s
Khóa luận này hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Đỗ Thúy Mùi.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành, sâu sắc đến cô đã tận tình
chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu trường Đại học
Tây Bắc, Phòng Quản lí khoa học và Quan hệ quốc tế, các thầy cô giáo trong
khoa Sử - Địa và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành khóa
luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh ở trường
THPT số 1 Bảo Yên, THPT số 1 Bát Xát, THPT Dân tộc nội trú tỉnh Lào Cai đã
nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm của khóa luận.
Trong quá trình thực hiện khóa luận chắc chắn không thể tránh khỏi những
khiếm khuyết, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo
và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, năm 2013
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Văn Đại (04/08/1991)
DTNT
Dân tộc nội trú
HĐ
TRANG
Kết quả điều tra sự cần thiết rèn KNS ở trường THPT
số 1 Bảo Yên.
36
Kết quả điều tra sự cần thiết rèn KNS ở trường THPT
số 1 Bát Xát.
37
Kết quả điều tra sự cần thiết rèn KNS ở trường THPT
Dân tộc nội trú tỉnh.
37
Tổng hợp kết quả điều tra ở 3 trường.
38
Kết quả điều tra về tính hiệu quả của bài học có lồng
ghép KNS ở trường THPT số 1 Bảo Yên .
40
Kết quả điều tra về tính hiệu quả của bài học có lồng
ghép KNS ở trường THPT số 1 Bát Xát .
40
Kết quả điều tra về tính hiệu quả của bài học có lồng
ghép KNS ở trường THPT Dân tộc nội trú tỉnh.
41
4. 6
4.1. Phương pháp phân tích xử lí số liệu thống kê 6
4.2. Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu 6
4.3. Phương pháp thực nghiệm 7
4.4. Phương pháp phỏng vấn 7
4.5. Phương pháp biểu đồ 8
8
5.1. Về lí luận 8
5.2. Về thực tiễn 8
9
10
1.1. 10
1.1.1. Một số khái niệm về kỹ năng sống 10
1.1.2. Giáo dục kỹ năng sống 14
1.1.3. Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT 14
1.1.3.1. Kỹ năng kiểm soát cảm xúc 15
1.1.3.2. Kỹ năng tự nhận thức 15
1.1.3.3. Kỹ năng tư duy sáng tạo 15
1.1.3.4. Kỹ năng giao tiếp 16
1.1.3.5. Kỹ năng bảo vệ thiên nhiên và môi trường, phòng tránh thiên tai 16
1.1.3.6. Kỹ năng giải quyết vấn đề 17
1.1.4. Phương thức và phương pháp tiếp cận trong giáo dục KNS cho HS trung
học phổ thông. 17
19
1.2.1. Tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 11 trong
nhà trường THPT 19
1.2.2. Sự cần thiết phải rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh lớp 11 trên địa bàn
tỉnh Lào Cai qua môn Địa lí 20
Hiện nay, trên thế giới nhiều quốc gia đang chú trọng tới việc rèn kỹ năng
sống. Đã có trên 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa kỹ năng sống vào
nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khóa ở tiểu học
và trung học. Nhiều nước đã lồng ghép nội dung rèn KNS vào các môn học, đặc
biệt là các môn thuộc khoa học xã hội.
Do nhu cầu đổi mới giáo dục để đáp ứng sự phát triển đất nước và sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như đáp ứng nhu cầu của
người học, Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông; đổi mới mục tiêu
giáo dục từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho người học sang trang bị những kiến
thức, kỹ năng cần thiết như: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng
bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, kỹ năng kiểm soát cảm xúc tuy
nhiên, nhận thức về KNS, cũng như việc thể chế hóa giáo dục KNS trong giáo
dục phổ thông ở Việt Nam chưa thật cụ thể, đặc biệt về hướng dẫn tổ chức hoạt
động giáo dục KNS cho học sinh (HS) ở các cấp, bậc học còn hạn chế [6].
Giáo dục KNS có vai trò quan trọng là những nhịp cầu giúp cho con người
biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực lành mạnh. Người có
KNS phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn thử thách, biết ứng xử,
giải quyết vấn đề một cách tích cực, phù hợp, họ thường thành công hơn trong
cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống. Ngược lại, nếu người thiếu KNS
dễ vấp ngã và thất bại trong cuộc sống.
Trong thực tiễn hiện nay, có nhiều học sinh thiếu KNS, dễ mắc vào tệ nạn
xã hội, chỉ biết sống cho bản thân, không biết sống vì người khác, thiếu ý thức
với cộng đồng. Vì vậy, giáo dục KNS cho thế hệ trẻ là rất cần thiết, giúp cho các
em học sinh rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng
đồng vì Tổ quốc.
2
Như vậy, giáo dục KNS đang là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế
giới trong đó có Việt Nam. Ở Lào Cai, việc giáo dục KNS có vai trò quan trọng.
Có thể lồng ghép rất nhiều KNS trong các môn học trong đó có môn Địa lí. Một
học này.
3
- Thiết kế một số giáo án và tiến hành thực nghiệm ở 3 trường THPT trên
địa bàn tỉnh Lào Cai.
2.3. Giới hạn nghiên cứu
- Khóa luận nghiên cứu dạy kỹ năng sống cho đối tượng là học sinh lớp 11
ở trường THPT trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Khóa luận được tiến hành thực
nghiệm ở 3 trường THPT tiêu biểu là trường THPT số 1 Bảo Yên, trường THPT
số 1 Bát Xát, trường THPT Dân tộc nội trú (DTNT) tỉnh.
- Kỹ năng sống gồm rất nhiều kỹ năng khác nhau như: Kỹ năng giao tiếp;
kỹ năng ứng xử; kỹ năng tìm kiếm, xử lý thông tin; kỹ năng giải quyết vấn
đề… Khóa luận chỉ nghiên cứu để dạy một số kỹ năng cơ bản là kỹ năng ứng
xử với môi trường tự nhiên, kỹ năng sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên,
kỹ năng bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai và những hành vi gây hại đến
môi trường sống.
- Khóa luận chỉ nghiên cứu việc rèn KNS ở một số bài học Địa lí trong
chương trình Địa lí lớp 11 ban cơ bản.
3.1. Trên thế giới
Thuật ngữ “Kỹ năng sống’’ đã xuất hiện từ những năm 90 của thế kỷ XX
trong một số chương trình giáo dục của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc
(UNICEF), trước tiên là chương trình “Giáo dục những giá trị sống” với 12 giá
trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ. Những nghiên cứu về KNS trong giai
đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về KNS cũng như
đưa ra được một bản danh mục các kỹ năng cơ bản mà thế hệ trẻ cần có. Phần
lớn các công trình nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này quan niệm về KNS theo
nghĩa hẹp, đồng nhất nó với kỹ năng xã hội. Dự án được Tổ chức Giáo dục
Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) tiến hành tại một số nước
trong đó có các quốc gia Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính
không chỉ riêng quốc gia nào, mà đây là một vấn đề mang tính toàn cầu, đã được
nhiều nước rất quan tâm nghiên cứu.
3.2. Ở Việt Nam
Thuật ngữ kỹ năng sống bắt đầu được biết đến ở Việt Nam từ chương trình
của UNICEF (1996) "Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng
chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường". Thông qua
quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và giáo dục
KNS ngày càng được mở rộng.
Trong giai đoạn đầu tiên, khái niệm kỹ năng sống được giới thiệu trong
chương trình này chỉ bao gồm những kỹ năng sống cốt lõi như: Kỹ năng tự nhận
thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt
mục tiêu. Ở giai đoạn này, chương trình chỉ tập trung vào các chủ đề giáo dục
sức khỏe của thanh thiếu niên. Giai đoạn 2 của chương trình mang tên "giáo dục
sống khỏe mạnh và kỹ năng sống". Trong giai đoạn này nội dung của khái niệm
KNS đã được phát triển sâu sắc hơn.
5
Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống
về kỹ năng sống và giáo dục KNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình,
tác giả có nhiều bài báo, đề tài khoa học cấp Bộ, giáo trình bàn về kỹ năng sống.
Những công trình tiêu biểu của tác giả là “Giáo dục kỹ năng sống”, Chuyên đề
cao học, ĐHSP Hà Nội. “Giáo dục kỹ năng sống”, Giáo trình dành cho sinh
viên Cao đẳng sư phạm, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội. “Những nghiên cứu và
thực hiện chương trình giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam”, Viện Chiến lược và
Chương trình giáo dục, Hà Nội. Những công trình này đặt cơ sở và tạo ra những
hướng nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam.
Những nội dung chủ yếu mà tác giả Nguyễn Thanh Bình đã đề cập đến
trong các nghiên cứu là xác định những vấn đề lý luận cốt lõi về kỹ năng sống
và giáo dục kỹ năng sống. Tác giả đã trình bày được khái niệm về kỹ năng sống,
các loại kỹ năng sống. Điều đặc biệt là tác giả đã trình bày được các phương
chọn các KNS cần giáo dục cho học sinh. Phần 2 nhóm tác giả đề cập đến việc
giáo dục KNS trong môn Địa lí ở trường trung học cơ sở (THCS). Trong phần
này, nhóm tác giả đề cập đến 3 nội dung cơ bản là: Thứ nhất, phân tích khả
năng, mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh trong môn Địa lí ở trường THCS.
Nội dung này giúp giáo viên có nhận thức về việc vận dụng kiến thức của môn
Địa lí vào giáo dục KNS cho học sinh THCS. Thứ hai, giới thiệu một số nội
dung và địa chỉ các tiết học/ bài học tiêu biểu của môn Địa lí vào giáo dục KNS
cho học sinh ở từng lớp. Thứ ba, tiến hành soạn một số bài tham khảo về giáo
dục KNS trong môn Địa lí ở trường THCS. Cuốn sách này là nguồn tài liệu giúp
cho các thầy cô có thể vận dụng để rèn KNS cho học sinh THCS.
Như vậy, vấn đề giáo dục KNS trong nhà trường nói chung đã có nhiều tác
giả đề cập đến. Các công trình này là những cơ sở giúp cho tác giả kế thừa phát
huy để nghiên cứu khóa luận “Rèn kỹ năng sống cho học sinh lớp 11 trên địa
bàn tỉnh Lào Cai qua môn Địa lí”.
4.1. Phương pháp phân tích xử lí số liệu thống kê
Khóa luận được thực nghiệm tại một số trường THPT, do đó kết quả thực
nghiệm sẽ được thống kê, xử lí và tính toán. Trên cơ sở những số liệu đã được
xử lí để rút ra một số kết luận cần thiết.
Các giáo án thiết kế được thực nghiệm ở 3 trường. Tác giả đã tiến hành
điều tra ở lớp thực nghiệm với 316 em học sinh, lớp đối chứng 273 em học sinh,
với những nội dung khác nhau. Sau khi phát phiếu điều tra xin ý kiến, tác giả đã
phân tích, xử lí số liệu thống kê. Những số liệu được phân tích, tính toán một
cách tỉ mỉ trong mối tương quan tổng thể, từ đó có những đánh giá và rút ra
những kết luận cần thiết.
4.2. Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu
Đây là một phương pháp nghiên cứu rất quan trọng trong việc tiếp cận
vấn đề. Tài liệu thu thập được về mặt lí luận sẽ giúp chúng ta hiểu biết được các
thành tựu trong quá khứ và những vấn đề cập nhật hiện tại.
rất cần thiết, tác giả đã phỏng vấn thông qua phiếu điều tra tới 589 học sinh.
Trong quá trình phỏng vấn tác giả không chỉ phỏng vấn ở những lớp được lồng
ghép kiến thức KNS mà còn phỏng vấn cả những lớp không dạy. Trên cơ sở
những ý kiến đó tác giả xác định sự cần thiết phải rèn KNS cho học sinh THPT.
Những thông tin mà tác giả thu được thông qua phiếu điều tra đó là cơ sở cần
thiết để khẳng định được kết quả nghiên cứu của khóa luận.
8
4.5. Phương pháp biểu đồ
Đây là một phương pháp phổ biến và thông dụng trong môn Địa lí. Các
biểu đồ đều mang một thông tin nhất định. Vì vậy, trong khóa luận để thể hiện
kết quả nghiên cứu tôi đã xây dựng biểu đồ cột. Khóa luận đã xây dựng được 2
biểu đồ thể hiện kết quả nghiên cứu về sự cần thiết phải lồng ghép nội dung giáo
dục KNS cho học sinh trung học phổ thông qua môn Địa lí.
5.1. Về lí luận
Khóa luận hoàn thành sẽ góp phần phát triển lí luận về giáo dục KNS cho
học sinh THPT và bước đầu thiết lập cơ sở lí luận về giáo dục KNS trong môn
Địa lí thông qua việc lồng ghép những nội dung cụ thể trong từng môn học.
Những vấn đề trên thể hiện qua một số quan điểm sau:
Giáo dục KNS nói chung và thông qua môn Địa lí lớp 11 trên địa bàn tỉnh
Lào Cai nói riêng nhằm giúp phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh để các
em rèn KNS, kỹ năng ứng xử với môi trường tự nhiên trong thời kì biến đổi khí
hậu. Trên cơ sở đó giúp các em biết ứng xử với cuộc sống, con người và vận
dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất sau này để có thể sử dụng, khai
thác hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Việc tích hợp và lồng ghép thông qua một số bài học cụ thể không chỉ đem
lại sự sinh động, phong phú trong nội dung bài giảng mà còn góp phần hình
thành những suy nghĩ, tư duy nhận thức mới cho học sinh lớp 11 ở tỉnh Lào Cai.
5.2. Về thực tiễn
thập kỉ 90, các tổ chức Liên Hợp Quốc như: Tổ chức Y tế thế giới (WHO),
UNESCO đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục KNS cho thanh thiếu
niên. Tuy nhiên, cho đến nay, KNS vẫn chưa có một định nghĩa nào rõ ràng và
đầy đủ.
Theo UNESCO: Kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các
chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Đó là khả năng làm cho hành
vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có
thể kiểm soát, quản lí có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc
sống hàng ngày.
Theo UNICEF: Kỹ năng sống là khả năng phân tích tình huống và ứng xử,
khả năng phân tích cách ứng xử và khả năng tránh được các tình huống. Các
KNS nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức “cái chúng ta biết” và thái độ,
giá trị “cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng thành hành động thực tế làm gì và
làm cách nào” là tích cực nhất và mang tính chất xây dựng.
WHO quan niệm: Kỹ năng sống là năng lực tâm lí xã hội, là khả năng ứng
phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống. Đó
cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt
tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người
khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh. Năng lực tâm lí có vai trò
quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh
thần và xã hội. KNS là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lí xã hội này.
Tại Việt Nam, hiện nay cũng có khá nhiều quan niệm khác nhau về khái
niệm KNS. Trong bài viết “Khái niệm KNS nhìn từ góc độ tâm lí học”, PGS
Nguyễn Quang Uẩn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã xem xét khái niệm
KNS dưới góc độ tâm lí học, tác giả đã phân tích: Cuộc sống của con người
diễn ra bằng hoạt động sống, với sự đan xen của dòng “hoạt động có đối
tượng” và “mối quan hệ giao tiếp ứng xử” giữa con người với con người, đó là
hai mặt có quan hệ tác động lẫn nhau, tạo nên cuộc sống đích thực của mỗi con
người. Trong hệ thống các kỹ năng cơ bản có tính tổng hợp và phức tạp trong
năng để sống còn như học chữ, học nghề, làm toán tới kỹ năng bơi lội…với khái
niệm KNS đã được đề cập ở các định nghĩa nêu trên.
Tóm lại, khái niệm KNS được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở từng khu
vực và từng quốc gia. Ở một số nước, KNS được hướng vào giáo dục vệ sinh,
dinh dưỡng và phòng bệnh. Một số nước khác, KNS lại hướng vào giáo dục
hành vi và cách ứng xử, giáo dục an toàn giao thông, bảo vệ môi trường hay
12
giáo dục lòng yêu hòa bình. Theo đó, vấn đề phát triển KNS cho thanh thiếu
niên ở các nước cũng khác nhau. Có nước chỉ hạn chế những KNS cần cho lĩnh
vực bảo vệ sức khỏe, phòng tránh tệ nạn xã hội, nghĩa là kỹ năng sống chỉ dành
cho một số nhóm đối tượng có nguy cơ cao để đương đầu với những thách thức
của xã hội, KNS không phải là cần cho mọi người. Nhưng ở một số nước khác
sự nhận thức về KNS sâu sắc hơn, do đó KNS được phát triển cho mọi đối
tượng để với những KNS đó con người có thể vận dụng vào giải quyết các vấn
đề xã hội khác nhau, trong các hoàn cảnh và tình huống khác nhau của từng loại
đối tượng. Tuy nhiên, xu hướng chung là sử dụng khái niệm KNS của UNESCO
(sử dụng khái niệm KNS theo nghĩa rộng) để triển khai các hoạt động phát triển
kỹ năng sống cho các đối tượng trong xã hội, đặc biệt là thanh thiếu niên. Điều
này được lí giải bởi hai lí do: Thứ nhất, nếu hiểu KNS theo nghĩa hẹp là đồng
nhất KNS với năng lực tâm lí xã hội do đó làm giảm đi phạm vi ảnh hưởng cũng
như tác dụng của KNS. Năng lực tâm lí xã hội đề cập tới khả năng của con
người biểu hiện những cách ứng xử đúng hoặc chính xác khi tương tác với
người khác trong các tình huống khác nhau của môi trường xung quanh dựa trên
nền văn hóa nào đó. Nhưng, điều cần lưu ý là con người không chỉ cần có năng
lực thích ứng với những thách thức của cuộc sống mà con người còn cần và phải
biết thay đổi một cách phù hợp mang tính tích cực; Thứ hai, khái niệm KNS
theo nghĩa rộng bao hàm trong nó năng lực tâm lí xã hội với ý nghĩa là thành
phần có vai trò chung cho việc hỗ trợ cho sức khỏe tinh thần và sức khỏe thể
chất, giúp cá nhân sống hạnh phúc với người khác trong xã hội. Bên cạnh đó,
Những cách phân loại nêu trên đã đưa ra bảng danh mục các KNS có giá trị
trong nghiên cứu phát triển lí luận về KNS và chỉ có tính chất tương đối. Trên
thực tế, các KNS có mối quan hệ mật thiết với nhau bởi khi tham gia vào một
tình huống cụ thể, con người cần phải sử dụng rất nhiều kỹ năng khác nhau. Ví
dụ, khi cần quyết định một vấn đề nào đó, cá nhân phải sử dụng những kỹ năng
như: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tư duy sáng tạo…
Kết quả nghiên cứu về KNS của nhiều tác giả [3,4] đã khẳng định: Dù phân
loại theo hình thức nào thì một số kỹ năng vẫn được coi là kỹ năng cốt lõi như:
Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đương đầu với cảm xúc, căng thẳng; kỹ năng giải
quyết mâu thuẫn một cách tích cực; kỹ năng ra quyết định, kỹ năng đặt mục
tiêu [3]. Thống nhất với quan niệm này, khóa luận đã giới hạn các KNS được
nghiên cứu để giáo dục cho học sinh lớp 11 trên địa bàn tỉnh Lào Cai thông qua
môn Địa lí gồm các kỹ năng: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng xử với môi trường
thiên nhiên, kỹ năng bảo vệ môi trường, kỹ năng sử dụng hiệu quả tài nguyên
thiên nhiên, phòng tránh thiên tai và những hành vi gây hại đến môi trường
sống. Trên cơ sở đó giúp các em biết ứng dụng các kiến thức đã học vào thực
tiễn sản xuất sau này để sử dụng và khai thác hợp lí tài nguyên thiên nhiên, đảm
bảo sự phát triển biền vững.
Khóa luận nghiên cứu các kỹ năng này nhằm giáo dục cho học sinh một số
kỹ năng cần thiết để giúp cho các em học sinh THPT có thể vận dụng vào thực
tiễn ở địa phương, khai thác có hiệu quả hơn tài nguyên thiên nhiên.
14
1.1.2. Giáo dục kỹ năng sống
Khái niệm giáo dục cũng được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau ở cấp
độ xã hội và cấp độ nhà trường [10]. Ở cấp độ nhà trường, khái niệm giáo dục
chỉ quá trình giáo dục tổng thể (dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp) được thực
hiện thông qua các hoạt động giáo dục. Hoạt động giáo dục là các hoạt động do
các cơ sở giáo dục (trường học và các cơ sở khác) tổ chức thực hiện theo kế
hoạch, chương trình giáo dục, trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm về chúng.
sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, kỹ năng phòng tránh thiên tai, kỹ năng
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường…
1.1.3.1. Kỹ năng kiểm soát cảm xúc
Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình
trong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản
thân và người khác như thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm
xúc một cách phù hợp. Kỹ năng xử lí cảm xúc còn có nhiều tên gọi khác như:
Xử lí cảm xúc, kiềm chế cảm xúc, làm chủ cảm xúc
Một người biết kiểm soát cảm xúc thì sẽ góp phần giảm căng thẳng, giúp
giao tiếp và thương lượng hiệu quả hơn, giải quyết mâu thuẫn một cách hài hòa
và mang tính xây dựng hơn, giúp ra quyết định và giải quyết vấn đề tốt hơn.
Kỹ năng xử lí cảm xúc cần sự kết hợp với kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng
ứng xử với người khác và kỹ năng ứng phó với căng thẳng, đồng thời góp phần
củng cố các kỹ năng này.
1.1.3.2. Kỹ năng tự nhận thức
Tự nhận thức là tự nhìn nhận, tự đánh giá về bản thân.
Kỹ năng tự nhận thức là khả năng con người hiểu về chính bản thân mình,
như cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân; biết nhìn nhận, đánh
giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu, của
bản thân mình; quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra
lúc bản thân đang cảm thấy căng thẳng.
Tự nhận thức là một kỹ năng sống rất cơ bản của con người, là nền tảng để
con người giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như để có
thể cảm thông được với người khác. Ngoài ra, có hiểu đúng về mình, con người
mới có thể có những quyết định, những sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khả
năng của bản thân, với điều kiện thực tế và yêu cầu xã hội. Ngược lại, đánh giá
không đúng về bản thân có thể dẫn con người đến những hạn chế, sai lầm, thất
bại trong cuộc sống và trong giao tiếp với người khác.
Để tự nhận thức đúng về bản thân cần phải trải nghiệm qua thực tế, đặc biệt
là qua giao tiếp với người khác.
họ có thể đạt được những điều họ mong muốn một cách chính xác.
1.1.3.5. Kỹ năng bảo vệ thiên nhiên và môi trường, phòng tránh thiên tai
Hiện nay, tài nguyên thiên nhiên đang bị cạn kiệt, môi trường đang bị ô
nhiễm. Bởi thế việc rèn kỹ năng bảo vệ tài nguyên và môi trường có ý nghĩa
quan trọng. Rèn kỹ năng này là dạy cho học sinh hiểu về các loại tài nguyên
thiên nhiên, sự suy giảm, xuống cấp của tài nguyên thiên nhiên để học sinh có ý
thức hơn trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Thông qua đó học sinh biết
cách khai thác tài nguyên thiên nhiên tiết kiệm, hợp lý, biết phòng tránh thiên
tai, rủi ro do tai biến thiên nhiên. Có ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường.
Những hành động nhỏ của học sinh như không vứt rác bùa bãi, không phá hoại
17
tài sản công, biết giữ gìn bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đó là những mục tiêu mà
trong các bài dạy Địa lí đang hướng tới.
1.1.3.6. Kỹ năng giải quyết vấn đề
Kỹ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định, lựa
chọn phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn
đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống.
Để giải quyết vấn đề có hiệu quả, chúng ta cần:
- Xác định rõ vấn đề hoặc tình huống đang gặp phải, kể cả tìm kiếm thông
tin cần thiết.
- Liệt kê các cách giải quyết vấn đề, tình huống đã có.
- Hình dung đầy đủ về kết quả xảy ra nếu ta lựa chọn phương án giải
quyết nào đó.
- Xem xét về suy nghĩ và cảm xúc của bản thân nếu thực hiện phương án
giải quyết đó.
- So sánh các phương án để đưa ra quyết định cuối cùng.
- Hành động theo quyết định đã lựa chọn.
- Kiểm định lại kết quả để rút kinh nghiệm cho những lần ra quyết định và
giải quyết vấn đề sau.
cần cập nhật vào chương trình giáo dục phổ thông như giáo dục dân số, giáo dục
môi trường …tuy nhiên giáo dục KNS, phương thức này cũng không nhiều hiệu
quả. Những khó khăn khi thực hiện theo phương thức này là:
- Khó khăn trong việc xác định các môn học để lồng ghép. Những môn học
này phải đảm bảo những yếu tố tương đồng với đặc trưng của giáo dục KNS
(chú trọng thực hành và kinh nghiệm sống của HS; thiết lập hành vi cụ thể …).
- Khó khăn trong việc đảm bảo nội dung giáo dục KNS đã được lồng ghép.
Bởi vì do tính chất lồng ghép, nội dung giáo dục KNS có tính độc lập nhất định
so với nội dung của môn học được sử dụng để lồng ghép, việc khai thác nội
dung giáo dục KNS đến đâu phụ thuộc vào từng giáo viên, thậm chí từng tiết
học của môn học được lồng ghép.
Với những phân tích trên, tác giả cho rằng, cần xác định giáo dục KNS là
mục đích của giáo dục, theo đó, tất cả các môn học, các hoạt động giáo dục
trong nhà trường phải hướng đến giáo dục KNS cho HS. Có như vậy, giáo dục
KNS cho HS mới được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục về cả thời
gian và không gian nhờ đó mà các mục tiêu về giáo dục KNS cho HS mới đạt
được ở mức độ cao. Đây cũng là lí do, tác giả lựa chọn phương thức tích hợp là
phương thức giáo dục KNS cho HS trong trường THPT.
Như vây, theo phạm vi giới hạn của khóa luận, vấn đề giáo dục KNS cho
HS lớp 11 trên địa bàn tỉnh Lào Cai qua môn Địa lí chính là việc thực hiện giáo
dục KNS cho HS theo phương thức tích hợp.