Tâm Lý học đại cương!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
Bài 1: TÂM LÝ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC
ĐỐI TƯỢNG CỦA TÂM LÝ HỌC:
1. Tâm lý học là gì?
Tâm lý học là khoa học nghiên cứu tâm lý. Khoa học tâm lý ra đời từ năm 1879, chủ yếu
nghiên cứu đời sống tâm hồn của con người.
2. Đối tượng của tâm lý học:
Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học là toàn bộ đời sống tâm lý của con người như: cảm
giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng, trí nhớ, tình cảm, nhu cầu, hứng thú, năng lực, khí
chất, tính cách…
II. BẢN CHẤT HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ NGƯỜI:
1.Tâm lý có bản chất phản ánh: Tâm lý là hình ảnh của từng người về hiện thực
khách quan.
Tất cả các hiện tượng tâm lý, từ những hiện tượng tâm lý đơn giản đến những thuộc tính,
phẩm chất phức tạp của nhân cách con người đều tồn tại ở trong não dưới dạng hình ảnh
này hay hình ảnh khác với mức độ phức tạp khác nhau. Điều kiện đầu tiên để có các hình
ảnh đó là phải có các hiện tượng, sự vật khách quan của thế giới bên ngoài tác động tới
các giác quan và não bộ bình thường của con người.
Tâm lý mang tính chủ quan của từng người. Tâm lý là phản ánh tồn tại khách quan,
nhưng sự phản ánh tâm lý không máy móc, nguyên xi như phản ánh cơ học, mà tâm lý là
tổng hoà các hình ảnh chủ quan ( hình ảnh tâm lý) về tồn tại khách quan.
2. Bản chất xã hội – lịch sử của tâm lý.
Để tồn tại và phát triển, thế hệ trước đã truyền đạt kinh nghiệm xã hội- lịch sử cho thế hệ
sau. Thế hệ sau tiếp thu những kinh nghiệm và sáng tạo nên những giá trị vật chất, tinh
thần mới. Qua đó tâm lý con người được hình thành và phát triển
Con người tiếp thu nền văn minh nhân loại và biến thành tâm lý của bản thân. Tâm lý
mỗi người có cái chung của loài người, của dân tộc, của vùng, của địa phương nhưng
cũng có cái riêng của mỗi con người cụ thể.
Như vậy, mỗi người có một đời sống tâm lý riêng, một tâm hồn riêng. Tâm lý mỗi người
là kinh nghiệm xã hội- lịch sử chuyển thành kinh nghiệm của bản thân.
3. Tâm lý có bản chất phản xạ.
hiện tượng tâm lý chua được ý thức.
3. Người ta còn phân biệt hiện tượng tâm lý thành: hiện tượng tâm lý sống động và hiện
tượng tâm lý tiềm tàng.
4. Cũng có thể phân biệt hiện tượng tâm lý của cá nhân với hiện tượng tâm lý xã hội.
Bài 2: Ý THỨC VÀ VÔ THỨC
I. Ý THỨC:
1.Khái niệm:
Ý thức là một hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ riêng con người mới có. Đó là khả
năng con người hiểu được các tri thức (hiểu biết) mà người đó đã tiếp thu được.
Có thể ví ý thức như “ cặp mắt thứ hai” soi vào kết quả (các hình ảnh tâm lý) do “cặp mắt
thứ nhất“ (cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, cảm xúc…) mang lại. Với ý nghĩa đó có thể
nói: Ý thức là tồn tại được nhận thức.
2. Đặc điểm của ý thức:
Các hiện tượng tâm lý có ý thức của một người đều được người đó nhận thức. Nghĩa là,
con người biết rõ mình đang làm gì, nghĩ gì, hiểu rõ hành vi của bản thân đúng hay sai,
tốt hay xấu.
Ý thức được biểu hiện bằng ngôn ngữ. Con người dùng ngôn ngữ để nhận xét, đánh giá
phân tích những hiện tượng tâm lý của mình.
Các hiện tượng tâm lý có ý thức của một người thường bao hàm thái độ ít nhiều rõ rệt của
người ấy.
Ở mức độ cao, ý thức thường được kèm theo sự dự kiến trước, tính có chủ định… và nhờ
đó mà dẫn tới hành động.
3. Sự hình thành và phát triển ý thức:
Khác với con vật, con người không chỉ thích ứng một cách thụ động với môi trường
không chỉ lấy những gì có sẵn trong thiên nhiên mà con người chủ yếu tác động làm biến
đổi thiên nhiên để tạo ra những sản phẩm thoả mãn nhu cầu của mình. Sở dĩ con người
làm được như vậy là nhờ lao động. Lao động là một quá trình đòi hỏi con người phải thấy
trước kết quả lao động, có chương trình lao động, có phương pháp lao động, biết phân
tích đánh giá kết quả lao động. Làm như vậy, chính là ý thức. Như vậy ý thức ra đời trong
lao động.
Toàn bộ đời sống tâm lý trẻ từ lọt lòng đến khoảng 15 – 18 tháng tuổi do vô thức điều
khiển. Một số biểu hiện vô thức trong đời sống tâm lý của trẻ là:
+ Trẻ chưa nhận ra được sơ đồ thân thể của mình, chưa nhận biết mình đau ở đâu…
+ Chưa biết chủ động hướng âm thanh ngôn ngữ về phía người thân quen.
+ Chưa biết nhận ra mẹ, ra người thân.
+ Chưa sử dụng được âm thanh, lời nói để diễn đạt được nhu cầu sinh lý của mình.
+ Trẻ làm theo, nói theo, bắt chước hành vi của người lớn một cách không chủ định…
III. TỰ Ý THỨC:
1.Khái niệm:
Tự ý thức là sự phản ánh bản thân mình theo một mẫu mực nào đó và cố gắng hoạt động
theo đúng khuôn mẫu đó.
Tự ý thức là mức độ phát triển cao của ý thức. Tự ý thức bắt đầu hình thành từ tuổi lên
ba. Thông thường tự ý thức biểu hiện ở các mặt sau:
+ Cá nhân tự nhận thức về bản thân mình từ bên ngoài đến nội dung tâm hồn, đến vị thế
và các quan hệ xã hội.
+ Có thái độ đối với bản thân, tự nhận xét, đánh giá.
+ Tự điều khiển, tự điều chỉnh hành vi theo mục đích tự giác.
+ Có khả năng tự giáo dục, tự hoàn thiện
2. Vai trò của tự ý thức:
Tự ý thức tạo điều kiện cho con người tự điều khiển, điều chỉnh thái độ, hành vi, hành
động của họ.
Giúp con người xác định mục đích phù hợp, đánh giá mục đích hành động trong mối
tương quan với những đặc điểm của bản thân, lựa chọn các phương tiện, biện pháp hành
động phù hợp với khả năng, nhu cầu của bản thân.
Tự ý thức là điều kiện để con người trở thành chủ thể hành động độc lập, trở thành chủ
thể của xã hội.
Bài 3: HOẠT ĐỘNG, GIAO TIẾP VÀ NHÂN CÁCH.
I. HOẠT ĐỘNG:
1.Khái niệm về hoạt động:
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người bằng cách tác động vào đối tượng để tạo
Hoạt động thực tiễn
Hoạt động lý luận
c. Còn có cách phân loại khác, chia hoạt động thành bốn loại:
Hoạt động biến đổi
Hoạt động nhận thức
Hoạt động định hướng giá trị
Hoạt động giao lưu
II. GIAO TIẾP:
1. Khái niệm giao tiếp:
Giao tiếp là quá trình tiếp xúc tâm lý giữa con người và con người nhằm mục đích trao
đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, hoàn thiện
nhân cách bản thân.
Giao tiếp là phương thức tồn tại của con người, là phương tiện cơ bản để hình thành nhân
cách trẻ.
2. Chức năng của giao tiếp:
Chức năng thông báo, định hướng: Qua quá trình giao tiếp, con người thông báo cho
nhau thông tin, tư tưởng, tình cảm… giúp con người định hướng hoạt động của mình.
Chức năng điều khiển, điều chỉnh: Qua tiếp xúc, trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm,
thái độ… con người điều khiển, điều chỉnh hành vi, thái độ, hành động của mình cho phù
hợp yêu cầu hoạt động.
Chức năng liên kết (nối mạch, tiếp xúc ): Nhờ có giao tiếp con người hợp đồng được
cùng nhau để làm việc cùng nhau.
Chức năng đồng nhất: Qua giao tiếp, cá nhân sẽ hoà nhập vào trong các nhóm xã hội.
3. Các loại giao tiếp:
Có nhiều cách phân loại giao tiếp:
a. Theo phương tiện giao tiếp, có thể có ba loại giao tiếp sau:
Giao tiếp vật chất: giao tiếp thông qua hành động với vật thể.
Giao tiếp bằng tín hiệu: là loại giao tiếp bằng điệu bộ, cử chỉ, nét mặt…
Giao tiếp bằng ngôn ngữ:đây là hình thức giao tiếp đặc trưng của con người, xác lập và
vận hành mối quan hệ người – người trong xã hội.
mang tính chất xã hội.
b. Hành vi kỹ xảo:
Kỹ xảo là các thao tác hành động, cơ thể tự tạo nên bằng cách luyện tập, lặp đi lặp lại
nhiều lần đến mức thuần thục.
Cơ sở sinh lý của kỹ xảo là các phản xạ có điều kiện. Các kỹ xảo được hình thành ở tất cả
các động vật. Tuy nhiên ở người kỹ xảo chứa đựng nhiều yếu tố trí tuệ hơn và quá trình
luyện tập để hình thành kỹ xảo ở người có sự tham gia của ý chí và ý thức với mức độ
khác nhau.
c. Hành vi trí tuệ:
Hành vi trí tuệ là hành vi đặc trưng cho các động vật bậc cao. Hành vi trí tuệ là kiểu hành
vi mềm dẻo và hợp lý nhất trong những điều kiện sống luôn biến đổi.
IV. NHÂN CÁCH:
1. Khái niệm về nhân cách:
Nhân cách là tổng hoà những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý được nảy sinh hình
thành và phát triển trong các mối quan hệ xã hội. Mỗi con người có nhân cách là thành
viên của các mối quan hệ xã hội, chịu sự chi phối của các mối quan hệ đó.
2. Cấu trúc tâm lý của nhân cách:
Có nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc tâm lý của nhân cách. Ở đây chúng ta xem xét
cấu trúc tâm lý của nhân cách theo quan điểm coi nhân cách gồm có các thành tố sau:
a. Tính cách và khí chất:
Tính cách:
Tính cách là thái độ của con người, thể hiện mối quan hệ của người đó đối với thế giới
xung quanh, biểu lộ ra bên ngoài bằng những phương thức hành vi quen thuộc.
Tính cách của con người là một chỉnh thể không thể chia cắt, ta có thể xem xét tính cách
qua những biểu hiện đặc trưng từng mặt được gọi là những nét tính cách như:
Những nét tính cách biểu hiện quan hệ của con người đối với xã hội, đối với nhóm và
những người xung quanh. Ví dụ: Tinh thần giúp đỡ bạn bè, lòng nhân ái, tính cởi mở …
Những nét tính cách biểu hiện quan hệ của con người đối với lao động. Ví dụ: Yêu lao
động, tính kỷ luật, tinh thần tiết kiệm…
Những nét tính cách biểu hiện quan hệ của con người đối với chính mình. Ví dụ: Tính
Bốn kiểu khí chất trên không có kiểu nào là tốt và xấu, mỗi kiểu đều có mặt tích cực và
tiêu cực. Dù trẻ thuộc bất kỳ kiểu khí chất nào, ta đều có thể giáo dục, hình thành ở trẻ
những nét tính cách tích cực, những phẩm chất tốt của nhân cách.
b. Xu hướng và năng lực:
Xu hướng:
Xu hướng xác định mục đích mà cá nhân hướng tới, xác định động cơ tương ứng với hoạt
động của con người.
Các mặt biểu hiện của xu hướng:
+ Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý biểu thị mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với
hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà cá nhân cần thoả mãn để tồn tại và phát triển.
+ Hứng thú: Là thái độ đặc biệt của cá nhân với một đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa đối
với cuộc sống, vừa mang lại một khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động.
+ Lý tưởng: Là một mục tiêu cao đẹp được phản ánh vào đầu óc con người dưới hình
thức một hình ảnh mẫu mực và hoàn chỉnh có tác dụng lôi cuốn mạnh mẽ toàn bộ cuộc
sống của cá nhân trong thời gian tương đối lâu dài vào hoạt động nhằm vươn tới mục tiêu
cao đẹp đó.
+ Thế giới quan: Là hệ thống quan điểm của mỗi người về thế giới.
Niềm tin: Là cái kết tinh, đọng lại thành chân lý vững bền, không thay đổi trong nhận
thức và tình cảm của mỗi người.
Năng lực:
Năng lực là những đặc điểm tâm lý cá nhân đáp ứng được đòi hỏi của hoạt động nhất
định nào đó và là điều kiện để thực hiện có kết quả hoạt động đó.
Tiền đề tự nhiên của sự phát triển năng lực gọi là tư chất.
Sự xuất hiện sớm (lúc tuổi còn nhỏ ) của năng lực ở mức độ cao gọi là năng khiếu.
3. Các yếu tố chi phối sự hình thành và phát triển nhân cách:
a. Yếu tố bẩm sinh di truyền:
Các yếu tố bẩm sinh di truyền như đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh, cấu tạo của não,
cấu tạo và hoạt động của các giác quan…Những yếu tố này sinh ra đã có do được bố mẹ
truyền lại hoặc tự nảy sinh do biến dị (bẩm sinh ).
Các yếu tố bẩm sinh, di truyền đóng vai trò tiền đề tự nhiên trong sự phát triển nhân cách.
kích thích như :
Độ mới lạ của kích thích.
Cường độ kích thích.
Độ hấp dẫn của kích thích.
Loại kích thích này thường nhẹ nhàng, ít căng thẳng nhưng kém bền vững, khó duy trì
lâu.
2. Chú ý có chủ định :
Là loại chú ý có mục đích định trước và phải có sự nỗ lực của bản thân. Do đã xác định
mục đích của hoạt động nên chủ thể vẫn tập trung vào đối tượng hoạt động, vẫn tiến hành
hoạt động không phụ thuộc vào các đặc điểm của kích thích.
3. Chú ý sau chủ định :
Là chú ý lúc đầu do mục đích định trước, về sao do hứng thú với hoạt động mà chú ý có
chủ định đã phát triển đến mức chủ thể không cần nỗ lực ý chí vẫn tập trung vào đối
tượng hoạt động.
Loại chú ý này giúp cho hoạt động của con người giảm được căng thẳng thần kinh, giảm
được tiêu hao năng lượng. Nó bộc lộ ở trạng thái say sưa công việc của con người.
III. CÁC THUỘC TÍNH CỦA CHÚ Ý:
1. Sức tập trung của chú ý : Là khả năng chú ý đến một phạm vi đối tượng tương đối
hẹp, cần thiết cho hoạt động lúc đó và không để ý đến mọi chuyện khác. Số lượng các đối
tượng mà chú ý hướng tới gọi là khối lượng chú ý.
2. Cường độ của chú ý : Là sự tiêu hao năng lượng thần kinh để thực hiện hoạt động.
3. Sự bền vững của chú ý : Là khả năng duy trì lâu dài chú ý vào một hoặc một số đối
tượng. Ngược với tính bền vững của chú ý là sự phân tán chú ý. Tính bền vững của chú ý
có liên quan mật thiết với những điều kiện khách quan của hoạt động và những đặc điểm
của mỗi cá nhân.
4.Sự di chuyển chú ý : Là khả năng chuyển chú ý từ đối tượng này sang đối tượng khác.
5. Sự phân phối chú ý : Là khả năng chú ý đồng thời tới một số đối tượng với mức độ rõ
ràng như nhau.
Bài 5: NGÔN NGỮ
I. KHÁI NIỆM NGÔN NGỮ:
1. Ngôn ngữ bên ngoài:
Ngôn ngữ bên ngoài là ngôn ngữ chủ yếu hướng vào người khác, nhằm mục đích giao
tiếp. Ngôn ngữ bên ngoài bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.
Ngôn ngữ nói: là thứ ngôn ngữ có trước. Ngôn ngữ nói biểu hiện bằng âm thanh và được
tiếp thu bằng cơ quan thính giác. Có hai loại ngôn ngữ nói: ngôn ngữ đối thoại và ngôn
ngữ độc thoại.
Ngôn ngữ đối thoại nhằm trao đổi thông tin giữa hai hay một số người với nhau. Ngôn
ngữ độc thoại là loại ngôn ngữ trong đó một người nói và những người khác nghe.
Ngôn ngữ viết: ngôn ngữ viết ra đời muộn hơn ngôn ngữ nói. Ngôn ngữ viết là ngôn ngữ
được biểu hiện bằng ký hiệu, tín hiệu, chữ viết.
2. Ngôn ngữ bên trong:
Đây là một dạng đặc biệt của ngôn ngữ, nó hướng vào bản thân chủ thể. Ngôn ngữ bên
trong là vỏ từ ngữ của tư duy, của ý thức, giúp con người tự điều khiển, tự điều chỉnh
mình. Ngôn ngữ bên trong có thể biểu hiện qua ngôn ngữ thầm không phát ra âm thanh
hoặc ngôn ngữ bên trong thực sự dành cho bản thân.
BÀI 6: NHẬN THỨC CẢM TÍNH
Nhận thức cảm tính là mức độ nhận thức đầu tiên bao gồm cảm giác và tri giác.
I. ĐỊNH NGHĨA CẢM GIÁC VÀ TRI GIÁC:
1. Cảm giác:
Cảm giác là quá trình nhận thức phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật,
hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào giác quan.
2. Tri giác:
Tri giác là quá trình nhận thức phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính của sự vật hiện
tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan.
II. ĐẶC ĐIỂM CỦA CẢM GIÁC VÀ TRI GIÁC:
1. Đặc điểm của cảm giác:
Là quá trình tâm lý, cảm giác có mở đầu, diễn biến, kết thúc một cách rõ ràng.
Cảm giác chỉ phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật hiện tượng thông qua
hoạt động của từng giác quan riêng lẻ.
Cảm giác xảy ra khi sự ,vật hiện tượng trực tiếp tác động lên giác quan.
Tri giác giúp con người định hướng nhanh chóng và chính xác hơn, giúp con người điều
chỉnh một cách hợp lý hoạt động của mình trong thế giới, giúp con người phản ánh thế
giới có lựa chọn và có tính ý nghĩa.
Trong giáo dục trẻ tuổi mầm non, cảm giác và tri giác có vai trò quan trọng. Trẻ em ở lứa
tuổi này nhận thức thế giới chủ yếu thông qua cảm giác và tri giác. Ở lứa tuổi này nhận
thức cảm tính chiếm ưu thế. Những tài liệu do nhận thức cảm tính cung cấp được xem
như là một trong những cơ sở của nguyên tắc trực quan trong giáo dục trẻ mầm non.
V. TÍNH NHẠY CẢM VÀ NĂNG LỰC QUAN SÁT:
Tính nhạy cảm là năng lực cảm giác nhạy bén, tinh vi, chính xác của con người. Tính
nhạy cảm của con người không như nhau.
Năng lực cảm giác chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố, trước hết là các đặc điểm cấu tạo và
chức năng của các giác quan, kiểu loại thần kinh… Song, năng lực cảm giác của con
người không hoàn toàn bẩm sinh mà được hình thành phát và triển trong hoạt động, phụ
thuộc vào việc rèn luyện và giáo dục. Năng lực cảm giác chịu sự chi phối bởi nhiều phẩm
chất tâm lý của nhân cách: nhu cầu, hứng thú, khả năng chú ý, xu hướng, vốn kinh
nghiệm… năng lực cảm giác là nhân tố chủ yếu của năng lực quan sát.
Quan sát là loại tri giác có chủ định, diễn ra tương đối độc lập và lâu dài, nhằm phản ánh
đầy đủ, rõ rệt các sự vật hiện tượng và những biến đổi của chúng. Năng lực quan sát của
mỗi người một khác. Đó là khả năng tri giác nhanh chóng và chính xác. Năng lực quan
sát được hình thành trong cuộc sống, do hoạt động, do luyện tập tích cực và có phương
pháp.
Bài 7: TRÍ NHỚ
I. KHÁI NIỆM TRÍ NHỚ:
1. Trí nhớ là gì?
Trí nhớ là quá trình tâm lý phản ánh vốn kinh nghiệm của con người dưới hình thức biểu
tượng bằng cách ghi nhớ, giữ gìn, nhận lại và nhớ lại những điều mà con người đã trải
qua.
2.Vai trò của trí nhớ:
Trí nhớ có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống và hoạt động của con người. Không
có trí nhớ thì không có kinh nghiệm, không có kinh nghiệm thì không thể có bất cứ một
trước đây trong não, khi sự vật hiện tượng không còn ở trước mắt.
Nhận lại và nhớ lại đều có thể không chủ định và có chủ định.
4. Quên:
Quên là biểu hiện của sự không nhận lại hay nhớ lại được hoặc là nhận lại hay nhớ lại sai.
Trong một số trường hợp sự quên là cần thiết. Về một mặt nào đó quên là hiện tượng hợp
lý và có ích.
III. CÁC LOẠI TRÍ NHỚ:
Có nhiều căn cứ để phân loại trí nhớ.
Căn cứ vào nội dung phản ánh trong trí nhớ, người ta chia trí nhớ thành: Trí nhớ vận
động, trí nhớ cảm xúc, trí nhớ hình ảnh và trí nhớ từ ngữ lôgíc.
Căn cứ vào tính chất mục đích của hoạt động trí nhớ được chia thành: Trí nhớ không chủ
định và trí nhớ có chủ định.
Căn cứ vào thời gian củng cố và giữ gìn tài liệu mà phân biệt trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ
dài hạn.
Căn cứ vào sự ưu thế, chủ đạo của giác quan nào trong trí nhớ mà người ta có thể chia ra
thành trí nhớ bằng mắt, trí nhớ bằng tai, trí nhớ bằng tay…
Tất cả các loại trí nhớ có quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau tạo nên một thể thống nhất
trong kho tàng trí nhớ của con người.
BÀI 8: NHẬN THỨC LÝ TÍNH
Muốn cải tạo thế giới, con người phải đạt tới mức độ nhận thức cao hơn nhận thức cảm
tính đó là nhận thức lý tính (bao gồm tư duy và tưởng tượng)
I. TƯ DUY:
1. Khái niệm:
Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh một cách gián tiếp, khái quát những thuộc tính
bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng mà
trước đó ta chưa biết.
2. Đặc điểm của tư duy:
A. Tính có vấn đề của tư duy:
Khi gặp những hoàn cảnh, những tình huống mà vốn hiểu biết cũ, phương pháp hành
động đã biết của con người không đủ để giải quyết, lúc đó con người rơi vào “ hoàn cảnh
trong đó tư duy trực quan – hành động, tư duy trực quan – hình ảnh là hai loại tư duy có
trước, làm cơ sở cho tư duy trừu tượng.
4. Các thao tác tư duy:
Quá trình tư duy được diễn ra bằng cách chủ thể tiến hành các thao tác nhất định. Có các
thao tác sau:
Phân tích và tổng hợp:
Phân tích là dùng hoạt động trí óc tách đối tượng tư duy thành những thuộc tính, những
bộ phận, những mối liên hệ, quan hệ để nhận thức đối tượng sâu sắc hơn.
Tổng hợp là dùng trí óc đưa những thuộc tính, những thành phần đã được phân tích thành
một chỉnh thể, giúp ta nhận thức đối tượng bao quát hơn.
Phân tích và tổng hợp quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau.
So sánh:
So sánh là dùng trí óc để xác định sự giống nhau, khác nhau giữa các sự vật hiện tượng
( hoặc giữa các thuộc tính, các quan hệ, các bộ phận của một sự vật, hiện tượng )
Trừu tượng hoá và khái quát hoá:
Trừu tượng hoá là thao tác trí tuệ, trong đó chủ thể dùng trí óc gạt bỏ những thuộc tính,
những bộ phận, những quan hệ…không cần thiết về một phương diện nào đó và chỉ giữ
lại những yếu tố cần thiết để tư duy.
Khái quát hoá là thao tác trí tuệ trong đó chủ thể tư duy dùng hoạt động trí óc để bao quát
nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại…trên cơ sở đó chúng có một số
thuộc tính chung và bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật.
Hai thao tác tư duy này có quan hệ mật thiết với nhau, chi phối và bổ sung cho nhau.
II. TƯỞNG TƯỢNG:
1. Khái niệm chung về tưởng tượng:
Tưởng tượng là quá trình nhận thức phản ánh những cái chưa có trong kinh nghiệm bằng
cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những hình ảnh ( biểu tượng ) đã có.
Về nội dung phản ánh: Tưởng tượng phản ánh những cái mới chưa có trong kinh nghiệm
của cá nhân hoặc của xã hội, do chủ thể xây dựng nên trên cơ sở những biểu tượng đã
biết.
Về phương thức phản ánh: Tưởng tượng tạo ra những biểu tượng mới trên cơ sở những
vật khác nhau.
Liên hợp có nhiều mặt giống với chắp ghép, nhưng khi tham gia vào việc tạo ra một hình
ảnh mới thì các yếu tố ban đầu bị cải tổ đi.
Điển hình hoá là phương pháp tạo ra những hình ảnh mới trên cơ sở tổng hợp sáng tạo
của các thuộc tính điển hình là cái đại diện cho hàng loạt đối tượng.
Loại suy là cách tạo ra những hình ảnh mới trên cơ sở mô phỏng, bắt chước những chi
tiết, những bộ phận, những sự vật có thực.
Trên thực tế, trong quá trình tưởng tượng, các cách sáng tạo nói trên kết hợp với nhau, bổ
sung cho nhau làm cho phương thức hoạt động tưởng tượng vô cùng phong phú và độc
đáo.
BÀI 9: TÌNH CẢM VÀ Ý CHÍ
I. TÌNH CẢM:
1. Khái niệm:
Tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với những sự vật, hiện
tượng cò liên quan đến nhu cầu và động cơ của họ.
Tình cảm được hình thành và biểu hiện qua xúc cảm. Xúc cảm và tình cảm đều biểu thị
thái độ của con người đối với thế giới, nhưng là hai mức độ khác nhau, mặc dù chúng gắn
bó chặt chẽ với nhau trong sự rung cảm của con người.
Xúc cảm
Có cả ở người và động vật
Có trước
Là quá trình tâm lý
Ở trạng thái hiện thực
Có tính nhất thời, biến đổi phụ
Thuộc vào tình huống.
Tình cảm
Chỉ có ở con người
Có sau
Là thuộc tính tâm lý
Vừa hiện thực vừa tiềm tàng
Tình cảm thẩm mỹ: là thái độ rung cảm của con người đối với cái đẹp trong thiên nhiên,
xã hội, trong nghệ thuật, văn học.
Tình cảm hành động thực tiễn: tình cảm này thể hiện thái độ của con người đối với hành
động liên quan đến sự thoả mãn hay không thoả mãn nhu cầu thực hiện hành động đó.
Tình cảm mang tính chất thế giới quan: là mức độ cao nhất của tình cảm con người. Loại
tình cảm này thường được diễn đạt bằng các từ “tinh thần”, “ chủ nghĩa”…
Các loại tình cảm trên có mối quan hệ qua lại, bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau tạo
nên sự phong phú của đời sống tình cảm con người.
3. Các quy luật của đời sống tình cảm:
Cũng như mọi hiện tượng tâm lý của con người, tình cảm diễn ra theo quy luật của nó.
a. Quy luật thích ứng: Trong lĩnh vực tình cảm, nếu một tình cảm nào đó cứ lặp đi lặp
lại nhiều lần một cách đơn điệu thì một lúc nào đó có hiện tượng thích ứng mang tính
chất “ chai dạn “ của tình cảm.
b. Quy luật cảm ứng: Trong quá trình hình thành và biểu hiện tình cảm, sự xuất hiện
hoặc suy yếu đi của một tình cảm này có thể làm tăng hoặc giảm một tình cảm khác xảy
ra đồng thời hoặc nối tiếp với nó.
c. Quy luật pha trộn: Trong đời sống tình cảm của một con người cụ thể, nhiều khi hai
tình cảm đối cực nhau có thể xảy ra cùng một lúc nhưng không loại trừ nhau, chúng “pha
trộn” vào nhau.
d. Quy luật di chuyển: Tình cảm có thể di chuyển từ đối tượng này sang đối tượng khác
có liên quan với đối tượng gây ra tình cảm trước đó.
e. Quy luật lây lan: Trong mối quan hệ tình cảm có hiện tượng vui “lây“, buồn “lây”
hoặc “đồng cảm “, “cảm thông” giữa người này với người khác.
g. Quy luật về sự hình thành tình cảm: Xúc cảm là cơ sở của tình cảm. Tình cảm được
hình thành do quá trình tổng hợp hoá, động hình hoá và khái quát hoá những xúc cảm
cùng loại.
II. Ý CHÍ:
1. Khái niệm ý chí:
a. Ý chí là gì?
Ý chí là mặt năng động của ý thức, biểu hiện ở năng lực thực hiện những hành động có
của ý thức mà vẫn được thực hiện có kết quả.
Có hai loại hành động tự động hoá: Kỹ xảo và thói quen.
Kỹ xảo: Là loại hành động có ý thức được tự động hoá nhờ luyện tập.
Thói quen: Là loại hành động tự động hoá đã trở thành nhu cầu của con người.
b. Quy luật hình thành kỹ xảo:
Quá trình hình thành kỹ xảo diễn ra theo các quy luật sau đây:
+Quy luật tiến bộ không đồng đều. Nghĩa là:
Có loại kỹ xảo khi mới luyện tập thì tiến bộ rất nhanh, sau đó chậm lại.
Có những kỹ xảo khi bắt đầu luyện tập sự tiến bộ chậm, nhưng đến một giai đoạn nhất
định nó lại tăng nhanh.
Có những trường hợp khi bắt đầu luyện tập thì sự tiến bộ tạm thời lùi lại, sau đó tăng dần.
+Quy luật “ đỉnh” của phương pháp luyện tập:
Mỗi phương pháp luyện tập kỹ xảo chỉ đem lại một kết quả cao nhất đối với nó, gọi là “
đỉnh “ của phương pháp đó.
+Quy luật về sự tác động qua lại giữa kỹ xảo cũ và kỹ xảo mới: Sự tác động này diễn ra
theo hai chiều hướng:
Kỹ xảo cũ ảnh hưởng tốt, có lợi cho việc hình thành kỹ xảo mới. Đó là sự di chuyển kỹ
xảo (còn gọi là “cộng” kỹ xảo).
Kỹ xảo cũ ảnh hưởng xấu, gây trở ngại, khó khăn cho sự hình thành kỹ xảo mới. Đó là
hiện tượng giao thoa kỹ xảo.
+Quy luật dập tắt kỹ xảo:
Một kỹ xảo đã được hình thành nếu không luyện tập củng cố và sử dụng thường xuyên có
thể bị suy yếu và cuối cùng bị mất đi, đó là sự dập tắt kỹ xảo.