ĐẶT VẤN ĐỀ
Lý do lựa chọn đề tài:
Ung thư là một bệnh nguy hiểm, có tỷ lệ tử vong cao. Theo
thông báo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2008 thế giới có
khoảng 12,7 triệu ca mắc mới với 7,6 triệu người chết do ung thư.
Hiện nay, trên thế giới đang có xu hướng tìm kiếm các phương pháp
chẩn đoán, tiên lượng và điều trị ung thư hiệu quả, trong đó hướng
nghiên cứu tạo mạch trong khối u tỏ ra có nhiều triển vọng.
Các nghiên cứu gần đây cho thấy trong khối u có hệ mạch
rất phong phú, quá trình tạo mạch diễn ra liên tục, tân tạo mạch có
vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dạng, tiến triển và di căn
ung thư. Bicknell R. và Giampietro Gasparini (1997) đã tổng kết 18
công trình nghiên cứu định lượng mạch u đối chiếu lâm sàng tiến
hành trên 2700 bệnh nhân ung thư đặc ở vú, buồng trứng, đầu cổ,
melanoma cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa hoạt tính tạo mạch
u tiên phát với phát triển u tại chỗ và di căn xa.
Liệu pháp quang động (Photodynamic Therapy - PDT) là
phương pháp mới trong trị liệu ung thư. Được Dougherty T.J. và
cộng sự ứng dụng điều trị ung thư lâm sàng tại Hoa Kỳ lần đầu tiên
năm 1978, đến nay trị liệu này đã trải qua nhiều giai đoạn thử
nghiệm lâm sàng và bắt đầu ứng dụng trong điều trị nhiều loại ung
thư trên người với kết quả khả quan. Tiến hành điều trị quang động
trải qua hai giai đoạn chính: trước tiên đưa một lượng thuốc nhạy
quang vào cơ thể, sau một thời gian nhất định thuốc sẽ tập trung vào
khối u nhiều hơn mô lành, làm cho tế bào trong u nhạy cảm với ánh
sáng, sau đó chiếu ánh sáng đơn sắc có bước sóng thích hợp lên vùng
u để phá hủy mô ung thư một cách chọn lọc mà không làm tổn hại
đến mô lành xung quanh. Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu hệ mạch
1
máu tân tạo trong khối u, đặc biệt là tác dụng ức chế tạo mạch tại u
của liệu pháp quang động chưa được nghiên cứu nhiều và hệ thống.
tiếng Anh).
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Quá trình tạo mạch bình thường và sự hình thành mạch
máu tân tạo trong khối u
1.1.1. Quá trình tạo mạch bình thường
Hệ thống mạch máu trong thời kỳ bào thai được hình thành từ
mạng lưới mạch máu có nguồn gốc từ tiền tế bào nội mô gọi là
angioblasts. Quá trình tạo mạch ở người trưởng thành (angiogenesis),
trước đây cho rằng được hình thành bằng cách phân nhánh của các
mạch máu liền kề, tuy nhiên các công trình nghiên cứu gần đây đã
chứng minh quá trình tân tạo mạch cũng có thể xảy ra do sự biệt hóa của
các tế bào nội mô tiền sinh từ tủy xương. Quá trình tạo mạch đóng vai
trò quan trọng trong nhiều quá trình sinh lý và bệnh lý, đặc biệt là sự
phát triển của tế bào ung thư, đồng thời còn góp phần vào việc cung
cấp thông tin cho tuần hoàn liền kề. Chính vì vậy, gần đây nhiều tác
giả đang tích cực nghiên cứu nhằm tìm hiểu rõ cơ chế kiểm soát việc
hình thành các mạch máu tân tạo. Có hai giả thiết chính về cơ chế tạo
mạch là các chất kích thích tạo mạch (gia tăng trong lòng mạch khi
cần thiết) và các chất ức chế tạo mạch.
Với cơ chế tạo mạch bằng việc huy động từ các tế bào nội mô
tiền sinh từ tủy xương, các tế bào nội mô tiền sinh (EPCs) được di
chuyển đến khu vực tổn thương hoặc khối u tăng sinh. Cơ chế của quá
3
trình di chuyển chưa được xác định đầy đủ. Tại khu vực này, các EPCs
biệt hóa và trưởng thành tạo nên một mạng mao mạch mới bằng cách
liên kết với nhau và liên kết với mạch máu liền kề. Trường hợp tân tạo
mạch từ mạch máu liền kề, các tế bào nội mô tăng sinh và phát triển và
tạo ra các nhú mạch. Với cả 2 cơ chế, lớp vỏ ngoài của mạch máu
được hình thành bằng cách huy động từ các tế bào cơ trơn liền kề.
hầu hết chúng đều có nhiều khe hở. Kết quả là có rất nhiều protein,
hồng cầu thoát mạch vào tổ chức, và ngược lại các tế bào u di chuyển
vào trong lòng mạch, chúng là cơ sở cho việc hình thành di căn.
1.2. Các liệu pháp ức chế tạo mạch trong khối u
Các tế bào ung thư có tốc độ phân chia nhanh chóng, vì vậy
các thuốc điều trị ung thư chủ yếu hoạt động theo cơ chế gây độc tế
bào kháng lại tăng trưởng của các tế bào u. Tuy nhiên, hóa trị liệu
ung thư cũng tiêu diệt các tế bào bình thường, do đó gây ra các tác
dụng phụ nặng nề như suy tủy. Hơn nữa, các tế bào u thường có gen
không ổn định, dễ đột biến, mặt khác hiệu quả điều trị của thuốc còn
phụ thuộc vào loại u và giai đoạn phát triển của u. Chính vì vậy,
ngày nay rất khó nghiên cứu tìm kiếm các thuốc gây độc tế bào điều
trị ung thư. Sau khi Folkman J. (1970) phát hiện vai trò quan trọng
của tân tạo mạch trong quá trình phát triển khối u, nhiều nghiên cứu
đã tập trung làm sáng tỏ mối quan hệ chặt chẽ giữa tân tạo mạch với
phát triển u và di căn xa. Khi xác định được mối liên hệ chặt chẽ
giữa tân tạo mạch với sự phát triển khối u, đặc biệt sau khi cơ chế tạo
mạch được làm sáng tỏ, rất nhiều chất ức chế tạo mạch được dùng
trong trị liệu ung thư được nghiên cứu và phát triển. Hiện nay có 2
liệu pháp trị liệu ức chế tạo mạch thường sử dụng trong lâm sàng:
nhóm trị liệu điều trị ức chế tân tạo mạch và nhóm trị liệu ức chế hệ
mạch trong khối u. Phương thức ức chế tạo mạch hiệu quả là ngăn
chặn đường dẫn truyền tín hiệu kích thích tạo mạch (như là cạnh
5
tranh thụ cảm thể của yếu tố kích thích tạo mạch). Một số hướng
nghiên cứu lại tập trung vào công nghệ kháng thể hoặc công nghệ tế
bào đích. Các hướng nghiên cứu này tỏ ra có nhiều triển vọng trong
điều trị ung thư, thực tế đã có một số thuốc ức chế tạo mạch đưa vào
thực tế điều trị lâm sàng. Với các trị liệu ức chế tạo mạch truyền
thống vẫn còn nhiều nghi vấn như: Liệu pháp này có thực sự hiệu
hơn mô lành liền kề, kết hợp tổn thương thành mạch và tắc mạch do
huyết khối gây thiếu máu dẫn đến hoại tử u sau điều trị. Quá trình
phá huỷ mạch máu khối u do PDT là nguyên nhân quan trọng thứ hai
làm khối u bị phá huỷ. Henderson BW (1985) cắt khối u động vật
ngay sau PDT để nuôi cấy và thử nghiệm clon hoá trong ống nghiệm,
đã thấy nhiều tế bào u phát triển và clon hoá nhanh. Ngược lại, sau
PDT vẫn để nguyên các khối u tại chỗ thì chúng sẽ bị phá huỷ hoàn
toàn. Như vậy, sự khác biệt giữa hai kết quả trên là do PDT đã phá huỷ
mạch máu gây thiếu máu, thiếu oxy và chất dinh dưỡng dẫn đến hàng
loạt tế bào ung thư bị hoại tử.
Radachlorin, được Công ty TNHH “RADA-PHARMA”,
Cộng hòa Liên bang Nga đăng ký và sản xuất là một trong những
chất nhạy quang thế hệ thứ hai, thuộc nhóm chlorin-e
6
tan trong
nước, có đặc tính thời gian hấp thu và thải trừ ngắn, hấp thụ ánh sáng
ở bước sóng dài 662nm nên làm tăng độ xuyên sâu của PDT. Thuốc
hiện được sử dụng nhiều trong lâm sàng PDT hiện nay.
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên 250 chuột nhắt trắng thuần
chủng dòng BALB/c, 6 đến 8 tuần tuổi, trọng lượng từ 20 đến 25
gram. Động vật được chia thành nhóm chứng, các nhóm gây u đơn
thuần và các nhóm được PDT sau gây u 7 và 14 ngày.
7
2.2. Thiết bị và hóa chất nghiên cứu
2.2.1. Thiết bị nghiên cứu PDT
- Thiết bị laser Diode ML 662
- Thuốc nhạy quang Radachlorin (biệt dược của Chlorin e
2.3.3.3. Phương pháp và kỹ thuật nhuộm hóa mô miễn dịch
- Sử dụng kỹ thuật nhuộm miễn dịch men gián tiếp phức hợp
Avidin-Biotin-pero-peroxidase (ABC) với kháng thể thứ nhất là kháng
8
thể đơn dòng đặc hiệu với tế bào nội mô CD31 và CD34 (Hãng BP
Pharmigen, Hoa Kỳ).
- Phương pháp định lượng mạch máu tân tạo tại khối u: áp
dụng phương pháp của Weidner và cộng sự. Theo đó, các tiêu bản
đầu tiên được soi ở độ phóng đại thấp (x40) để xác định các điểm
nóng tạo mạch (hot spot), sau đưa lên độ phóng đại cao hơn (x400)
để đếm mạch. Định lượng mật độ mao mạch trung bình (MVD: meal
microvessel profile density) trên tiêu bản trong khối u và vùng cơ
lành cạnh u trên 1 đơn vi 0,74 mm
2
bằng cách đếm số lượng mạch
máu tại ba điểm nóng tạo mạch và lấy giá trị trung bình.
2.3.4. Quy trình nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu theo các bước quy chuẩn.
2.3.4.1. Nghiên cứu định lượng tạo mạch tại u đùi chuột.
- Định lượng mạch máu tân tạo tại khối u trong các nhóm
trên tiêu bản u đùi nhuộm hóa mô miễn dịch, sử dụng kháng thể
CD31 và CD34.
2.3.4.2. Xác định mối liên quan giữa định lượng tạo mạch với sự
phát triển khối u
- Đánh giá sự phát triển khối u đại thể: trọng lượng, thể tích
u, các nốt di căn. Đánh giá sự phát triển khối u trên vi thể: mật độ tế
bào u.
- Nghiên cứu đánh giá mối liên quan giữa định lượng tạo
mạch với trọng lượng, thể tích khối u và với mật độ tế bào trong u.
- Nghiên cứu đánh giá mối liên quan giữa định lượng tạo
Kháng thể
CD 34 (b)
1
7 ngày
sau gây u
17,9 ± 6,2 16,8 ± 7,7
p
1-2
<0,001 p
2-3
<0,01
2
14 ngày
sau gây u
34,5 ± 13,2 30,7 ± 14,2
p
1-3
<0,001 p
2-4
<0,01
3
21 ngày
sau gây u
58,2 ± 31,1 53,9 ± 32,5
p
1-4
<0,001 p
3-4
<0,05
4
r
2-3
Ngày 7 sau
gây u
17,9 ± 6,2 16,8 ± 7,7 288±98
0,45 0,48
Ngày 14 sau
gây u
34,5 ± 13,2 30,7 ± 14,2 682±139
0,51 0,53
Ngày 21 sau
gây u
58,2 ± 31,1 53,9 ± 32,5 1678±412
0,37 0,39
Ngày 28 sau
gây u
49,6 ± 27,6 46,4 ± 28,5 2361±689
0,28 0,25
Qua bảng 3.2 cho thấy mối tương quan thuận, chặt chẽ giữa
mật độ mạch máu trên một đơn vị diện tích tại khối u trên tiêu bản
nhuộm hóa mô miễn dịch với thể tích khối u đùi ở các giai đoạn sau
gây u ngày thứ 7, 14, 21 (r>0,33). Tuy nhiên không nhận thấy mối
tương quan giữa hai đại lượng này ở ngày thứ 28 (r<0,33).
3.2.2. Mối liên quan giữa mật độ mạch máu tân tạo với mật độ tế
bào u
Bảng 3.3. Mối liên quan giữa tạo mạch với mật độ tế bào u
Nhóm NC MDV với MDV với Mật độ tế bào Hệ số TQ
11
(n = 20) CD31 (1) CD34 (2) u (3) r
1-3
Tương quan
MDV với SL
nốt di căn gan
Tương quan
MDV với SL
nốt di căn lách
Ngày 7
sau gây u
CD31 0,18 0,25 0,19
CD34 0,23 0,31 0,23
Ngày 14
sau gây u
CD31 0,41 0,56 0,51
CD34 0,46 0,51 0,53
Ngày 21
sau gây u
CD31 0,62 0,51 0,52
CD34 0,59 0,57 0,49
Ngày 28
sau gây u
CD31 0,51 0,62 0,58
CD34 0,50 0,63 0,61
12
Kết quả bảng trên cho thấy có mối tương quan giữa định
lượng tạo mạch với số lượng nốt di căn gan, phổi và lách vào các
ngày 14, 21 và 28 sau gây u. Đây là tương quan thuận và mức độ
tương quan chặt chẽ giữa mật độ mạch máu trên một đơn vị diện tích
với số lượng nốt di căn gan, phổi, lách (r>0,33). Tuy nhiên, không
thấy tương quan ở ngày 7 sau gây u (r
1-3
PDT 14 ngày sau gây u
32,5 ± 16,4 30,3 ± 15,4
Ngày 28
sau gây u
Gây u không điều trị
49,6 ± 27,6 46,4 ± 28,5
PDT 7 ngày sau gây u
23,6 ± 11,3 21,9 ± 10,6
PDT 14 ngày sau gây u
47,9 ± 23,7 46,2 ± 28,8
Kết quả nghiên cứu cho thấy u đùi các nhóm được PDT đều
bị giảm mạnh số lượng mạch máu. Đặc biệt nhóm chuột PDT sau
gây u 7 ngày đạt hiệu quả ức chế tạo mạch trong u mạnh và ổn định
13
trong các giai đoạn sau gây u 14 ngày (22,1 ± 6,8 trên CD31 và
23,6± 8,4 trên CD34), sau gây u 21 ngày (24,9 ± 8,2 trên CD31 và
23,7 ± 9,3 trên CD34) và sau gây u 28 ngày (23,6 ± 11,3 trên CD31
và 21,9 ± 10,6 trên CD34). Tuy nhiên kết quả định lượng tân tạo
mạch với nhóm PDT 14 ngày cho thấy kết quả ức chế tạo mạch
không ổn định, giai đoạn 21 ngày sau gây u, mật độ mạch máu tân
tạo có giảm so với nhóm chứng không điều trị (32,5 ± 16,4 trên
CD31 và 30,3 ± 15,4 trên CD34), nhưng lại có xu hướng tăng lên
giai đoạn muộn là 28 ngày sau gây u (47,9 ± 23,7 trên CD31 và 46,2
± 28,8 trên CD34).
3.5. Biến đổi siêu cấu trúc tế bào nội mô sau PDT
Sau PDT, chúng tôi tiến hành làm tiêu bản cho kính hiển vi
điện tử truyền qua vào các giai đoạn 24 giờ và 48 giờ sau PDT để tìm
hiểu những biến đổi siêu cấu trúc các tế bào nội mô và mạch máu tân
tạo tại khối u. Kết quả nghiên cứu cho thấy, vào giai đoạn 24 giờ sau
PDT, các tế bào nội mô bị tổn thương không hồi phục, biểu hiện
cứu u đùi trên chuột BALB/c.
4.2. Về mối liên quan giữa định lượng tạo mạch với phát triển u
4.2.1. Về mối liên quan giữa định lượng tạo mạch với thể tích u
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy thể tích u đùi
tăng nhanh theo thời gian. Ở ngày thứ 7 sau gây u, thể tích u đùi là
288 ± 98 (mm
3
) thì vào ngày thứ 14 đã tăng hơn gấp đôi 742 ± 149
(mm
3
). Đặc biệt cả trong giai đoạn muộn, thể tích u đùi tăng nhanh,
ngày 21 sau gây u kích thước u đùi là 1628±412 (mm
3
), còn đến
ngày 28 là 2661 ± 689 (mm
3
). Sự khác biệt về thể tích khối u đùi
giữa các thời điểm là có ý nghĩa thống kê với (p<0,001 và p<0,01).
15
Kết quả này thể hiện sự phát triển nhanh chóng của khối u ác tính.
Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của Quản Hoàng
Lâm (2000), Nguyễn Đình Tảo (1994).
Khi tìm mối liên quan giữa thể tích khối u và định lượng tạo
mạch với cùng các cặp số liệu quan sát, chúng tôi thấy có mối liên
quan giữa hai đại lượng này. Chúng tôi cũng nhận thấy có mối tương
quan thuận, rất chặt chẽ giữa mật độ mạch máu trên một đơn vị diện
tích với với thể tích khối u đùi ở các giai đoạn sau gây u ngày thứ 7,
14, 21 (r>0,33), Điều này rất có ý nghĩa trong nghiên cứu và thực tế
lâm sàng vì có thể lập được phương trình hồi quy giữa hai đại lượng
này ở các giai đoạn khác nhau. Tuy nhiên không nhận thấy mối
mạch nuôi dưỡng nó. Mật độ tạo mạch trong u khác nhau tuỳ loại u,
vùng u và giai đoạn phát triển của nó. Sự tạo mạch đưa chất dinh
dưỡng và oxy đến cung cấp cho u, mặt khác các tế bào nội mô mới
sinh này sẽ kích thích u phát triển do tiết ra các yếu tố tăng trưởng.
4.2.3. Về mối liên quan giữa định lượng tạo mạch với số lượng nốt
di căn tại một số cơ quan ở chuột
Nghiên cứu tìm mối liên hệ giữa định lượng tạo mạch với di
căn các cơ quan đã được nhiều tác giả nghiên cứu. Ngay từ năm
1971, Folkman J. đã tìm thấy mối liên quan giữa định lượng tạo
mạch với di căn ở động vật. Kể từ đó, nhiều nghiên cứu trên các khối
u như ung thư buồng trứng, u vú, ung thư tiền liệt tuyến cho thấy mối
liên quan chặt chẽ này. Theo Michell N. và CS (2000) , trong các con
đường di căn thì di căn theo đường máu có vị trí hết sức quan trọng.
Các tế bào ung thư đi vào máu theo đường ống ngực hoặc bằng cách
17
xâm lấn vào mạch máu. Các tạng co bóp liên tục như dạ dày và phổi
có xu hướng đẩy các tế bào u vào trong các mao mạch.
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm chứng minh mối liên quan
giữa định lượng tạo mạch tại khối u tiên phát với việc xuất hiện và
hình thành di căn. Quá trình hình thành di căn xuất hiện khi các tế
bào u đi qua lớp nội mô vào thành mạch, sống sót trong lòng mạch,
ra khỏi lòng mạch ở các mô cơ quan đích và tiến triển thành di căn ở
các cơ quan này. Nhóm nghiên cứu của Folkman J. (2002) đã chứng
minh cơ chế của việc cắt bỏ u tiên phát có thể làm kích thích tăng di
căn xa. Theo các tác giả này, khi chuyển ghép Lewis Lung Carcinoma
cơ thể chuột có thể sản xuất 1 chất ức chế tạo mạch tự nhiên là
angiostatin. Chất này tồn tại lâu trong máu và tác động như một
hormon hệ thống ức chế tăng gánh tế bào nội mô. Khi cắt bỏ khối u
nguyên phát làm giảm angiostatin và kích thích di căn tăng nhanh.
Trong một nghiên cứu khác, các tác giả này còn nhận thấy, vi di căn
trong tiến trình PDT là đưa thuốc nhạy quang vào tế bào u để trực
tiếp phá huỷ chúng khi chiếu sáng và tổn thương tế bào nội mô gây
tắc mạch sau điều trị.
Các kết quả nghiên cứu gần đây còn cho thấy cơ chế tác
dụng của PDT không chỉ làm tổn thương hệ mạch, mà còn tác động
19
đến các đường dẫn truyền tín hiệu của các yếu tố kích thích tạo mạch
như VEGF, MMP và các cytokinese khác, do đó nó có tác dụng làm
cân bằng tạo mạch nghiêng về phía ức chế tạo mạch. Ferrario A.
(2000) PDT sử dụng thuốc nhạy quang Photofrin có tác dụng làm
giảm yếu tố gây thiếu oxy tổ chức -1alpha (HIF-1alpha), do đó làm
tăng nồng độ gen HIF-1 trong bào tương trong khi đây là yếu tố tác
động đến VEGF, vì vậy gián tiếp làm giảm mạch trong khối u
carcinoma trên chuột. Ferrario A. và cộng sự (2004) cũng nhận thấy
PDT sử dụng thuốc nhạy quang Photofrin và Hypercin có tác dụng
ức chế MMP vì vậy sẽ ngăn chặn tế bào u hoặc tế bào nội mô di cư
và xâm lấn, kết quả là ức chế quá trình tạo mạch trong u.
Kết quả quan sát dưới kính hiển vi điện tử truyền qua với độ
phóng đại 1.500 – 6000 lần của chúng tôi cho thấy đa phần các tế
bào nội mô sau PDT 24 đến 48 giờ đã bị tổn thương không hồi phục
kiểu chết theo chương trình (apoptosis) với biểu hiện nhân tế bào teo
nhỏ, chất nhiễm sắc tụ đặc sát màng nhân, bào tương có nhiều không
bào. Đồng thời vùng dưới nội bào (subendothelial) có nhiều protein
bị đông vón dạng hạt. Theo Stranadko E.F. (1997) và Radakovic F.S.
thì nghiên cứu siêu cấu trúc các tế bào trong ung thư sau PDT nhằm
xác định được các tổn thương ở mức siêu vi của những hệ thống nội
bào đặc biệt mẫn cảm với điều trị là màng tế bào, bộ máy hô hấp tế
bào trong ty thể, hệ thống sinh tổng hợp protein, màng nhân tế bào
và bộ gen nhân tế bào. Mặt khác, cơ chế chết của các tế bào trong
khối u theo kiểu hoại tử (necrosis) hay chết theo chương trình
53,9 ± 32,5 trên CD34) và giảm xuống ngày thứ 28 sau gây u (49,6 ±
27,6 trên CD31 và 46,4 ± 28,5 trên CD34). Sự khác biệt giữa các
thời điểm có ý nghĩa thống kê (p<0,01 và p<0,001).
21
2. Khối ung thư sarcom 180 trên đùi chuột phát triển liên tục,
xâm lấn vào vùng mô lành liền kề và di căn vào gan, lách, phổi từ
ngày thứ 7 đến ngày 28 sau gây u. Mật độ mạch máu tân tạo tại khối u
tương quan thuận, chặt chẽ với thể tích, trọng lượng khối u đùi ở các
thời điểm sau gây u 7, 14, 21 ngày (r: 0,37- 0,53), nhưng không thấy
tương quan ở ngày thứ 28 (r: 0,22 - 0,28); tương quan thuận, chặt chẽ
với mật độ tế bào ung thư ở tất cả các thời điểm (r: 0,39 - 0,53), với số
lượng các nốt di căn phổi, gan, lách ở ngày thứ 14, 21, 28 sau gây u
(r: 0,46 - 0,63).
3. Liệu pháp quang động (PDT) sử dụng thuốc nhạy quang
Radachlorin và nguồn sáng laser diode 662 nm có tác dụng ức chế
tân tạo mạch tại u. Thực hiện PDT ở giai đoạn sớm của khối u (sau
gây u 7 ngày) có tác dụng ức chế tạo mạch trong u mạnh và ổn định,
từ thời điểm sau gây u 14 ngày (22,1 ± 6,8 trên CD31 và 23,6± 8,4
trên CD34), cho đến sau gây u 28 ngày (23,6 ± 11,3 trên CD31 và
21,9 ± 10,6 trên CD34). Thực hiện PDT ở giai đoạn muộn (sau gây u
14 ngày) ức chế tạo mạch không nhiều và không ổn định. Thời điểm
21 ngày sau gây u, mật độ mạch máu tân tạo có giảm so với nhóm
chứng không điều trị (32,5 ± 16,4 trên CD31 và 30,3 ± 15,4 trên
CD34), nhưng lại có xu hướng tăng lên vào thời điểm 28 ngày sau
gây u (47,9 ± 23,7 trên CD31 và 46,2 ± 28,8 trên CD34). Nghiên cứu
siêu cấu trúc sau PDT cho thấy tác dụng ức chế tạo mạch bằng cách
làm các tế bào nội mô trong u chết theo chương trình (apoptosis).
22