắc Nam tạo thành mạch máu giao thông
quan trọng.
Về kinh tế: là khu vực có hệ thống giao thông thuận lợi và địa bàn bằng
phẳng thuận lợi thu hút vốn đầu tư. Đồng thời phát triển mạnh các ngành khai
thác và chế tạo đá xuất khẩu mỹ nghệ đem lại nguồn lợi lớn.
Về văn hóa- xã hội: huyện Đông Sơn nổi tiếng với hệ thống trò diễn dân
gian: ngũ trò Viên Khê, ngũ trò Bôn, ngũ trò Rủn… Cùng nhiều giá trị văn hóa
nổi tiếng đặc biệt là trống đồng Đông Sơn.
Từ xa xưa, Đông Sơn được coi là nơi có lịch sử có lịch sử phát triển lâu
đời. Vùng đất này có vinh dự là một trong những nơi chứng kiến những bước
chuyển biến vĩ đại của nhân loại từ vượn thành người.
Trên vùng đất này theo dòng tiến hóa của lịch sử dân tộc, có rất nhiều các
địa danh tên đất đã trở thành các biểu trưng văn hóa tạo nên những dấu ấn đậm
nét trên trang sử dựng nước của cha ông. Cũng tại vùng đất này, lịch sử Đông
Sơn đã sản sinh ra cho lịch sử dân tộc rất nhiều các danh sĩ nổi tiếng một thời.
Tên tuổi của các nhân vật như Lê Văn Hưu, Lê Quát, Nguyễn Mộng Tuân Đã
góp phần vào bề dày lịch sử văn hiến hàng nghìn năm của dân tộc ta cùng với
hàng trăm các bia đá tiêu biểu cho các thời kì từ thế kỉ VII đến thế kỉ XIX ở
Đông Sơn là những trang sử khẳng định thêm miền đất Đông Sơn là một trong
những vùng đất văn vật điển hình của xứ Thanh. 17
2.1.2. Thân thế
Nguyễn Chích người thôn Mạc, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, sinh
năm Nhâm Tuất (1382), mất năm Mậu Thìn (1448). Nguyễn Chích xuất thân
trong một gia đình nông dân nghèo, vốn hiền lành chất phác từ đời ông là
Nguyễn Bái đến đời cha là Nguyễn Liêu. Ông sớm mồ côi cha mẹ từ nhỏ, hai
danh tiếng của ông mãi được sử sách lưu danh, được hậu thế tri ân, học tập.
18
2.2. Quá trình hoạt động của Nguyễn Chích trước khi tham gia khởi nghĩa
Lam Sơn
2.2.1. Cuộc đấu tranh tại căn cứ Vạn Lộc
Tuy chưa xác định được mốc thời gian cụ thể mà Nguyễn Chích dấy binh
trên vùng đất Vạn Lộc nhưng trên cơ sở phân tích khoa học, có thể xác định
khung thời gian Nguyễn Chích phất cờ khởi nghĩa là điểm gạch nối giữa hai giai
đoạn, từ khi cuộc khởi nghĩa của quý tộc Trần bị thất bại đến trước khi cuộc
khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ.
Trong giai đoạn đầu, phạm vi hoạt động của Nguyễn Chích là vùng Đông
Sơn (bao gồm huyên Đông Sơn và phần lớn Thanh Hóa ngày nay) mà căn cứ
chủ yếu là làng ông tại thôn Vạn Lộc, xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn, tỉnh
Thanh Hóa.
Mặc dù tài liệu ghi chép về những hoạt động của người nông dân yêu nước
Nguyễn Chích trên vùng đất Vạn Lộc không nhiều nhưng qua một số tài liệu,
các câu chuyện truyền thuyết, sự tích dân gian còn lưu truyền đến ngày nay, các
địa danh, tên đất trên vùng đất Đông Sơn, Thanh Hóa, đặc biệt là các dấu tích
còn sót lại trên Vạn Lộc giúp ta biết được những hoạt động của Nguyễn Chích.
Tại đây, nghĩa quân đã đắp đồn lũy, lập doanh trại, luyện tập quân binh. Hiện
nay trên các cánh đồng hợp tác xã Vạn Thành còn mang nhiều địa danh và địa
hình phản ánh những hoạt động quân sự của Nguyễn Chích, đó là cồn đất mang
tên Cồn Pháo, cồn Cán Cờ, cồn Trái trống, cồn Voi, cồn Binh, cồn Luyện, cồn
Tam quân, cồn Lưỡi kiếm Căn cứ Vạn Lộc có quy mô chỉ là một làng chiến
đấu nhưng được sự ủng hộ của nhân dân đã nhanh chóng phát triển lực lượng
làm chủ cả vùng huyện Đông Sơn. Mặc dù quân giặc dùng nhiều thủ đoạn từ dụ
dỗ mua chuộc đến tiến công tiêu diệt nhưng đều thất bại. Điển hình là tên việt
gian Lương Nhữ Hốt giữ chức tham chính, cai quản cả Thanh Hóa, đem chức
tước, vàng bạc, châu báu dụ dỗ ông nhưng không được. Nguyễn Chích tổ chức
2km. Hai dãy Hoàng Nghiêu hợp lại như một hình thang lớn, diện tích toàn bộ
hơn 16km
2
, núi cao như tòa thành thiên nhiên to lớn, vững chắc và hiểm trở.
Trong chiến tranh đây là nơi giấu quân thuận lợi.
Về quân sự: Hoàng Nghiêu là căn cứ quân sự hiểm trở, được coi là cái yết
hầu của đồng bằng Nam Thanh Hóa “một người giữ chỗ hiểm, trăm người
không địch nổi”, có núi cao vách đứng như bức tường thành kiên cố, có sông
Hoàng uốn khúc chảy qua như một chiến hào sâu rộng, do đó tạo điều kiện đi
lại dễ dàng và xuất kích nhanh chóng. Sách xưa đã mô tả khu vực này như sau:
“Ở một vùng đất bằng lại nổi lên dãy núi với mươi đỉnh đá xanh, hình thế liền
nhau, dòng sông nhỏ xuyên qua xẻ làm hai Bề ngoài trông vào chỉ thấy
những đỉnh cao xanh vút mà không trông thấy trong ấy có đất bằng phẳng và
dòng sông” [2,109].
Từ Hoàng Nghiêu có thể khống chế được một vùng đất đai rộng lớn gồm
cả đồng bằng và bờ biển Nam Thanh Hóa, Bắc Nghệ An. Do đó, đây là khu vực
có tầm quan trọng chiến lược quân sự.
20
Về giao thông: Khu vực này có sông Hoàng chảy qua, sông Hoàng như mạch
máu giao thông của Nam Thanh Hóa. Từ Nghệ An qua sông Hoàng có thể ngược lên
quê hương Nguyễn Chích và các vùng thuộc huyện Đông Sơn, Triệu Sơn, xuôi sông
Hoàng là đến vùng Quảng Xương, Tĩnh Gia ngày nay. Do đó, từ Hoàng Nghiêu theo
các con đường thủy bộ mở rộng ra các vùng khác đều thuận lợi.
Về kinh tế: Hoàng Nghiêu nằm trên một địa bàn rất rộng, người đông, nơi đây
đất đai bằng phẳng có thể sản xuất đáp ứng nhu cầu lương thực cho nghĩa quân.
Mặt khác, đây cũng là vùng đất có truyền thống yêu nước, đấu tranh kiên
cường bất khuất từ nhiều năm nay. Đây là một thuận lợi rất lớn lao. Nhận thức
được tầm quan trọng của vùng đất Hoàng Nghiêu và vị trí hiểm yếu của nó,
Nguyễn Chích đã quyết định chiếm lấy vùng đất Hoàng Nghiêu từ trong tay