Thực trạng nhiễm mangan trong nước sinh hoạt trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang - Pdf 14

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN HỒNG THÚY
THỰC TRẠNG NHIỄM MANGAN TRONG
NƯỚC SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG
TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Thái Nguyên, năm 2013
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN HỒNG THÚY
THỰC TRẠNG NHIỄM MANGAN TRONG
NƯỚC SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG
TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số: 60 44 03 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phan Đình Binh
Thái Nguyên, năm 2013
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ
một học vị nào.
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn

1.2.3. Những ứng dụng chính của Mangan và các hợp chất của mangan. 8
1.2.4. Vai trò của mangan đối với sự sống 8
1.3. Tình hình nghiên cứu về ảnh hưởng của ô nhiễm nước trên thế giới và
Việt Nam 9
1.3.1. Tình hình ô nhiễm trên thế giới 9
1.3.2. Tình hình ô nhiễm ở Việt Nam 11
1.3.3. Ảnh hưởng của nồng độ Mangan đến sức khỏe con người 16
1.3.4. Tác động của ô nhiễm môi trường nước từ Mangan 17
1.3.5. Những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước 19
1.4. Tổng quan hiện trạng môi trường nước tại tỉnh Tuyên Quang 20
1.4.1. Tài nguyên nước 20
1.4.2. Hiện trạng chất lượng môi trường nước 22
1.4.3. Tình hình xả nước thải vào nguồn nước 24
Chương 2 26
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 26
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26
2.2.1. Thời gian nghiên cứu 26
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu 26
2.3. Nội dung nghiên cứu 26
Nội dung 1. Điều kiện tự nhiên-kinh tế xã hội của thành phố Tuyên Quang.
26
Nội dung 2. Hiện trạng khai thác và sử dụng tài nguyên nước của thành
phố Tuyên Quang 26
iii
Nội dung 3. Đánh giá mức độ ô nhiễm mangan trong nước sinh hoạt tại
thành phố Tuyên Quang 26
Nội dung 4. Đề xuất biện pháp quản lý và sử dụng hợp lý nguồn nước

3.4.1. Đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả 69
3.4.2. Đề xuất giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý nguồn nước 70
3.4.3. Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật 70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72
2. Kiến nghị 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
iv
v
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu Tiếng việt
BYT Bộ y tế
BVTV Bảo vệ thực vật
CT-BTNMT Chỉ thị Bộ Tài nguyên môi trường
QCCP Quy chuẩn cho phép
QCVN Quy chuẩn Viêt Nam
QĐ-BTNMT Quyết định Bộ tài nguyên môi trường
QĐ-UBND Quyết định Ủy ban Nhân dân
UBND Ủy ban Nhân dân
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TT-BTNMT Thông tư Bộ tài nguyên môi trường
THCS Trung học cơ sở
TTYTDP Trung tâm Y tế dự phòng
PTTH Phổ thông trung học
WHO Tổ chức y tế thế giới
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 3.1. Nhiệt độ trung bình tại thành phố Tuyên Quang 32
Bảng 3.2. Tổng số giờ nắng trong các tháng tại thành phố Tuyên Quang 32
Bảng 3.3. Diễn biến tổng lượng mưa các tháng trong năm 33
Bảng 3.4. Diễn biến tổng lượng bốc hơi các tháng tỉnh Tuyên Quang 33

hộ gia đình của thành phố Tuyên Quang so với lần 1 68
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Biểu đồ thể hiện tình trạng sử dụng nước giếng tại thành phố Tuyên
Quang 54
Hình 3.2: Biểu đồ thể hiện hiện trạng sử dụng hệ thống xử lý nước giếng tại
các hộ gia đình được lấy mẫu phân tích trên địa bàn thành phố Tuyên Quang
năm 2012 56
Hình 3.3: Biểu đồ thể hiện tổng số mẫu nước tại các khu vực trên địa bàn
thành phố Tuyên Quang 67
ix
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nước là nguồn tài nguyên vô cùng quí
giá, có vai trò quan trọng để duy trì hệ sinh thái. Đối với con người, nước chiếm
60 - 70% trọng lượng cơ thể, nước là thành phần cấu tạo của các tế bào, các loại
dịch trong cơ thể, nước là dung môi hòa tan các chất dinh dưỡng để cơ thể hấp
thu, tham gia quá trình trao đổi chất và là yếu tố quan trọng để các phản ứng sinh
hóa trong cơ thể diễn ra không ngừng. Nước đảm bảo sự hoạt động của các cơ
quan hô hấp, tuần hoàn, tiết niệu, thần kinh, cơ xương khớp [19].
Nước có nhu cầu đặc biệt trong sinh hoạt hàng ngày của con người.
Nước còn góp phần trong nông nghiệp, nuôi trồng thủy, hải sản. Vì vậy nước
là một phần tất yếu của sự sống. Giữ gìn sự tinh khiết của nguồn nước để
phục vụ cuộc sống con người là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng.
Nước sử dụng cho đời sống con người chủ yếu được khai thác từ lòng
đất trong đó có chứa nhiều khoáng chất. Bên cạnh những khoáng chất cần
thiết cũng có những khoáng chất có hại cho sức khỏe con người. Mức độ gây
hại tùy thuộc lượng khoáng chất xâm nhập vào cơ thể.
Một trong những khoáng chất có hại đối với sức khỏe là Mangan,
Mangan rất cần thiết đối với cơ thể con người như duy trì hoạt động của một

đánh giá mức độ ô nhiễm mangan trong nguồn nước và nguy cơ tác động đến
sức khỏe người dân, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài "Thực trạng nhiễm
Mangan trong nước sinh hoạt trên địa bàn thành phố Tuyên Quang tỉnh
Tuyên Quang" để đưa ra những dẫn liệu về tình hình ô nhiễm và sự phân bố
hàm lượng mangan trong hệ thống nước sinh hoạt tại thành phố để từ đó có
biện pháp quản lý và sử dụng đảm bảo an toàn đối với sức khỏe còn người là
hết sức cần thiết.
2
2. Mục tiêu nghiên cứu
a) Mục tiêu tổng quát
- Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của thành phố Tuyên Quang, tỉnh
Tuyên Quang.
- Hiện trạng khai thác và sử dụng tài nguyên nước của thành phố Tuyên
Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Xác định thực trạng ô nhiễm mangan trong hệ thống nước sinh hoạt
trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đề xuất một số giải pháp xử lý tại nhà máy nước, trạm cấp nước tập
trung và tại hộ gia đình.
b) Mục tiêu cụ thể
- Xác định thực trạng ô nhiễm mangan trong hệ thống nước sinh hoạt
trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đề xuất một số giải pháp xử lý tại nhà máy nước, trạm cấp nước tập
trung và tại hộ gia đình.
3. Ý nghĩa của đề tài
a) Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Qua kết quả nghiên cứu phân tích hàm lượng mangan trong hệ thống nước
sinh hoạt sẽ góp phần sáng tỏ về hiện trạng chất lượng nước tại khu vực Thành
phố Tuyên Quang.
- Đề tài là một tư liệu tham khảo phục vụ học tập và nghiên cứu khoa
học sau này.

thành phần tham gia rộng rãi vào các phản ứng hóa sinh, nước là dung môi và
môi trường tàng trữ các điều kiện để thúc đẩy hay kìm hãm các quá trình hóa
sinh. Đối với con người, nước là nguyên liệu chiếm tỷ trọng lớn nhất.[13].
Trong cơ thể người nước chiếm 70 - 75% trọng lượng, hàng ngày mỗi
người cần tối thiểu 60 - 80 lít, tối đa tới 150-200 lít nước hoặc hơn cho sinh
hoạt, riêng nước ăn uống vào cơ thể ít nhất cũng cần từ 1,5 -2 lít mỗi ngày
[6], [13]. Nước rất cần thiết cho mọi hoạt động sống của con người cũng như
các loại sinh vật.
4
Nước còn cần cho các hoạt động khác của con người như sản xuất công
nghiệp, nông nghiệp và hoạt động dịch vụ. Lượng nước dùng cho trồng trọt,
chăn nuôi rất lớn: trung bình 1ha hoa mầu cần 0,12 - 0,29 lít/s; 1 ha trồng lúa
nước cần tới 1,5-7 lít/s; mỗi đầu vật nuôi như ngựa, trâu, bò tiêu tốn 20-80
lít/ngày; lợn: 15-60 lít/ngày; gà, vịt, ngan, ngỗng: 1-1,25 lít/ngày. Nhu cầu
nước cho sản xuất công nghiệp cũng rất lớn: để sản xuất 1 tấn thép hay 1 tấn
giấy phải dùng 44.000 lít nước; để lọc một lít dầu cần 10 lít nước; sản xuất 1
lít bia phải có 15 lít nước sạch…[5]
Nước thiết yếu như vậy, nhưng loài người đang đứng trước nguy cơ
thiếu nước nghiêm trọng. Trên thế giới hiện có 80 quốc gia và 40% dan số
không đủ nước dùng, 1/3 các điểm dân cư phải dùng các nguồn nước bị ô
nhiễm để ăn uống, sinh hoạt.[13]
Ở Việt Nam là một nước đang phát triển, mặc dù được nhà nước đặc biệt
quan tâm nhưng cũng chỉ mới có 46-50% dân cư đô thị và 36-43% dân cư
nông thôn được dùng nước sạch. Nhiều người dân ở nhiều vùng còn phải
dùng các nguồn nước không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh, kéo theo tỷ lệ dân cư
mắc bệnh khá cao: 90% phụ nữ nông thôn mắc bệnh phụ khoa, 95% trẻ em
nông thôn bị nhiễm giun, hàng năm có trên 1 triệu ca tiêu chảy, lị… Nguồn
nước bị ô nhiễm là nguyên nhân quan trọng tạo nên những nguy cơ tiềm tàng
của nhiều bệnh lý ở nhiều địa phương.[19]
1.2. Khái quát chung về Mangan

- Khái niệm môi trường:
Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam năm 2005, môi
trường được định nghĩa như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và
vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất,
sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.[3].
- Khái niệm ô nhiễm môi trường:
Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì: “Ô nhiễm môi
trường là sự đưa vào môi trường các chất thải nguy hại hoặc năng lượng đến
mức ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống sinh vật, sức khoẻ con người hoặc làm
suy thoái chất lượng môi trường”.[3].
Theo khoản 6 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam năm 2005 “Ô
nhiễm môi trường là sự biến đổi của thành phần môi trường không phù hợp
với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”.
- Khái niệm ô nhiễm môi trường nước:
Ô nhiễm môi trường nước là sự có mặt của một chất ngoại lai trong môi
trường nước tự nhiên. Khi vượt quá một ngưỡng nào đó thì chất ngoại lai trở
nên độc hại đối với sinh vật và con người.
6
Theo hiến chương châu âu về nước có định nghĩa như sau: Ô nhiễm môi
trường nước là do tác động của con người gây nên một biến đổi nào đó làm
thay đổi chất lượng nước, chính sự thay đổi này gây nên nguy hiểm cho con
người, công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản với động vật nuôi và các loài động
vật hoang dã.[3].
- Khái niệm tiêu chuẩn môi trường:
Theo khoản 5 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam 2005: “Tiêu chuẩn
môi trường là giới hạn cho phép các thông số về chất lượng môi trường xung
quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền qui định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường”.
1.2.2. Trạng thái tồn tại của Mangan trong các nguồn nước tự nhiên
Mangan thường tồn tại trong nước cùng với sắt nhưng ở với hàm lượng

Ứng dụng lớn nhất của mangan là trong công nghiệp sản xuất sắt, gang,
hợp kim thép , mangan có vai trò quan trọng trong sản xuất sắt thép vì có tác
dụng khử lưu huỳnh, khử oxi và mang những đặc tính của hợp kim, sử dụng
nhiều mangan nhất trong luyện sắt, thép (chiếm khoản 85-90% tổng nhu cầu).
Mangan là thành phần chủ yếu trong việc sản xuất thép không rỉ với chi phí thấp.
[18].
Ứng dụng lớn thứ hai của mangan là sản xuất các hợp kim nhôm, nó còn
được thêm vào dầu hỏa để giảm bớt tiếng nổ lọc xọc cho động cơ. Mangan
đioxit được sử dụng trong pin khô hoặc làm chất xúc tác, mangan được dùng
để tẩy màu thủy tinh (loại bỏ màu xanh lục do sắt tạo ra), hoặc tạo màu tím
cho thủy tinh, mangan ôxít là một trong chất nhuộm màu nâu, dùng để chế tạo
sơn và là thành phần của màu nâu đen tự nhiên. Kali pemanganat là chất ôxi
hóa mạnh dùng làm chất tẩy uế trong hóa học và y khoa.[15]
Các hợp chất của mangan được ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau
như: Điện tử, làm sạch, khử màu,…[18].
1.2.4. Vai trò của mangan đối với sự sống
Mangan là một nguyên tố đóng vai trò thiết yếu cho tất cả các loài.
Trong cơ thể người, mangan là thành phần của nhiều enzym đồng thời góp
phần kích thích hoạt động các enzym khác, tham gia vào một số quá trình
như: tổng hợp axít béo và chlesterol, sản xuất hóoc môn giới tính. Ở động vật
thí nghiệm, thiếu mangan dẫn đến chậm tăng trưởng, bất thường xương, gây
sai sót trong quá trình chuyển hóa cacbohydrat và chất béo. Mangan cũng
đóng vai trò quan trọng trong tổng hợp lignin, chuyển hóa axít thephenolic và
trong quá trình quang hợp ở thực vật.
8
1.3. Tình hình nghiên cứu về ảnh hưởng của ô nhiễm nước trên thế giới
và Việt Nam
1.3.1. Tình hình ô nhiễm trên thế giới
1.3.1.1. Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới
Trong thập niên 60, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với nhịp

về mangan trong nước ăn uống khác nhau.
Tình trạng ô nhiễm mangan trong nguồn nước đang xảy ra tại nhiều quốc
gia trên thế giới, trong đó đáng chú ý nhất là ở Băng-la-đét, Cam-pu-chia và
đồng bằng sông Mê-kông. Có thể nói rằng đối với Băng-la-đét đây thực sự là
một thảm họa. Tầng ngậm nước nông là nguồn cung cấp nước ăn uống chính
cho một lượng lớn dân cư (khoảng 140 triệu người) ở vùng ngoại ô và vùng đô
thị. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại hiện nay là trong một cuộc khảo sát được tiến
hành gần đây đã cho kết quả hơn một nửa số giếng ở Băng-la-đét có nồng độ
vượt quá tiêu chuẩn cho phép về mangan và sắt. Nồng độ mangan trong 3534
mẫu nước ngầm dao động trong khoảng từ < 0,001 mg/L đến 9,98 mg/L. Giá trị
trung bình và trung vị lần lượt là 0,554 mg/L và 0,287 mg/L. 27% số mẫu có
nồng độ nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép của Băngla-đét (0,1 mg/L). 32% số mẫu
có nồng độ mangan trong khoảng 0,1 -0,4 mg/L. 25% số mẫu có nồng độ trong
khoảng 0,4 - 1,0 mg/L. 17% số mẫu có nồng độ mangan > 1,0 mg/L và 10 mẫu
có nồng độ mangan vượt quá 5 mg/L [6].
Vấn đề ô nhiễm nguồn nước hiện nay là một điểm nóng đối với đồng
bằng châu thổ sông Mê-kông rộng lớn (diện tích khoảng 62000km
2
). Asen
trong nguồn nước được dùng là nước uống có nồng độ dao động trong khoảng
0,1-1340 µg/L, với 37% số giếng nghiên cứu có nồng độ asen >10 µg/L, 50%
số giếng có nồng độ mangan vượt quá tiêu chuẩn cho phép của WHO
(0,4mg/L). Do đó, mangan được đánh giá là chất gây ô nhiễm quan trọng thứ
hai trong nguồn nước sau asen ở đồng bằng Mê-kông. Khoảng 2 triệu người
10
dân sinh sống ở đây đang chịu sự ô nhiễm từ những nguồn nước không qua
xử lí. Điều đáng lưu ý là các giếng có nồng độ asen thấp lại có hàm lượng
mangan cao và ngược lại. Vì vậy, nước có thể an toàn về nguyên tố này
nhưng lại không an toàn đối với nguyên tố khác [20].
Nồng độ mangan cao cũng được tìm thấy trong nước ngầm ở một số

đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư.
Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công
nghiệp tập trung là rất lớn.
Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước
bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính
500.000 m
3
/ ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm. Ở thành phố Thái
Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang
thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu
vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước
thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH
4
là 4 mg/l, hàm lượng
chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…[18].
Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt
nhuộm ở tỉnh Bắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m
3
/ ngày
không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực.
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở Hà Nội và thành
phố Hồ Chí Minh. Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ
thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh,
mương). Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần
lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một
lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là những
nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước. Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các
kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng.[6]
Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới
300.000-400.000 m

trung bình biến đổi từ 1.500-3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông, tăng lên
tới 3.800-12.500 MNP/100ml ở các kênh tưới tiêu.[21]
Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật,
các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi
trường nước và sức khỏe của người dân.
Theo thống kê của Bộ Thủy sản, tổng diện tích mặt nước sử dụng cho nuôi
trồng thủy sản trong cả nước là 851.989 ha. Do nuôi trồng thủy sản ồ ạt, thiếu
quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu
cực tới môi trường nước. Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các
loại hóa chất trong nuôi trồng thủy sản, thì các thức ăn dư lắng xuống đáy ao, hồ,
lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển
13
một số loại sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu
hiệu xuất hiện thủy chiều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam.
Đất nước ta từ bắc tới nam là hệ thống sông ngòi dày đặc. Hầu hết hệ
thống sông lớn như sông Hồng, sông Mã, sông Cửu Long đều bắt nguồn và
chảy qua các vùng đất ngoài lãnh thổ Việt Nam. Khoảng hơn 60% nước mặt ở
Việt Nam phụ thuộc nguồn nước chảy từ các nước láng giềng.
Những năm gần đây, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa mạnh mẽ của
các quốc gia này, đặc biệt là Trung Quốc cùng với chất thải công nghiệp không
được kiểm soát đã ảnh hưởng nghiêm trọng nguồn nước mặt ở Việt Nam.
Ngay trên đất nước ta, hàng loạt nhà máy, khu công nghiệp mọc lên, xả
thải ra môi trường nhưng thiếu sự kiểm soát của các cơ quan chức năng. Nhận
thức về tác hại của ô nhiễm môi trường còn rất hạn chế. Đa số các nhà máy
chỉ tập trung đầu tư sản xuất mà không chú trọng đầu tư cho việc chống ô
nhiễm khiến môi trường và nguồn nước mặt không còn đảm bảo an toàn.
Hàng loạt các “làng ung thư” được nhắc đến ở Phú Thọ, Hà Tây, Hà Nam,
Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam có liên quan
đến ô nhiễm nguồn nước.[13]
Hầu hết các sông hồ ở các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status