THAM LUẬN
XÁC THỰC ĐIỆN TỬ - DỊCH VỤ HẠ TẦNG
XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ
Trình bày: Ông Phạm Quang Hiếu
PGĐ Trung tâm Chính phủ điện tử
Tóm tắt
Từ sau Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17 tháng 10 năm 2000 của Bộ Chính trị
về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển Công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc ứng dụng CNTT của nước ta đã khởi sắc. Đặc biệt
Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10/04/2007 của Chính phủ về Ứng dụng CNTT
trong hoạt động của cơ quan nhà nước, Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg ngày
31/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch ứng dụng CNTT trong
hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009-2010, Quyết định số 1605/QĐ-
TTg ngày 27/08/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia
về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015,
đã làm cho các cơ quan nhà nước chuyển mình rõ rệt về CNTT. Nhiều Website,
Cổng Thông tin điện tử được thiết lập và giao dịch điện tử thông qua các dịch vụ
công trực tuyến đã dần trở nên quen thuộc.
Báo cáo này sẽ trình bày tóm tắt về vai trò của dịch vụ xác thực điện tử, như
là một dịch vụ hạ tầng, quan trọng, để triển khai chính phủ điện tử và phát triển
thương mại điện tử.
I. Bối cảnh phát triển CPĐT
Trong thời đại ngày nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong
hoạt động của cơ quan nhà nước, hướng tới phát triển Chính phủ điện tử là xu
thế tất yếu, là mô hình phổ biến của nhiều quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử
trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của bất cứ Chính phủ nào, Chính phủ
điện tử cho phép người dân tương tác, nhận được các dịch vụ từ Chính phủ 24
giờ một ngày, 07 ngày một tuần, làm giảm tham nhũng, tăng tính minh bạch,
giảm chi phí, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Chính phủ, góp phần
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng. Theo Ngân
hàng thế giới (WorldBank), Chính phủ điện tử là việc các cơ quan Chính phủ sử
bộ cơ quan nhà nước để nâng cao năng lực quản lý, điều hành; ứng dụng CNTT
trong việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân và doanh nghiệp;
xây dựng nền tảng phục vụ Chính phủ điện tử; xây dựng các hệ thống thông tin,
cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
1.1. Tổng quan về kết quả ứng dụng CNTT giai đoạn 2001-2010:
Theo Báo cáo Ứng dụng công nghệ thông tin 2010 của Bộ Thông tin và
Truyền thông, trong giai đoạn 2001-2010, hoạt động ứng dụng CNTT trong cơ
quan nhà nước đã đạt được một số kết quả như sau:
- Ứng dụng CNTT trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành cũng như
trong công tác chuyên môn ở các cơ quan nhà nước đã từng bước đổi mới, trở
thành động lực thúc đẩy cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả công tác; đã
hình thành thói quen và nhu cầu ứng dụng CNTT vào giải quyết công việc, rút
ngắn khoảng cách, thời gian và nâng cao chất lượng phục vụ của cơ quan nhà
nước đối với người dân và doanh nghiệp; tạo tiền đề quan trọng cho việc phát
triển chính phủ điện tử trong giai đoạn tiếp theo;
- Hạ tầng kỹ thuật CNTT bao gồm mạng truyền dẫn trên quy mô quốc
gia; mạng, máy tính trong nội bộ các cơ quan nhà nước đã được cải thiện đáng
kể đáp ứng việc triển khai ứng dụng CNTT cơ bản trong các cơ quan nhà nước
trước mắt và tạo cơ sở cho việc nâng cấp, mở rộng phục vụ cho các ứng dụng
CNTT trong tương lai;
2
- Một số ứng dụng CNTT cơ bản trong nội bộ cơ quan nhà nước đã được
triển khai, phát huy hiệu quả rõ rệt. Tiêu biểu như sử dụng thư điện tử và các
phần mềm phục vụ công tác trao đổi văn bản, quản lý điều hành, tài chính - kế
toán; tổ chức các cuộc họp trên môi trường mạng;
- Một số ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp đã bắt đầu
phát huy được hiệu quả, bước đầu tạo lòng tin, thói quen của nhân dân trong
việc tiếp xúc với các dịch vụ của cơ quan nhà nước có ứng dụng CNTT; đồng
thời là cơ sở rút kinh nghiệm, mở rộng các ứng dụng CNTT phục vụ người dân
và doanh nghiệp trong thời gian tới. Tiêu biểu như ứng dụng CNTT cung cấp
cơ quan nhà nước, hướng tới nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí hoạt
động;
3
c) Cung cấp thông tin, dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, trên diện rộng
cho người dân và doanh nghiệp, làm cho hoạt động của cơ quan nhà nước minh
bạch hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn.
Trong đó, Mục tiêu về xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin, tạo
nền tảng phát triển Chính phủ điện tử được cụ thể như sau:
- Phát triển và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật bảo đảm cho các hoạt động
ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước trên môi trường mạng
an toàn, hiệu quả;
- Phát triển và hoàn thiện các hệ thống thông tin, các cơ sở dữ liệu lớn,
trước hết tập trung xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia về con người, tài nguyên
và môi trường, tài chính, kinh tế, công nghiệp và thương mại, bảo đảm tính cấu
trúc, hệ thống, tạo môi trường làm việc điện tử rộng khắp giữa các cơ quan nhà
nước.
Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ Thông tin và Truyền
thông thực hiện dự án “Xây dựng hệ thống xác thực quốc gia” và một số dự án
liên quan như:
- Trung tâm thông tin dữ liệu điện tử Chính phủ (GIDC - Government
Information Data Center);
- Hệ thống thư điện tử quốc gia;
- Trung tâm kết nối, liên thông các hệ thống thông tin ở Trung ương và
địa phương;
- Hệ thống thông tin quản lý văn bản tích hợp trong toàn quốc cho các cơ
quan Chính phủ.
II. Hiện trạng và nhu cầu xác thực điện tử tại Việt Nam
2.1. Sự cần thiết triển khai NAS
Với sự ra đời của Luật Giao dịch điện tử, hoạt động giao dịch điện tử đã
chính thức được công nhận về mặt pháp lý tại Việt Nam. Đây là một cơ sở pháp
Các cơ quan nhà nước khi triển khai các dịch vụ công trên các trang thông
tin điện tử cũng có thể tiến hành xây dựng các cơ chế xác thực riêng cho hệ
thống của mình. Phương án triển khai riêng rẽ này có một số điểm không hiệu
quả như:
- Do chi phí để quản lý ID của người dùng cuối là cao nên đầu tư riêng rẽ
cho từng trang thông tin điện tử sẽ dẫn đến lãng phí.
- Không thống nhất về công nghệ.
- Không thuận tiện cho người sử dụng
- Khó khăn khi cần kiểm soát, nâng cấp mức độ an toàn an ninh thông tin.
Hiện nay, các cơ quan nhà nước khi triển khai các dịch vụ công đang tiến
hành xây dựng các cơ chế xác thực riêng cho hệ thống của mình. Do chi phí để
quản lý ID của người dùng cuối là rất cao, việc triển khai riêng rẽ trên dẫn đến
lãng phí đầu tư, không thống nhất về công nghệ, không thuận tiện cho người sử
dụng và ngoài ra còn gây ra một số khó khăn khi cần kiểm soát, nâng cấp mức
độ an toàn an ninh thông tin.
Qua nghiên cứu cũng như tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài có thể
thấy đối với nhiều cơ quan nhà nước, mức độ yêu cầu xác thực người dùng cuối
đối với dịch vụ công trực tuyến được các cơ quan này cung cấp là như nhau. Vì
vậy, đầu tư xây dựng hệ thống xác thực chung thống nhất cho các dịch vụ công
trực tuyến dạng này sẽ hiệu quả về kinh phí và quản lý công nghệ, thuận tiên
cho người dùng cuối và qua đó góp phần thúc đẩy việc phát triển giao dịch điện
tử giữa các cơ quan nhà nước với người dân và cộng đồng doanh nghiệp, qua đó
nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, phát triển kinh tế xã hội.
5