Tiểu luận: Thực trạng và xu hướng phát triển thị trường ngoại hối Việt Nam - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
  
BÀI TIỂU LUẬN NHÓM
Đề tài:
Thực trạng và xu hướng phát triển thị
trường ngoại hối Việt Nam
Các thành viên tham gia

1. Nguyễn Thị Hiền : CH210400
2. Nguyễn Thị Minh Hiếu : CH210405
3. Nguyễn Thu Hương : CH210425
4. Nguyễn Thành Luân : CH210449
5. Phạm Thị Ngoan : CH210463
6. Nguyễn Xuân Tuấn : CH210534
7. Nguyễn Thị Vân : CH210542
Hà Nội – 01/2013

Thực trạng và xu hướng phát triển thị trường ngoại hối Việt Nam

Phục vụ thương mại quốc tế 3

1.2.2

Phục vụ luân chuyển vốn quốc tế 3

1.2.3

Là nơi hình thành tỷ giá 3

1.2.4

Là nơi ngân hàng trung ương can thiệp lên tỷ giá 3

1.2.5

Là nơi kinh doanh và phòng ngừa rủi ro tỷ giá 4

1.3

Các thành viên tham gia thị trường ngoại hối 4

1.3.1

Nhóm khách hàng mua bán lẻ (Retail Clients) 4

1.3.2

Các ngân hàng Thương mại (Commercial Bank) 5


Căn cứ vào quy mô thị trường: 7

1.4.6

Căn cứ vào phương thức giao dịch: 7

CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT NAM 8

2.1

Những dấu mốc đáng chú ý 8

2.2

Các nghiệp vụ trên thị trường ngoại hối Việt Nam 8

2.2.1

Nghiệp vụ giao ngay (The sport operations) 8

2.2.2

Nghiệp vụ kỳ hạn (The forward operations) 9

2.2.3

Nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (The swap operations) 9

2.2.4

CHƯƠNG III. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN 28

THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI TẠI VIỆT NAM 28
3.1

Thị trường ngoại tệ 28

3.1.1

Bối cảnh thế giới 28

3.1.2

Xu hướng phát triển thị trường ngoại tệ Việt Nam thời gian tới 28

3.2

Thị trường vàng 29

3.2.1

Bối cảnh thế giới 29

3.2.2 Xu hướng phát triển thị trường vàng tại Việt Nam thời gian tới 30
Thực trạng và xu hướng phát triển thị trường ngoại hối Việt NamNhóm 6 – Cao học K21E
nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác;
c) Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu
công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác;
d) Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người
cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra
khỏi lãnh thổ Việt Nam;
đ) Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp
chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh
toán quốc tế.
Ngoại hối là hàng hóa mua bán trên thị trường ngoại hối, nhưng trên thực tế,
người ta chỉ giao dịch mua bán ngoại tệ, còn các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ
không được giao dịch trực tiếp trên thị trường ngoại hối. Muốn trở thành ngoại tệ để
giao dịch trên thị trường ngoại hối thì trước hết phải bán (chiết khấu) các giấy tờ có
giá để có ngoại tệ, sau đó mới tiến hành mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối.
Như vậy, đối tượng mua bán trên thị trường ngoại hối chỉ gồm:
+ Mua bán ngoại tệ.
+ Mua bán vàng tiêu chuẩn quốc tế.
Ngày nay, do vai trò tiền tệ của vàng giảm đáng kể, chính vì vậy khi nói đến thị
trường ngoại hối người ta thường hiểu đó là thị trường mua bán các đồng tiền khác
nhau, hay mua bán ngoại tệ, nghĩa là thị trường ngoại hối thường được hiểu theo
Thực trạng và xu hướng phát triển thị trường ngoại hối Việt NamNhóm 6 – Cao học K21E Trang 2nghĩa thực tế là thị trường mua bán ngoại tệ. Dưới đây trong chương I, tổng quan về
thị trường ngoại hối, nhóm cũng sử dụng khái niệm “ngoại hối” và “thị trường ngoại
hối” theo nghĩa thực tế nêu trên.


Nghĩa thực
tế
Giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ
Vàng tiêu chuẩn quốc tế
Nội tệ do người không cư trú
nắm
Ngoại tệ
Thực trạng và xu hướng phát triển thị trường ngoại hối Việt NamNhóm 6 – Cao học K21E Trang 35. Thị trường có tính toàn cầu, thông tin cân xứng, khối lượng giao dịch lớn,
hàng hóa (ngoại tệ) đồng chất dẫn đến chi phí giao dịch cực thấp và hoạt động của
thị trường trở nên hiệu quả.
6. Đồng tiền được sử dụng nhiều nhất trong giao dịch là USD, chiếm 41.5%
tổng số tiền tham gia. (điều này cũng có nghĩa là có tới 83% các giao dịch trên thị
trường ngoại hối là có mặt của USD).
7. Đây là thị trường rất nhạy cảm với các sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội, tâm
lý nhất là các chính sách tiền tệ của các nước phát triển
8. Thị trường ngoại hối toàn cầu có tốc độ phát triển rất nhanh trong các thập
niên qua, đặc biệt là từ cuối những năm 80.
1.2 Chức năng của thị trường ngoại hối
1.2.1 Phục vụ thương mại quốc tế
Đây là chức năng cơ bản của thị trường ngoại hối, là kết quả phát triển tự nhiên
của một trong các chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại, đó là nhằm cung
cấp dịch vụ cho các khách hàng thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế.
Nếu không có thị trường ngoại hối, các nhà xuất nhập khẩu không thể giao dịch
hàng hóa với nhau do không có loại tiền cần thiết cũng như cơ chế trao đổi giữa các

Chức năng của thị trường ngoại hối được tóm tắt theo sơ đồ sau: Sơ đồ 2: Chức năng thị trường ngoại hối

1.3 Các thành viên tham gia thị trường ngoại hối
1.3.1 Nhóm khách hàng mua bán lẻ (Retail Clients)
Nhóm khách hàng mua bán lẻ (retail clients hay bank customers) bao gồm các
công ty nội địa và đa quốc gia, những nhà đầu tư quốc tế và tất cả những ai có nhu
cầu mua bán ngoại hối nhằm 2 mục đích:
Thứ nhất, chuyển đổi ngoại tệ.
Thứ hai, phòng ngừa rủi ro tỷ giá.
Chức năng của Forex
1. Phục vụ thương mại quốc tế
5. Nơi kinh doanh, phòng ngừa rủi ro tỷ giá
4. Nơi NHTW can thiệp lên tỷ giá
3. Nơi hình thành tỷ giá
2. Phục vụ luân chuyển vốn quốc tế

Lợi nhuận
Thông qua thu phí của khách
hàng
Kiếm lợi nhuận khi tỷ giá thay
đổi

Trên Interbank, các ngân hàng giao dịch với nhau theo hai phương thức:
- Giao dịch trực tiếp giữa ngân hàng với nhau (Direct Bank)
- Giao dịch gián tiếp với nhau qua môi giới (Indirect Bank)
1.3.3 Những nhà môi giới ngoại hối (foreign exchange brokers)
Ngày nay, ngoài hình thức mua bán ngoại hối trực tiếp giữa các ngân hàng với
nhau, hình thức giao dịch gián tiếp thông qua nhà môi giới ngoại hối cũng phát
triển.
Ưu điểm, nhà môi giới thu thập hầu hết các lệnh đặt mua và lệnh đặt bán ngoại
tệ từ các ngân hàng khác nhau, trên cơ sở đó cung cấp tỷ giá chào mua và tỷ giá
chào bán cho khách hàng một cách nhanh, rộng khắp với giá tay trong (inside rate).
Nhược điểm, các ngân hàng phải trả giá cao cho những nhà môi giới một khoản
phí (brokerage fee), làm cho chênh lệch tỷ giá mua bán hẹp lại.
Thực trạng và xu hướng phát triển thị trường ngoại hối Việt NamNhóm 6 – Cao học K21E Trang 6Một người muốn hành nghề môi giới ngoại hối phải có giấy phép. Các nhà môi
giới này chỉ cần cung cấp dịch vụ môi giới chứ không được mua bán cho chính
mình.
1.3.4 Các Ngân hàng Trung ương (Central Bank)
Ngân hàng trung ương tham gia thị trường ngoại hối nhằm 3 mục đích:
Thứ nhất, can thiệp lên tỷ giá. Các ngân hàng trung ương không thờ ơ trước sự
1. Thị trường chính thức (thị trường hợp pháp)
2. Thị trường phi chính thức (chợ đen, thị trường ngầm)
1.4.5 Căn cứ vào quy mô thị trường:
1. Thị trường ngoại hối quốc tế
2. Thị trường ngoại hối nội địa
1.4.6 Căn cứ vào phương thức giao dịch:
1. Thị trường giao dịch trực tiếp
2. Thị trường giao dịch qua môi giới.
Thực trạng và xu hướng phát triển thị trường ngoại hối Việt NamNhóm 6 – Cao học K21E Trang 8CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT NAM
2.1 Những dấu mốc đáng chú ý
Tại Việt Nam, khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, các giao dịch kinh
tế với nước ngoài mở rộng sang khắp các châu lục trên thế giới, nhu cầu thanh toán
bằng ngoại tệ ngày càng lớn. Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu có nhiều triển vọng.
Trước tình hình này, đòi hỏi phải có một thị trường ngoại hối ra đời để kịp đáp ứng
nhu cầu ngoại tệ cho nền kinh tế phát triển kịp thời với các nước khác trên thế giới.
Việc hình thành thị trường ngoại hối tại Việt Nam được tiến hành từng bước:
Năm 1991, Trung tâm Giao dịch ngoại tệ được thành lập và hoạt động với mục
tiêu: Thiết lập thị trường ngoại hối chính thức cho giao dịch giữa ngân hàng và các
đơn vị kinh tế; Đánh giá và đo lường cung cầu ngoại tệ trên thị trường; Quyết định
tỉ giá chính thức hợp lý giữa USD và VND; Chuẩn bị những điều kiện ban đầu cho
việc hình thành thị trường tài chính trong tương lai.
Năm 1994, Trung tâm Giao dịch ngoại tệ chấm dứt hoạt động thay vào đó là thị

trên thị trường khi cần mua bán ngoại tệ và tạo điều kiện cho các ngân hàng thu
được lợi nhuận thông qua chênh lệch tỷ giá.
+ Nhược điểm: Không đáp ứng được nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ của những
khách hàng nào cần mua hoặc bán ngoại tệ nhưng việc chuyển giao ngoại tệ chưa
thực hiện ngay ở hiện tại mà sẽ được thực hiện ở tương lai.
2.2.2 Nghiệp vụ kỳ hạn (The forward operations)
+ Khái niệm: Là giao dịch trong đó 2 bên cam kết sẽ mua bán với nhau một số
lượng ngoại tệ theo một mức giá xác định về việc thanh toán sẽ được thực hiện
trong tương lai.
+ Tỷ giá: Là tỷ giá áp dụng trong tương lai nhưng được xác định ở hiện tại. Tỷ
giá này áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ có kỳ hạn và được xác định trên
cơ sở tỷ giá giao ngay và chênh lệch lãi suất trên thị trường tiền tệ của 2 đồng tiền.
+ Ưu điểm:
- Là công cụ phòng chống rủi ro biến động tỷ giá hối đoái cho các đối tượng
tham gia trên thị trường ngoại hối.
- Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư khảo sát biến động tỷ giá thị
trường, nếu dự đoán tỷ giá tăng trong tương lai thì nên quyết định mua kỳ hạn hoặc
ngược lại, dự đoán ngoại tệ có xu hướng giảm thì tốt nhất nên bán nhằm hạn chế sự
thiệt hại về thu nhập khi tỷ giá biến động.
+ Nhược điểm:
- Hợp đồng kỳ hạn chỉ đáp ứng nhu cầu khi nào khách hàng cần mua bán ngoại
tệ trong tương lai còn ở hiện tại thì không có nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ.
- Giao dịch kỳ hạn cũng trở thành công cụ đầu cơ trên thị trường hối đoái để
kiếm lợi nhuận thông qua chênh lệch tỷ giá.
2.2.3 Nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (The swap operations)
+ Khái niệm: Là thỏa thuận giữa ngân hàng với một chủ thể về việc đồng thời
mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định, trong đó ngày giá trị mua vào và bán ra
là khác nhau. Hai bên thỏa thuận các nội dung sau: thời gian giao dịch, điều kiện
thực hiện, tỷ giá hoán đổi.
+ Tỷ giá: được xác định thông qua 2 tỷ giá: tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn.

không bắt buộc, được mua bán một công cụ tài chính khác ở một mức giá và thời
hạn được xác định.
+ Tỷ giá: Là tỷ giá được áp dụng nếu người mua quyền yêu cầu thực hiện quyền
chọn.
+ Ưu điểm: Kiểm soát rủi ro ngoại hối; tận dụng được cơ hội đầu cơ nếu tỷ giá
biến động thuận lợi.
+ Nhược điểm: Tốn chi phí mua quyền chọn cho dù có thực hiện hay không
thực hiện quyền chọn.

Thực trạng và xu hướng phát triển thị trường ngoại hối Việt NamNhóm 6 – Cao học K21E Trang 11
2.3 Thực trạng trị trường ngoại hối Việt Nam kể từ năm 2008 đến nay
Như đã trình bày trong phần tổng quan, ngoại hối bao gồm : ngoại tệ, các giấy
tờ có giá ghi bằng ngoại tệ, đồng tiền quốc gia do người không cư trú nắm giữ, và
vàng. Tuy nhiên, do trong thực tế, người ta chỉ giao dịch mua bán ngoại tệ, còn các
giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ không được giao dịch trực tiếp trên thị trường ngoại
hối.
Như vậy, đối tượng mua bán trên thị trường ngoại hối chỉ gồm:
+ Mua bán ngoại tệ.
+ Mua bán vàng tiêu chuẩn quốc tế.
Do vậy, trong chương II và chương III, khi trình bày về thực trạng và xu hướng
phát triển của thị trường ngoại hối Việt Nam trong thời gian tới, nhóm sẽ trình bày
theo 2 mảng:
+ Thực trạng và xu hướng phát triển của thị trường ngoại tệ
+ Thực trạng và xu hướng phát triển của thị trường vàng.

trường đáp ứng các nhu cầu thanh toán, mà tập trung trên tài khoản tiền gửi chờ tỷ
giá lên, còn doanh nghiệp chuyển sang vay VND để mua ngoại tệ trả nợ vay trước
hạn; đặc biệt, khi chương trình hỗ trợ lãi suất góp phần thu hẹp chênh lệch lãi suất
VND và lãi suất USD, người dân chuyển từ tiền gửi VND sang tiền gửi ngoại tệ. Số
dư tiền gửi ngoại tệ trong ngân hàng vào cuối tháng 4/2009 tăng 4,52% so với cuối
năm 2008, trong khi đó số dư tiền vay ngoại tệ giảm 1,6% tương ứng. Theo đánh
giá của Ngân hàng Nhà nước, đây là hiện tượng không bình thường bởi hằng năm,
lượng tiền gửi ngoại tệ lên xuống khá mạnh theo chu kỳ xuất, nhập khẩu.
Từ cuối năm 2008, Chính phủ đưa ra các gói giải pháp nhằm hạn chế tác động
tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế toàn cầu và duy trì tăng trưởng hợp
lý, ổn định kinh tế vĩ mô. Nhóm giải pháp hỗ trợ 4% lãi suất vay vốn ngân hàng bắt
đầu phát huy hiệu quả tích cực với nền kinh tế. Tuy nhiên, nó cũng có những hệ lụy
khó tránh.
Mặt bằng lãi suất cho vay tiền đồng sau khi được Chính phủ cấp bù 4% chỉ còn
5-6%, tương đương hoặc thấp hơn lãi suất vay ngoại tệ. Chớp cơ hội này, các doanh
nghiệp có nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đã vay vốn bằng tiền
đồng để mua ngoại tệ của các ngân hàng thương mại, thay vì vay vốn bằng ngoại tệ
để tránh rủi ro tỷ giá. Thậm chí nhiều doanh nghiệp đã vay vốn ngoại tệ từ trước,
nay tìm cách vay tiền đồng mua ngoại tệ để trả nợ trước hạn cho ngân hàng. 4 tháng
đầu năm 2009 tăng trưởng tín dụng nói chung của cả nền kinh tế là 11,6%, nhưng
tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ giảm 2,5%. Trong khi tiền gửi ngoại tệ tiếp tục
tăng, ngân hàng bị đẩy vào cảnh thừa ngoại tệ để cho vay nhưng thiếu ngoại tệ để
bán cho doanh nghiệp.
"Thị trường ngoại hối căng thẳng, có rất ít giao dịch và nếu có đều giao dịch
trên mức tỷ giá trần do Ngân hàng Nhà nước quy định", nguyên Phó thống đốc
Nguyễn Văn Bình xác nhận.
Để ổn định thị trường, Ngân hàng Nhà nước đã công khai, minh bạch các thông
tin cần thiết để giúp doanh nghiệp và người dân nắm rõ diễn biến kinh tế cũng như
tình hình tỷ giá. Thông thường, mức độ phá giá của một đồng tiền thấp hơn mức độ
lạm phát. Năm 2008 lạm phát của Việt Nam ở mức 23%, trong khi đồng Việt Nam

Nỗi lo lạm phát, sự trượt giá mạnh mẽ của đồng USD, và những dấu hiệu leo
thang - dù chưa phải là căng thẳng nhất trong năm 2008 - của khủng hoảng tài
chính… là những nhân tố chính đẩy giá vàng tăng vọt.
Những dấu hiệu xấu đi của khủng hoảng ở Mỹ, nhất là từ sau vụ đổ vỡ của ngân
hàng đầu tư Bear Stearns, như “tiếp thêm dầu vào lửa”, khiến sự mất giá của USD
mỗi ngày thêm trầm trọng.
Ngoài ra, sự giảm sút của thị trường chứng khoán thế giới, đặc biệt là các cổ
phiếu của ngành tài chính, cũng khiến một lượng vốn lớn được chuyển từ thị trường
này sang thị trường vàng.
Chính những điều này là nguyên nhân dẫn tới thị trường vàng Việt Nam và
quốc tế biến động mạnh trong năm 2008. Cụ thể diễn biến biến động giá vàng trên
thị trường có thể tóm tắt như sau: “Giá vàng thế giới năm 2008 đã có quý 1 tăng
Thực trạng và xu hướng phát triển thị trường ngoại hối Việt NamNhóm 6 – Cao học K21E Trang 14như vũ bão, quý 2 vững vàng ở mức cao, quý 3 trồi sụt mạnh, và quý 4 dần lấy lại
ưu thế”
 Trong quý 1 và 2 năm 2008, Thị trường vàng liên tục thiết lập các kỷ lục về
giá.
Tại thị trường New York ngày 2/1/2008 - ngày giao dịch đầu tiên của năm nay -
giá vàng giao ngay đóng cửa ở mức 857,4 USD/oz, giá vàng giao kỳ hạn chốt phiên
tại 860 USD/oz. Ở thời điểm đó, đây là những mức giá cao nhất trên thị trường
vàng thế giới kể từ năm 1990. Đỉnh cao mọi thời đại của giá vàng đã được thiết lập
vào ngày 17/3/2008 - ngay sau vụ tan rã của tập đoàn ngân hàng đầu tư Phố Wall
Bear Stearns - với mức giá đóng cửa lên tới 1.002,8 USD/oz của giá vàng giao ngay
tại thị trường New York.
Tại thị trường vàng Việt Nam, quý 1-2/2008, cũng là thời kỳ giao dịch cực kỳ

Tuy nhiên, trái ngược hoàn toàn với diễn biến của thị trường vàng thế giới, với
lý do từ đầu tháng 6/2008, Nhà nước ngừng cấp phép nhập khẩu vàng, trong khi
nhu cầu vàng trong nước tăng cao, các nhà kinh doanh vàng trong nước liên tục duy
trì khoảng cách khá lớn giữa giá vàng thế giới cao hơn giá vàng trong nước. Kết quả
là, có lúc, giá vàng thế giới quy đổi đứng ở mức trên dưới 1.500.000 đồng/chỉ, thấp
hơn giá vàng trong nước tới 200.000 đồng/chỉ.
Đáng chú ý, ở thời điểm giữa tháng 8, do giá vàng thế giới sụt mạnh, nhu cầu
mua vàng vào tại thị trường trong nước tăng vọt, các tiệm vàng tại Hà Nội đã áp
dụng phương pháp bán hàng bằng… ticket, giao hàng sau.
 Những tháng cuối năm 2008 và nửa đầu năm 2009:
Tuy nhiên, tháng 12 ghi nhận sự “ưu ái” trở lại của giới đầu tư thế giới dành
cho vàng. Chính sách nới lỏng tiền tệ của Mỹ, với lãi suất đồng USD có thể được
đưa về mức 0% và biện pháp bơm USD với khối lượng khổng lồ vào nền kinh tế để
chống khủng hoảng, đang tạo áp lực mất giá trở lại đối với USD và khiến người ta
đặt câu hỏi về s ự hình thành của một chu kỳ lạm phát mới. Bởi vậy, giá vàng thế
giới đang có xu hướng phục hồi liên tục từ đầu tháng này. Giá vàng trong nước hiện
cũng đã ngang bằng với giá vàng thế giới.
Giao dịch tại thị trường vàng trong nước trong quý 4 ảm đạm, nhu cầu mua vào
và bán ra cùng thấp do mức giá không hấp dẫn.
Nhìn chung, trong bối cảnh khủng hoảng và suy thoái kinh tế của năm 2008,
vàng vẫn chứng minh được vai trò một kênh đầu tư an toàn của mình.
Kết luận: diễn biến giá vàng trong nước năm 2008 và những tháng đầu 2009 có
sự lệch lạc so với diễn biến của giá vàng thế giới. Sự biến động của giá vàng Việt
Nam là vô cùng bất thường. Từ giai đoạn bất ổn vĩ mô 2007 – 2008 đến nay, thị
trường vàng thường xuyên diễn ra tình trạng nóng sốt, giá trong nước thường cao
hơn giá thế giới từ vài trăm ngàn đến 1 triệu đồng một lượng, thậm chí có thời điểm
lên đến cả 2 triệu đồng một lượng. Tuy nhiên, kể từ thời điểm có thông tin Chính
phủ sẽ xoá bỏ tự do kinh doanh vàng miếng (mặc dù vẫn thừa nhận quyền sở hữu
vàng của người dân), thị trường vàng trở nên đóng băng, giá vàng trong nước giảm
mạnh, có lúc thấp hơn giá vàng thế giới và rất ít xê dịch cho dù giá vàng thế giới

VND chỉ tăng 3,51% so đầu năm, trong khi đó dư nợ cho vay ngoại tệ lại tăng tới
20,23%! Trong tuần cuối tháng 6, giao dịch USD càng mạnh hơn. Doanh số giao
trên thị trường liên ngân hàng tăng hơn 500 triệu USD so tuần trước đó, lãi suất
cũng tăng nhẹ ở các kỳ hạn qua đêm và 1 tuần. Sau khi có biểu hiện căng thẳng
trong tháng 11-2010, từ tháng 12 trở đi, thị trường ngoại hối đã có những chuyển
biến tích cực hơn. Theo Vụ Quản lý ngoại hối, tỷ giá trên thị trường "chợ đen" sụt
giảm mạnh và hầu như không có giao dịch tại mức tỷ giá cao bất thường hay có yếu
tố đầu cơ như thời điểm giữa tháng 11. Bên cạnh đó, trạng thái ngoại hối đã tăng
đáng kể từ đầu tháng 12 tới nay. Cụ thể trạng thái ngoại tệ của toàn hệ thống đã
được cải thiện đáng kể từ mức âm trên 300 triệu USD vào cuối tháng 11 nay chỉ còn
âm khoảng dưới 100 triệu USD. Doanh số mua ngoại tệ của các ngân hàng thương
mại với khách hàng đang có xu hướng tăng khi các doanh nghiệp xuất khẩu đã bán
mạnh ngoại tệ cho hệ thống ngân hàng thương mại…
Theo thống kê của Vụ Quản lý ngoại hối - NHNN, tính đến cuối tháng 11-2010,
nguồn thu ngoại tệ từ kiều hối đã đạt mức 7,6 tỷ USD.
Trong tháng 12-2010, ước tính lượng kiều hối sẽ đạt khoảng 770 triệu USD,
nâng tổng nguồn thu từ kiều hối của cả năm 2010 lên mức 8 tỷ USD, tăng khoảng
Thực trạng và xu hướng phát triển thị trường ngoại hối Việt NamNhóm 6 – Cao học K21E Trang 1725,6% so với tổng lượng kiều hối của cả năm 2009. Tính tới tháng 1-2011, do có
Tết Nguyên đán nên nguồn kiều hối sẽ còn tiếp tục gia tăng. Bên cạnh nguồn thu từ
kiều hối, luồng vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam từ đầu năm thặng dư khoảng 800
triệu USD, giải ngân vốn đầu tư nước ngoài trong 11 tháng của năm 2010 đã tăng
9,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Ngoài ra, các ngân hàng nước ngoài đang tích cực
chuyển vốn ngoại tệ vào Việt Nam và giải ngân để thực hiện quy định của Ngân
hàng Nhà nước về việc tăng vốn điều lệ lên mức 3.000 tỷ đồng.

vàng trong nước, giá vàng cuối năm 2009 lại giảm xuống mức 35- 36 triệu
đồng/lượng sau một loạt nỗ lực bình ổn của cơ quan chức năng.
2.3.3 Diễn biến thị trường ngoại hối năm 2011
2.3.3.1 Diễn biến thị trường ngoại tệ
Thị trường tiền tệ kết thúc năm 2011 đầy biến động với nhiều sự kiện đáng ghi
nhớ đối với giới đầu tư và các chuyên gia phân tích. Những hậu quả từ đại khủng
hoảng tài chính 2008 vẫn đang tiếp tục làm tổn thương các nền kinh tế hàng đầu thế
giới như Mỹ, liên minh Châu Âu, Nhật Bản… Tiếp tục trong năm 2011, kinh tế thế
giới nhận thêm những cú sốc lớn hơn khi tính mạng đồng Euro bị đe dọa từng ngày
bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng nợ công diễn ra từ giữa năm 2010 và sự kiện nước
Mỹ hạ bậc tín dụng bởi hãng xếp hạng tín nhiệm quốc tế Standard & Poors.
Trên thị trường ngoại hối, năm 2011 chứng kiến lần đầu tiên trong lịch sử Ngân
hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá mạnh nhất từ 18.932 đồng đổi 1 USD lên 20.693
đồng (tăng 9.3%) và thu hẹp biên độ giao dịch từ 3% xuống còn 1% vào ngày
11/02/2011. Việc tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng đã giúp thu hẹp tỷ giá chính
thức so với tỷ giá trên thị trường chợ đen vốn đã duy trì khoảng cách từ 7%-8%
trong vòng hai tháng trước đó. Để đảm bảo ổn định tỷ giá, Chính phủ ban hành nghị
định 95, phạt hành chính tới 500 triệu đồng cho vi phạm trong lĩnh vực tiền tệ, ngân
hàng. Nhiều đơn vị, tổ chức cá nhân đã bị bắt vi phạm, thu giữ và phạt hành chính.
Tháng 10 ghi nhận tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng mạnh nhất kể từ khi
NHNN điều chỉnh tỷ giá hôm 11/2. Trong tháng có tới 14 lần NHNN nâng tỷ giá
với mức tăng tổng cộng 175 đồng. Nguyên nhân là do nhu cầu mua ngoại tệ của DN
để trả các khoản vay từ 2 qúy đầu năm 2011, nhu cầu nhập khẩu tăng cao vào cuối
năm cộng thêm nhu cầu nhập khẩu vàng nhằm kiếm lời từ sự chênh lệch giữa giá
vàng trong nước và giá vàng quốc tế. Thêm vào đó cung ngoại tệ cũng giảm sút do
nhiều DN không muốn bán ngoại tệ cho ngân hàng khi niềm tin về đồng nội tệ chưa
cao. Sau loạt tăng 14 lần liên tiếp đầu tháng 10, tỷ giá bình quân liên ngân hàng
giữa USD với VND đã kéo dài 5 tuần cố định.
Trong tháng 12 Ngân hàng Nhà nước bất ngờ điều chỉnh tăng tỷ giá liên ngân
hàng lên mức cao nhất 20.828 đồng. Đây là mức điều chỉnh thứ hai trong tháng này

là 2,9%. Điều đáng mừng là tỷ trọng nhập s iêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu đã
giảm rất mạnh so với các năm trước và dưới khá xa so với mục tiêu phấn đấu do
Quốc hội và Chính phủ đưa ra. Bên cạnh đó kiều hối cũng đang góp phần đáng kể
trong việc cải thiện dự trữ ngoại hối, ước tính vừa công bố của Ngân hàng Thế Giới
(WB) cho thấy lượng kiều hối chuyển về Việt Nam trong năm 2011 đạt gần 9 tỷ
USD. Với con số này, Việt Nam thuộc top 10 các nước nhận được nhiều kiều hối
nhất theo con đường chính thức (gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Mexico, Philippines,
Pakistan, Bangladesh, Nigeria, Ai Cập và Liban). Điều này chứng tỏ sự hấp dẫn và
ổn định của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là rất cao.
2.3.3.2 Diễn biến thị trường vàng
Năm vừa qua Việt Nam cũng chứng kiến những cơn sốt vàng gây náo loạn thị
trường. Theo đà tăng của thế giới, giá vàng tại Việt Nam bắt đầu leo thang từ đầu
tháng 8. Ban đầu, giá vàng mới nhích lên 42 triệu, rồi thẳng tiến đạt mức 45-46 triệu
đồng/lượng. Cơn sốt vàng thực sự bùng nổ vào ngày 23/8/2011, khi giá vàng đạt
đỉnh: trên 49 triệu đồng/lượng. Cả xã hội náo loạn với vàng. Để hạ nhiệt cơn sốt
này, Ngân hàng Nhà nước đã tung ra một lượng vàng từ dự trữ và mở quota cho
nhập khẩu. Sau đó, giá vàng mới giảm dần và ổn định quanh mức 44-45 triệu
đồng/lượng.
Thực trạng và xu hướng phát triển thị trường ngoại hối Việt NamNhóm 6 – Cao học K21E Trang 20Tuy nhiên, do mức cầu khá cao, sự biến động tỷ giá USD/VND trong những
tháng cuối năm, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và quốc tế vẫn còn ở mức cao.
Để điều trị căn bệnh trên thị trường vàng, Ngân hàng Nhà nước sử dụng khá nhiều
liều thuốc. Ngày 06/10/2011, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 32, sửa đổi
Thông tư 11, đưa ra gói giải pháp đặc trị thị trường vàng. Theo đó, có 5 ngân hàng
được kinh doanh vàng qua tài khoản là Sacombank, ACB, Techcombank,

thế giới năm 2012 phục hồi một cách “chật vật”. Trong khi Châu Âu đang loay
Thực trạng và xu hướng phát triển thị trường ngoại hối Việt NamNhóm 6 – Cao học K21E Trang 21hoay tìm cách thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng nợ công nhiều năm liền thì tăng
trưởng kinh tế tại Mỹ và Nhật Bản diễn ra khá chậm chạp. Các nền kinh tế mới nổi
như Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc cũng đang dần “giảm tốc” trong quá trình
phát triển kinh tế. Ba nguy cơ lớn nhất ảnh hưởng đến quá trình hồi phục kinh tế
năm 2012 là cuộc khủng hoảng nợ công ở khu vực Eurozone, vấn đề“vách đá tài
chính” ở Mỹ và sự trì trệ tăng trưởng kinh tế tại Trung Quốc.
Kinh tế-xã hội nước ta năm 2012 tiếp tục bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn của kinh tế
thế giới, điều này ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống
dân cư trong nước. Thị trường tiêu thụ hàng hóa bị thu hẹp, hàng tồn kho ở mức
cao, sức mua trong dân giảm. Tỷ lệ nợ xấu ngân hàng ở mức đáng lo ngại. Nhiều
doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa phải thu hẹp sản xuất, dừng hoạt
động hoặc giải thể. (Nguồn: Tổng cục thống kê)
Ghi nhận thành công lớn nhất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong năm
2012 vừa qua là duy trì tỷ giá USD/VND ổn định ở mức 20,828 VND/USD, giữ
nguyên so với mục tiêu điều hành trong năm 2012 (tỷ giá năm 2012 biến động
không quá 2-3%)
Nguồn: Tổng cục thống kê
Biểu đồ 2: Sự biến động tỷ giá qua các tháng trong năm 2012


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status