TÂM lý học lâm SÀNG và dị BIỆT - Pdf 14




2 Abnormal and clinical psychology
An introductory textbook Biên dịch:
PGS.TS. Nguyễn Sinh Phúc Những ngời tham gia dịch:
Nguyễn Ngọc Diệp: chơng 8, chơng 11
Nguyễn Hạnh Liên: chơng 7, chơng 12
Lý Nguyễn Thảo Linh: chơng 4, chơng 9
Th.S. Trần Thành Nam: chơng 2, chơng 13
Phơng Hoài Nga: chơng 5, chơng 15
Hiệu đính:
PGS.TS. Ngô Ngọc Tản

4

lời nói đầu
Để có thêm tài liệu tham khảo cho giảng viên và sinh viên, Khoa Tâm lí học Trờng
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia tổ chức biên dịch quyển sách:
Tâm lí học dị thờng và lâm sàng của tác giả P. Bennett. Nội dung quyển sách vừa bao gồm
những kiến thức cơ bản lại vừa cập nhật những thông tin mới về tâm lí lâm sàng và dị
thờng. Để tiện cho bạn đọc theo dõi, chúng tôi cũng xin đợc trình bày đôi điều về bản
dịch.
Trớc hết về mặt thuật ngữ. Hiện nay trong các tài liệu tâm lí học dịch từ tiếng nớc


5Những chữ viết tắt
Tiếng Việt
cs Cộng sự
DTTK Dẫn truyền thần kinh
RLSKTT Rối loạn sức khoẻ tâm thần
RLTT Rối loạn tâm thần
SKTT Sức khoẻ tâm thần
TTPL Tâm thần phân liệt
Tiếng Anh
AA Hội những ngời không uống rợu (Alcoholics
anonymous)
AD Bệnh Alzheimer (Alzheimer disease)
ADHD Rối loạn tăng động giảm chú ý ( Attention-
deficit/hyperactivity disorder)
DID Rối loạn xác định phân li (Dissocitive indentity
disorder)
DSM Sách chẩn đoán và thống kê (Diagnostic and
statistical manual)
ECT Sôc điện (Electroconvulsive therapy)
EMDR Giải mẫn cảm vận động mắt và tái xử lí (Eye
movement desensitization and reprocessing)
GABA Gamma aminobutyric acid
GAD Rối loạn lo âu lan toả (Generalized anxiety disorder)
GID Rối loạn xác định giới (Gender indentity disorder)
ICD Phân loại bệnh Quốc tế (International classification
of diseases)

Những quan điểm hiện đại về tính dị thờng 11
Tổng quan lịch sử 13
Những vấn đề chẩn đoán 16
Nguyên nhân các vấn đề sức khoẻ tâm thần 24
Mô hình sinh-tâm-xã hội 32
Chơng 2 Các trờng phái tâm lí học 36
Tiếp cận phân tâm 36
Tiếp cận hành vi 44
Tiếp cận nhận thức 50
Tiếp cận nhân văn 58
Các liệu pháp có hiệu quả nh thế nào 64
Chơng 3 Giải thích và trị liệu sinh học 67
Giải phẫu hành vi não 67
Trị liệu bằng thuốc 73
Trị liệu sốc điện 80
Phẫu thuật tâm thần 82
Chơng 4 Bên ngoài cá nhân 86
Mô hình gia đình các rối loạn sức khoẻ tâm thần 86
Lí giải tâm lí xã hội về những vấn đề sức khoẻ tâm thần 93
Dự phòng những vấn đề sức khoẻ tâm thần 99
Chơng 5 Tiến trình trị liệu 105
Những vấn đề đánh giá 105
Làm việc qua vấn đề 108
Kết thúc trị liệu 110
Ai có lợi nhiều nhất từ trị liệu 111
Điều gì làm nên một nhà trị liệu giỏi 114
Những yếu tố trong phạm vi trị liệu 116
Phần II. Những vấn đề chuyên biệt
Chơng 6 Tâm thần phân liệt 122
Bản chất của tâm thần phân liệt 122

Chơng 12 Rối loạn ăn 272
Chán ăn tâm lí 272
Cuồng ăn tâm lí 273
Chơng 13 Rối loạn phát triển 293
Khó học 293
Tự kỉ 301
Rối loạn tăng động-giảm chú ý 309
Chơng 14 Rối loạn thần kinh 319
Bệnh Alzheimer 319
Chấn thơng sọ não 328
Xơ vữa rải rác 332

9

Ch−¬ng 15 NghiÖn 340
C¸c chÊt g©y nghiÖn vµ phô thuéc chÊt g©y nghiÖn 340
L¹m dông r−îu 342
Sö dông heroin 350
§¸nh b¹c bÖnh lÝ 357
Tµi liÖu tham kh¶o 365 PhÇn I

C¬ së vµ ph−¬ng ph¸p

11
Chơng 1
Nhập môn

Chơng này giới thiệu những vấn đề của tâm lí học dị thờng, trong đó có nhiều vấn
đề đợc bàn sâu ở các phần sau. Bắt đầu bằng khái niệm về tâm lí học dị thờng và nó liên
quan nh thế nào đến sức khoẻ tâm thần (SKTT); sự thay đổi quan niệm qua từng thời kì
trớc khi xem xét đến các cách thức hình thành những vấn đề về SKTT. Chơng tiếp theo sẽ
khảo sát một số yếu tố liên quan đến sự phát triển các rối loạn SKTT, tập trung vào các khía
cạnh: di truyền, sinh học, tâm lí, xã hội và gia đình. Cuối cùng sẽ giới thiệu tiếp cận sinh-
tâm-xã hội. Đây là cách tiếp cận nhằm tích hợp các yếu tố khác nhau vào một mô hình
chung. Sau khi đọc hết chơng, các bạn có thể nắm đợc những vấn đề sau:
Các quan điểm hiện đại về sự dị thờng
Lịch sử các quan điểm và trị liệu dị thờng
Những vấn đề về chẩn đoán: các hệ thống phân loại chẩn đoán then chốt và
những phơng án lựa chọn của chúng
Mô hình nguyên nhân các vấn đề SKTT: di truyền, sinh học, tâm lí, văn hoá-
xã hội và hệ thống hoặc gia đình
Tiếp cận sinh-tâm-xã hội.


nàn về SKTT lại có thể đợc xem nh là chuẩn mực.
Sự hiện diện của hành vi dị thờng hoặc lệch lạc có lẽ là gần nhất với những mô
hình đơn giản để thấu hiêủ về sự dị thờng nh là những khía cạnh liên quan đến
những vấn đề về SKTT bởi lẽ nó đã hàm ý những hành vi lệch chuẩn. Tuy nhiên
chỉ một tiêu chuẩn đơn giản nh vậy thôi là cha đủ. Không phải tất cả những
ngời có các vấn đề về SKTT đều là những ngời có hành vi lệch lạc và không
phải tất cả những hành vi lệch lạc đều là dấu hiệu của vấn đề về SKTT.
Những mô hình phức tạp hơn về tính dị thờng xem hành vi dị thờng là dấu
hiệu của những vấn đề về SKTT khi:
Nó là hậu quả của những quá trình tâm lí bị sai lệch
Nó là nguyên nhân hoặc hậu quả của rối loạn stress và /hoặc rối loạn chức năng
Nó vợt ra khỏi khuôn khổ của một đáp ứng thông th
ờng với những tình huống
cụ thể.
Còn tiêu chuẩn thứ t là: một cá nhân có thể đặt mình vào nguy hiểm khi có cách
nhìn sai lệch về thế giới mặc dù điều này cũng ít gặp ở những ngời đợc coi là có những
vấn đề về SKTT. Những tiêu chuẩn này có thể khái quát thành 4D (Deviance - lệch chuẩn;
Distress - đau buồn; Dysfunction - rối loạn chức năng và Dangerous - nguy hiểm). Nhìn
chung những tiêu chuẩn này đều đúng song vẫn có những ngoại lệ quan trọng. Ví dụ, loạn
dục với trẻ em không phải là do rối loạn stress cá nhân, còn những ngời có hành vi nhân
cách bệnh cũng không cảm thấy hối hận về hành động của mình.
Mặc dù những tiêu chuẩn này đa ra một cách tổng thể về cái gì là RLTT, cái gì
không phải, song những tiêu chuẩn nh vậy có thể khác nhau trong những nhóm, xã hội và
thời kì khác nhau. Việc định nghĩa RLTT, lệch chuẩn hoặc dị thờng là do xã hội và những
định nghĩa nh vậy không phải là tuyệt đối. ở một số nớc, những ngời tự nhìn thấy mình
và nói chuyện với mình thì đợc xem nh là thông thái, có một sức mạnh đặc biệt. ở một
số nớc khác, những ngời nh vậy đợc coi là có bệnh loạn thần và cần phải đợc điều trị.
Ví dụ, ở Puerto Rico, có ai đó tin rằng xung quanh anh ta có rất nhiều linh hồn thì đó là
chuyện bình thờng. Còn ở Anh, nếu với niềm tin nh vậy, anh ta phải vào viện điều trị nội
trú với chứng bệnh tâm thần phân liệt (TTPL). Trở lại với hành động đua xe nh là ví dụ về

nh: trích máu, sử dụng những dụng cụ cơ học song trị liệu tiến bộ nhất ở cả Hy Lạp và La
Mã cổ đại nhìn chung đều là nhân đạo và trong đó bao gồm cả việc tạo ra một bầu không
khí dễ chịu, hỗ trợ ngời bệnh.
Cho đến thời kì Trung cổ, những t tởng tôn giáo chiếm vị trí thống trị và các tăng
lữ, giáo sĩ đều cho rằng những hành vi dị thờng đều là của ma quỷ. Việc trị liệu chủ yếu
do các thầy tu. Để ngời bệnh đợc giải thoát khỏi ma quỷ, ngời ta cầu nguyện, cho nghe
thánh ca, uống nớc thánh hoặc nớc đắng. Những cách thô bạo hơn gồm: lăng mạ ma quỷ,
ngời bệnh bị bỏ rét, kéo căng hoặc dùng roi quất. Có lẽ cách hành xử bi kịch nhất đối với
những ngời bị quỷ ám đó là quyển Malleus Malforum (lá búa của phù thuỷ) của nhà thờ
Thiên chúa, trong đó hớng dẫn cách xác định và hành xử đối với phù thuỷ, những ngời bị

14
buộc tội khi có một dịch bệnh nào đó xuất hiện trong cộng đồng. Sách hớng dẫn rằng cần
phải xoá bỏ ngay những cái do quỷ ám và thiêu đốt là một cách để loại trừ ma quỷ.
Cho đến cuối thời kì Trung cổ, quyền lực lại đợc chuyển sang giới tăng lữ và do
vậy, các quan điểm sinh học về những vấn đề SKTT một lần nữa lại chiếm u thế. Các cơ sở
chăm sóc những ngời có vấn đề về SKTT đã đợc thành lập. Tuy nhiên kết quả ban đầu
của những nhà thơng điên đã dẫn đến sự quá tải. Điều này kéo theo sự giảm sút chất lợng
chăm sóc và ngày càng mang tính phi nhân đạo. Một trong những cơ sở nổi tiếng nh vậy là
Bệnh viện Bethlem ở London. Tại đây ngời bệnh bị xích lại và vào những kì trăng nhất
định, một số bị dùng xích kéo căng ra để tránh gây rối loạn. Sự đối xử thật thô bạo và phi
nhân đạo. Bệnh viện trở thành một trong những nơi thu hút khách du lịch nổi tiếng ở
London. Ngời ta trả tiền để đợc xem những ngời điên loạn.
Vào thế kỉ 19, việc chăm sóc ngời bị tâm thần đã có sự thay đổi cơ bản. William
Tuke ở Anh và Phillipe Pinel ở Pháp đã đa ra cách đối xử nhân đạo hơn. Mặc dù vẫn còn
nhà thơng điên nhng ngời bệnh tâm thần đã đợc đi lại tự do trong đó. Trị liệu bao gồm
làm những công việc gần gũi với ngời bệnh, đọc và chuyện trò với họ, dẫn họ đi dạo
thờng xuyên. Rất nhiều ngời đợc giải phóng khỏi nhà thơng vì tình trạng sức khoẻ đã
tốt. Cách điều trị ngời bệnh tâm thần bằng tiếp cận đạo đức nh vậy dựa trên quan niệm
rằng nếu nh tất cả những ngời có các vấn đề về SKTT mà đợc trị liệu nhân đạo thì họ có

tố khởi phát các triệu chứng và trải nghiệm lại những cảm xúc khi đó. Quá trình này còn
đợc gọi là giải tỏa. Về sau Freud từ bỏ phơng pháp này, chuyển sang dùng liên tởng tự
do và phân tâm.
Nửa cuối của thế kỉ 20 đợc chứng kiến cuộc cách mạng trong trị liệu các vấn đề về
SKTT và sự tăng cờng của cả 2 tiếp cận: sinh học và tâm lí học. Các liệu pháp nhân văn do
Carl Rogers khởi xớng đã bổ sung thêm cho Freud và những nhà phân tích tâm lí. Tiếp
theo là sự xuất hiện của tiếp cận hành vi và hành vi nhận thức, dẫn đầu là những nhà lí luận
và lâm sàng nh: Hans Eysenck và Stanley Rachman ở Anh, Aaron Beck và Donald
Meichenbaum ở Mĩ và Canada (xem chơng 2). Các liệu pháp tâm lí ngày càng có hiệu quả
hơn đối với những rối loạn khác nhau nh các rối loạn trầm cảm, lo âu và TTPL.
Chăm sóc tại cộng đồng
Những phơng thức điều trị hiện đại cho phép hàng ngàn ngời bị RLTT mạn tính,
những ngời mà ở vào nửa đầu thế kỉ 20 cần đợc chăm sóc tại bệnh viện thì nay có thể
điều trị tại cộng đồng. Sự thay đổi chăm sóc chuyển từ bệnh viện sang cộng đồng bắt đầu ở
Anh vào những năm 1950, sau đó đạt đỉnh cao vào những năm 1970. Trong khoảng thời
gian đó, rất nhiều ngời đã ở hàng năm, thậm chí hàng chục năm trong bệnh viện, dần dần
đợc chuyển về cộng đồng, nơi họ đã từ đó vào viện. Đây là một quá trình không đơn giản
bởi lẽ sự thay đổi nh vậy cần phải đợc luật pháp hoá và nhiều ngời bệnh đã bị hội chứng
lu viện. Những ngời này đã quen với việc hành động theo những nguyên tắc của bệnh
viện, nơi mà nhìn chung có thể chấp nhận những khác biệt nhiều hơn so với cộng đồng. Bản
thân họ cũng có ít những kĩ năng tự chăm sóc bản thân bởi lẽ trong một thời gian kéo dài
nhiều năm, họ không phải chịu trách nhiệm về việc nấu ăn, giặt giũ và những công việc tự
chăm sóc khác. Nhiều khi cuộc sống kéo dài trong bệnh viện làm cho họ tàn phế hơn cả
chính bệnh mà do nó họ phải vào viện. Điều này không có gì phải nghi ngờ cũng nh
chuyện họ đi lang thang hay có thể trở thành ngời mẹ không đám cới. Do những yếu tố
đó, trớc khi đa ngời bệnh trở lại cộng đồng phải dạy cho họ cách sống trong môi trờng
ngoài bệnh viện. Nếu không nh vậy thì sẽ có nhiều rắc rối xảy ra sau khi ngời bệnh đợc
ra viện và cuối cùng có thể dẫn đến vòng tròn luẩn quẩn: nhanh chóng đa họ trở về cộng
đồng rồi cũng nhanh chóng lại phải nhập viện trở lại.


trị chủ yếu nhất chính là liệu pháp thuốc. Việc lựa chọn dạng điều trị phụ thuộc vào chẩn
đoán, đến lợt mình, chẩn đoán đợc đa ra dựa trên cơ sở có hay không có dấu hiệu hoặc
còn gọi là triệu chứng bệnh. Điều này dẫn đến quan niệm rằng ngời có vấn đề về SKTT
khác với những ngời bình thờng bởi lẽ họ bị bệnh tâm thần.

Các hệ thống phân loại
Gốc rễ của tiếp cận này nằm trong các nghiên cứu của Kraepelin ở vào cuối thế kỉ
19. Ông đã mô tả một loạt các hội chứng, mỗi hội chứng lại có một phức bộ các triệu
chứng. Sự kết hợp các triệu chứng nh vậy tạo nên sự khác biệt gữa hội chứng này với hội

17
chứng khác. Đây cũng là cơ sở để Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đa ra Phân loại bệnh
Quốc tế (ICD: WHO, 1992). Bảng phân loại mới nhất, lần thứ 10, đã cho thấy những nỗ lực
nhằm xác định và phân loại một cách cẩn thận các vấn đề về tâm thần. Hội Tâm thần học
Mĩ (APA) cũng đa ra bảng phân loại của mình Sách Chẩn đoán và Thống kê (DSM). Mặc
dù có không ít những điểm chung song giữa hai hệ thống có sự khác nhau về nhiều chi tiết.
Giống nh ICD, DSM cũng đợc thay đổi theo thời gian. Phiên bản đầu tiên đợc công bố
vào năm 1952, còn hiện nay đã là phiên bản thứ 5 (DSM-IV-TR: APA 2000).
DSM là một hệ thống đa trục, và nh vậy, trạng thái tâm thần của mỗi cá nhân có thể
đợc đánh giá theo 5 trục khác nhau:
Trục 1: có hoặc không có hầu hết các hội chứng lâm sàng, bao gồm TTPL, rối
loạn khí sắc, rối loạn lo âu, rối loạn tình dục và rối loạn ăn
Trục 2: có hoặc không có trạng thái bệnh lí kéo dài, bao gồm các rối loạn nhân
cách và rối loạn học
Trục 3: thông tin về trạng thái sức khoẻ cơ thể của cá nhân
Trục 4: các vấn đề tâm lí - xã hội và môi trờng
Trục 5: đánh giá tổng quát về hoạt động chức năng: từ 1 điểm cho kích động liên
tục, hành vi tự sát hoặc bất lực cho đến 100 điểm đối với duy trì nhân cách hài
hoà, không có các triệu chứng.
Các hệ thống phân loại có rất nhiều u điểm. Chúng không phải là sự liệt kê đơn giản

Những kết quả của tâm lí học nhận thức đã chống lại quan điểm này. Ngày càng
có nhiều nghiên cứu cho thấy trong khi nội dung t duy của những ngời có và
không có những vấn đề SKTT có thể khác biệt so với chuẩn thì những quá trình
nhận thức nền tảng của họ lại cơ bản không có gì khác nhau. Vấn đề này sẽ đợc
trở lại trong những phần sau.
Mô hình khác không thừa nhận kinh nghiệm của cá nhân. Họ chỉ làm nhiệm vụ
chẩn đoán và trị liệu chính chẩn đoán đó chứ không trị liệu cá nhân.
Mô hình cũng hàm ý rằng các yếu tố sinh học đóng vai trò cơ sở trong sự phát
triển của những vấn đề SKTT và nh vậy trị liệu sinh học đơng nhiên cũng phải
là cơ sở. Sự lí giải nh vậy đã bỏ qua những chứng cứ về vai trò then chốt của các
yếu tố tâm lí, xã hội đối với sự hình thành và phát triển những vấn đề về SKTT và
các yếu tố sinh học tham gia vào những vấn đề này cũng bị thay đổi khi các yếu
tố tâm lí, xã hội thay đổi (xem chơng 4). Điều này có thể không đợc đánh giá
đúng mức khi liệu pháp hoá d
ợc đã có kết quả trong việc điều trị một số bệnh
dờng nh liên quan nhiều đến các yếu tố sinh học (ví dụ, TTPL, trầm cảm). Tuy
nhiên các liệu pháp tâm lí đã chứng tỏ có hiệu quả hơn dợc lí trong việc điều trị
nhiều bệnh.

Độ tin cậy của chẩn đoán
Mặc dù tiêu chuẩn chẩn đoán cho từng loại rối loạn đã đợc xây dựng một cách khá
rõ ràng song chính chẩn đoán lại còn đang là quá trình cha rõ ràng. Ngay trong một nớc,
mức độ thống nhất trong chẩn đoán vẫn có thể rất thấp. Vào những năm 60, Beck và cs. đã
cho thấy chỉ có 54% chẩn đoán của 4 bác sĩ tâm thần trên tổng số 154 bệnh nhân là thống
nhất với nhau. Vào giữa những năm 80, tình hình vẫn không thay đổi. Ví dụ, Lipton và
Simon (1985) đa ra so sánh kết quả chẩn đoán của các bác sĩ trong một bệnh viện với chẩn
đoán của đoàn thanh tra. Trong số 89 bệnh nhân đợc bác sĩ bệnh viện chẩn đoán là TTPL
thì đoàn thanh tra chỉ nhất trí với 16 trờng hợp. Chỉ có 15 trờng hợp đợc các bác sĩ trong
bệnh viện chẩn đoán là trầm cảm còn chẩn đoán này của đoàn thanh tra là 50 bệnh nhân.
Mục đích của DSM chính là nhằm giảm thiểu những sai số nh vậy và mỗi phiên bản mới

kích động, sững sờ sang thạng thái uốn sáp, trạng thái mà cá nhân có thể giữ
nguyên một t thế kéo dài đến vài giờ.
Thanh xuân: thay đổi khí sắc và hành vi một cách vô lối, khó dự đoán, kèm theo
rối loạn t duy, thờng là kì dị, khó hiểu, bừa bãi.
Rất tiếc là cách phân loại này không tính đến bất kì một lí thuyết nhân quả nào về
mối liên hệ giữa các chùm triệu chứng khác nhau và cũng không cho chúng ta nhận biết sâu
thêm về bản chất và trị liệu TTPL. Hệ thống phân loại tiện ích hơn đợc xây dựng trên cơ
sở chú ý đến những nguyên nhân các triệu chứng của TTPL.
Phân tích yếu tố các dấu hiệu và triệu chứng của các thể TTPL khác nhau đã xác
định đợc 3 chùm triệu chứng. Đó là các triệu chứng rối loạn tổ chức, các triệu chứng

20
dơng tính và các triệu chứng âm tính (Liddle và cs.1994), các chùm triệu chứng này cũng
có thể xuất hiện đồng thời. Chùm triệu chứng dơng tính bao gồm ảo giác, hoang tởng, rối
loạn tổ chức ngôn ngữ hoặc rối loạn t duy dơng tính. Các triệu chứng âm tính gồm: rối
loạn ngôn ngữ và hành vi, cảm xúc cùn mòn hoặc không phù hợp. Những chùm triệu chứng
này có thể khác nhau về cơ sở sinh học cũng nh tâm lí thần kinh và cũng chứng tỏ tính hữu
ích cách phân loại các rối loạn dạng phân liệt khác nhau.
Tuy nhiên ngay cả khi các tiêu chuẩn chẩn đoán có cả độ tin cậy và độ hiệu lực cao
thì chúng vẫn có một số nhợc điểm. Có lẽ điều quan trọng nhất là quá trình chẩn đoán đã
hàm ý rằng cá nhân mắc một bệnh y khoa không bình thờng. Họ bệnh lí hoá cá nhân
và chuyển những ngời này cho bác sĩ tâm thần nhiều khi không hợp lí. Trớc năm 1973,
trong DSM, tình dục đồng giới đợc xếp vào rối loạn tình dục. Việc điều trị đã đợc hợp
pháp hoá và pháp luật cũng chống lại tình dục đồng giới. Còn bây giờ, trong tiêu chuẩn
chẩn đoán rối loạn nhân cách nhiều điểm vẫn còn đang tranh luận, xem đây nh là lối sống
cá nhân chứ không phải là RLTT (Widger & Costa, 1994. Xem chơng 11).

Những liên quan với văn hoá
Một mục tiêu rất quan trọng của DSM là cách thức xác định và chẩn đoán những vấn
đề SKTT trong những nền văn hoá khác nhau. Tiếp cận mà chúng ta đang bàn quan niệm

yếu tố sinh học và di truyền và mô hình thứ 2 mô hình phân tâm cho rằng những rối loạn
ở tuổi trởng thành là do những cấu trúc tâm lí đã đợc ấn định từ thời thơ ấu và không thay
đổi trong quá trình sống. Tuy nhiên những cấu trúc này lại do yếu tố sinh học qui định.
Farber cũng đã chỉ ra sự nguy hiểm về mặt sắc tộc của mô hình y khoa khi nghề nghiệp
chăm sóc sức khoẻ đợc luật pháp hoá và có thể có sự lạm dụng, áp đặt bệnh đối với một số
ngời. Có lẽ một trong những ví dụ điển hình là có những chính phủ cực tả hay cực hữu sử
dụng tâm thần học để kiểm soát những ngời bất đồng ý kiến. Cũng theo Farber, việc điều
trị y khoa đối với những ngời RLTT chính là cản trở họ tự thay đổi và điều này càng củng
cố cho quan niệm rằng họ không có khả năng tự phát triển và thay đổi. Ông cũng nhấn
mạnh rằng dạng trị liệu này thực chất là cỡng bức, rằng bất kì nỗ lực nhằm tự thay đổi đều
bị nhìn nhận, đánh giá một cách tiêu cực và bị bác bỏ: ví dụ, ngời bệnh muốn dừng điều trị
thì ngời ta cho rằng đây là một dấu hiệu của chống đối điều trị, và họ không muốn tốt
lên. Chỉ có các chuyên gia mới biết khi nào ngời bệnh tâm thần đủ tỉnh táo để có lựa chọn
đáng tin.
Sau khi tham khảo những phê phán nh vậy về mô hình y khoa, bạn đọc có thể đặt
câu hỏi tại sao sách lại đợc bố cục theo hệ thống phân loại mà chính nó có vấn đề bàn cãi.
Lợi ích của nó có thể là ở chỗ phản ánh đợc tình trạng khó xử, một số nhà tâm lí học tiếp
tục sử dụng mô hình này còn một số khác lại phản đối. Những chẩn đoán nh vậy giúp
ngời đọc định hớng đợc những nội dung chính của chúng. Việc sử dụng các chẩn đoán
đó không có nghĩa là đã thừa nhận mô hình y khoa thậm chí cả thực tế đợc mô tả
trong các bệnh ít khi bị bàn cãi- và khi trình bày những mô tả sinh học đối với từng rối
loạn, điều đó cũng không có nghĩa xem chúng là nguyên nhân khởi đầu.

Các lựa chọn của mô hình y khoa
Bất kì một lựa chọn nào đối với mô hình y khoa cũng phải phân biệt nó theo một
số hớng quan trọng. Cụ thể cần phải:
đó không phải là lỡng cực giữa trạng thái tâm thần bình thờng và dị thờng

22
lu ý rằng các quá trình xã hội và tâm lí có thể dẫn đến hoặc đi kèm với những

tìm cách điều trị hoặc nó cũng không làm ảnh hởng cuộc sống th
ờng ngày của cá nhân
(xem chơng 6). Để dung hoà với tiếp cận chẩn đoán, ngời ta đề xuất rằng nếu điểm của
một cá nhân ở trên ngỡng (dựa vào mức độ nặng và tần số xuất hiện) thì cá nhân đó có thể
đợc xếp vào một chẩn đoán nào đó.

23
Tiếp cận chiều hớng có rất nhiều điểm mạnh. Cụ thể nó chỉ ra khía cạnh nào trong
cuộc sống của cá nhân là có vấn đề và mức độ nào cần sự trợ giúp. Cách tiếp cận nh vậy
tránh đợc sự gò ép vấn đề hiện có vào một phạm trù chẩn đoán nào đó mà bản thân nó
cũng không phù hợp. Tuy vậy cái mà nó cha đề cập đợc chính là quá trình nào đã dẫn
đến những vấn đề của cá nhân và những yếu tố nào duy trì những vấn đề đó. Chính vì vậy
tiếp cận tâm lí (luận giải) nhằm tìm cách khắc phục những hạn chế đó.

Luận giải tâm lí (psychological formulation)
Tiêu chuẩn chẩn đoán chỉ có tác dụng trong việc lựa chọn thuốc điều trị có lợi cho
cá nhân. Nó không giúp gì nhiều cho các nhà trị liệu dạng khác. Có thể thấy danh mục chẩn
đoán đã làm đơn giản hoá và hạn chế nhiều những thông tin về mức độ. ở mức độ cơ bản
nhất, nhà lâm sàng tiếp nhận mô hình sinh học về các RLSKTT có thể chỉ nhằm đạt đến
mục tiêu xác định chẩn đoán đối với một chùm các triệu chứng sau đó lựa chọn thuốc cho
phù hợp. Bản chất thực của các vấn đề mà cá nhân phải đối mặt không đợc quan tâm đúng
mức. Ví dụ, ngời bệnh TTPL có ảo giác thì đợc dùng thuốc để cắt ảo giác còn bản chất
của ảo giác đó không hề ảnh hởng đến việc lựa chọn thuốc. Ngời bị trầm cảm thì đợc
dùng thuốc chống trầm cảm mà không phụ thuộc vào sự hiểu biết bản chất cũng nh
nguyên nhân của nó.
Nhà trị liệu tâm lí có quan điểm khác. Đối với họ bản chất hoặc những điều kiện dẫn
đến giai đoạn trầm cảm là rất quan trọng và đó là tiêu điểm để tập trung can thiệp. Chẩn
đoán chỉ có ảnh hởng chút ít đến dạng trị liệu. Ví dụ, khi làm việc với một ngời có ảo
giác, nhà tâm lí trị liệu muốn biết bản chất và nội dung của cái đó để họ có thể sử dụng kỹ
thuật chuyên biệt phù hợp với những nhu cầu đặc thù của cá nhân, giúp cá nhân đối phó

xác định đợc cái gì phù hợp với thân chủ cụ thể. Độ hiệu lực của tiếp cận này đợc bàn
thêm trong chơng 5.

Nguyên nhân những vấn đề sức khoẻ tâm thần
Có rất nhiều tài liệu khác nhau tập trung vào những yếu tố nguy cơ đối với SKTT.
Những yếu tố này không tác động một cách riêng rẽ mà có sự kết hợp với nhau tạo thành
nguy cơ xuất hiện các RLTT ở cá nhân. Phần còn lại của chơng này chúng tôi giới thiệu
từng cách giải thích. Những chơng tiếp theo sẽ kiểm tra lại các vấn đề một cách chi tiết
hơn.
Mô hình di truyền tập trung vào các yếu tố di truyền ảnh hởng nh thế nào đến
nguy cơ xuất hiện RLSKTT. Các yếu tố di truyền đã đợc xem xét trong một số
bệnh khác nhau nh TTPL, bệnh Alzheimer và trầm cảm.
Mô hình sinh học tập trung vào những quá trình hoá - sinh, đặc biệt là các chất dẫn
truyền thần kinh (DTTK), những chất trung gian của cảm xúc và hành vi. Mô hình
này cũng nhằm lí giải mối liên quan giữa những tổn thơng não và các RLSKTT.
Mô hình tâm lí tập trung vào những quá trính tâm lí bên trong có ảnh hởng đến cảm
xúc và hành vi. Không giống với mô hình hoá - sinh hoặc di truyền, ở đây không có
một khuôn mẫu giải thích duy nhất mà ngợc lại có nhiều cách lí giải tâm lí khác
nhau về RLSKTT. Đó chính là lí giải của những trờng phái nổi tiếng nh: phân
tâm, nhân văn, hành vi và hành vi nhận thức.
Tiếp cận văn hoá - xã hội tập trung vào vai trò các yếu tố văn hoá và xã hội trong
các RLSKTT.

25
Mô hình hệ thống tập trung vào các hệ thống xã hội thu hẹp, đó thờng là gia đình.
ở đây rối loạn đợc xem nh là hệ quả của sự tơng tác stress hoặc mang tính rối
loạn sai lệch trong gia đình.
Mô hình sinh tâm xã hội nhằm mục đích tích hợp các yếu tố khác nhau nh trên
vào một mô hình nguyên nhân tổng thể. Tiếp cận này cho rằng yếu tố di truyền hoặc
các yếu tố sinh học khác có thể làm tăng thêm nguy cơ xuất hiện các RLSKTT. Tuy

chỉ gần gũi nhau về mặt gen mà họ còn có chung môi trờng. Ví dụ sinh đôi cùng trứng
đợc đối xử giống nhau nhiều hơn là sinh đôi khác trứng. Sự xuất hiện của bất kỳ bệnh nào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status