Xuất khẩu bạt nhựa tại Nhà máy sản xuất bao bì bạt nhựa Tú Phương giai đoạn 2007-2014 và định hướng đến 2016 - Pdf 14

Chuyên đề thực tập GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hóa toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ thì xuất khẩu đóng vai trò quan
trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.Việt Nam là nước đang trên đà phát
triển.Vì vậy, xuất khẩu góp phần thực hiện mục tiêu hiện mục tiêu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
Sau 7 năm là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và đang tiếp tục
đàm phán tiến tới ký kết Hiệp định thương mại tự do với các nước lớn, môi trường
thương mại đang và sẽ có nhiều cơ hội cùng những thách thức mới đối với xuất khẩu.
Trong những năm qua, bạt nhựa đang đứng đầu sản phẩm nhựa về tăng trưởng kim
ngạch xuất khẩu.
Tuy nhiên, xuất khẩu của Nhà máy sản xuất bao bì bạt nhựa Tú Phương bị ngưng
trệ như là do thị trường thiếu ổn định, năng lực cạnh tranh chưa cao, còn thiếu các kĩ
năng đàm phán cần thiết, trình độ chuyên môn thấp và thiếu tính chuyên nghiệp của
đội ngũ bên cạnh đó hàng xuất khẩu của nhà máy vẫn còn manh mún, chất lượng chưa
cao, giá cả còn cao so với các hàng hóa cùng loại, vì vậy tăng trưởng xuất khẩu chưa
bền vững.Mặc dù nhiều cơ hội mở ra thuận lợi cho việc xuất khẩu bạt nhựa trong
những năm tới về thị trường, giảm bớt các rào cản thương mại…
Từ vấn đề trên, việc đề xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu bạt nhựa tại
Nhà máy sản xuất bao bì bạt nhựa Tú Phương định hướng đến năm 2016 là thực sự
cần thiết. Do đó, đề tài: "Xuất khẩu bạt nhựa tại nhà Nhà máy sản xuất bao bì bạt
nhựa Tú Phương giai đoạn 2007-2014 và định hướng đến 2016" được chọn để
nghiên cứu.
1
SV: Đinh Anh Đức Lớp: Kinh tế Quốc tế 52E
1
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích và đánh giá tình hình xuất khẩu bạt nhựa của Nhà máy sản
xuất bao bì bạt nhựa Tú Phương giai đoạn 2007-2014,chuyên đề đề xuất giải pháp

- Giám đốc: Bùi Tố Minh
- Website:
- Email:
- Điện thoại : 04.38723566/67
- Địa chỉ trụ sở kinh doanh: xã Phú Thị - huyện Gia Lâm - Hà Nội - Việt Nam
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển
Tiền thân Công ty cổ phần Hóa chất Nhựa trước đây là Công ty Thương mại và
Dịch vụ (TRASERCO) thuộc Bộ Thương mại (nay thuộc Bộ Công Thương) chuyên
kinh doanh các mặt hàng hạt nhựa. Căn cứ vào giấy phép kinh doanh số: 055619 được
cấp ngày 04 tháng 10 năm 1999 và mã số thuế: 0100942205 Công ty cổ phần Hóa chất
Nhựa được ra đời.
Công ty cổ phần Hóa chất Nhựa bắt đầu kinh doanh từ ngày 04 tháng 10 năm
1999.
Công ty cổ phần Hóa chất Nhựa là một trong những doanh nghiệp hàng đầu của
Việt Nam trong sản xuất bạt nhựa, bao bì, vải địa kỹ thuật Với dây chuyền hiện đại
nhập khẩu hoàn toàn từ nước ngoài và công nghệ sản xuất tiên tiến các sản phẩm của
công ty có chỗ đứng vững chắc và được tín nhiệm của khách hàng trong thị trường cả
nước.
3
SV: Đinh Anh Đức Lớp: Kinh tế Quốc tế 52E
3
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng
Năm 2002: Xây dựng Nhà máy sản xuất bao bì bạt nhựa Tú Phương là đơn vị
trực thuộc của Công ty cổ phần Hóa chất Nhựa với dây chuyền hiện đại mới nhất hoàn
toàn được nhập khẩu từ Cộng hòa Áo có công suất 1000 tấn/tháng.
Tháng 8 - 2002, Nhà máy sản xuất bao bì bạt nhựa Tú Phương bắt đầu đi vào
sản xuất 1 dây chuyền sản xuất vải Tarpaulin, vải bao đạt công suất trên 300
tấn/tháng.
Năm 2003, Nhà máy bắt đầu tư lắp thêm 01 dây chuyền mới nâng tổng công
suất lên 600 tấn/ tháng.

nâng cao chất lượng sản phẩm, nghiên cứu khách hàng đưa ra sản phẩm phù hợp với
thị hiếu của khách hàng.
- Quản lý, sử dụng và tạo nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh dịch vụ của Nhà
máy có hiệu quả. Đảm bảo đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh dịch vụ, thực hiện
nghiêm túc nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước.
- Tuân thủ các chính sách, chế độ quản lý tài chính, quản lý xuất nhập khẩu và
cách quy định về giao dịch đối ngoại.
- Thực hiện mọi cam kết trong hợp đồng kinh tế ký kết với các tổ chức trong
nước và ngoài nước khác đúng với thời gian, tiến độ và hợp lý.
- Thực hiện tốt chính sách cán bộ, chế độ quản lý tài sản, lao động tiền lương,
sử dụng phân công lao động hợp lý, luôn chú trọng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công
nhân viên của Nhà máy để không ngừng nâng cao trình độ văn hóa, nghiệp vụ chuyên
môn.
- Làm tròn công tác bảo hộ an toàn lao động, trật tự về an ninh xã hội, tuyên
truyền bảo vệ môi trường, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc phòng.
1.1.3.2. Cơ cấu tổ chức
Bộ máy cơ cấu tổ chức Nhà máy sản xuất bao bì bạt nhựa Tú Phương khá đơn
giản được mô tả qua sơ đồ 1.1:
5
SV: Đinh Anh Đức Lớp: Kinh tế Quốc tế 52E
5
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu bộ máy tổ chức của Nhà máy
(Nguồn: Nhà máy)
 Giám đốc: là người đứng đầu Nhà máy, Giám đốc Nhà máy có chức năng chính và
nhiệm vụ như sau:
- Xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển doanh nghiệp cũng như các kế
hoạch ngắn hạn và dài hạn. Hàng năm tổ chức thực hiện kế hoạch, các phương án kinh
doanh.
- Tổ chứcđiều hành mọi hoạt động của Nhà máy và chịu trách nhiệm về toàn bộ

- Thiết lập, giao dịch trực tiếp với hệ thống khách hàng, hệ thống nhà phân
phối, thực hiện hoạt động bán hàng tói các khách hàng nhằm mang lại doanh thu cho
Doanh nghiệp.
- Phối hợp với các bộ phận liên quan như Kế toán, Sản xuất, nhằm mang đến
các dịch vụ đầy đủ nhất cho khách hàng.
 Phòng Kế toán có chức năng:
- Quản lý, tổ chức và hướng dẫn thực hiện các nghiệp vụ kế toán trong toàn
công ty.
- Giám sát các hoạt động tài chính diễn ra trong các đơn vị trạm, cửa hàng,
phòng kinh doanh.
- Xây dựng các hình thức bán buôn, đại lý mà Giám đốc đã phê duyệt.
 Phòng Hành chính có chức năng:
- Xây dựng, theo dõi việc thực hiện kế hoạch tài chính.
7
SV: Đinh Anh Đức Lớp: Kinh tế Quốc tế 52E
7
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng
- Tham mưu về công tác tổ chức cán bộ. Bên cạnh đó còn đảm bảo kinh phí,
quản lý tài sản, cung ứng vật tư và cơ sở vật chất cho mọi hoạt động của Nhà máy.
 Phó giám đốc Kỹ thuật là:
- Tham mưu, giúp việc cho Giám đốc Nhà máy trong việc tổ chức, triển khai,
điều hành và quản lý toàn bộ các hoạt động về kỹ thuật của Nhà máy.
- Chủ trì, điều hành và quản lý hoạt động sản xuất, nghiệm thu và nhận bàn giao
các loại máy móc thiết bị và linh phụ kiện của Nhà máy nhập về.
- Tham mưu cho Giám đốc Nhà máy về tổ chức hệ thống chất lượng, kỹ thuật,
nghiên cứu sản phẩm/dịch vụ và kiểm tra chất lượng sản phẩm/dịch vụ của Nhà máy.
- Phó giám đốc kỹ thuật chịu trách nhiệm điều hành phòng ban cấp dưới hoàn
thành tốt công việc:
o Phòng kỹ thuật
o Quản đốc

2. Các khoản giảm trừ
155 131 1.598 23.737 25.638
3. Doanh thu thuÇn (1 - 2)
567.381 1.361.490 1.565.404 2.763.869 2.874.362
4.Gi¸ vèn hµng b¸n
552.290 1.323.037 1.522.381 2.652.744 2.678.584
5. Lîi nhuËn gép
15.089 38.450 43.023 111.125 195.778
6. Chi phÝ b¸n hµng
12.312 27.736 27.003 72.740 74.230
7. Chi phÝ QL doanh nghiÖp
2.549 6.650 10.429 11.906 12.710
8. Lîi nhuËn thuÇn tõ ho¹t
®éng kinh doanh (5 - 6 -7)
228 4.065 5.590 26.477 108.838
9. Lîi nhuËn thuÇn tõ ho¹t
®éng tµi chÝnh (Dthu- CphÝ)
- 477 - 2.729 - 5.318 - 14.018 - 15.305
10. Lîi nhuËn bÊt thêng
(Dthu - Chi phÝ bÊt thêng)
2.050 1.002 2.178 - 9.185 1.102
11. Tæng lîi nhuËn tríc
thuÕ(8 + 9 + 10)
1.801 2.339 2.450 3.274 94.635
12. ThuÕ thu nhËp DN
576 748 515 915 30.283
13. Lîi nhuËn sau thuÕ
1.224 787 1231 1.707 64.352
(Nguồn: Nhà máy)
Qua bảng 1.1 cho thấy tổng doanh thu của Nhà máy tăng dần qua các năm.

Trung
Hiện nay, có rất nhiều Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Nhựa, tuy nhiên
trong lĩnh vực ống nhựa xây dựng Bình Minh là Doanh nghiệp đứng thứ hai tại Việt
Nam.Công ty sản xuất ống nhựa xây dựng lớn nhất và cũng là đối thủ cạnh tranh lớn
nhất của Bình Minh là công ty cổ phần nhựa Thiếu Niên Tiền Phong.
Công ty cổ phần nhựa Bình Minh là doanh nghiệp có sức ảnh hưởng và uy tính
rất lớn trong công nghiệp Nhựa Việt Nam. Nguồn tài chính của công ty rất hùng mạnh
và dồi dào, có tốc độ tăng trưởng tốt, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cao.
Công ty cổ phần nhựa Bình Minh đạt được sự tín nhiệm cao của khách hàng trong và
ngoài nước với hệ thống phân phối có 260 cửa hàng trên cả nước.
Để luôn duy trì vị trí dẫn đầu trong ngành nhựa, Công ty dựa vào ba chân kiềng
là chiến lược và phát triển sản phẩm mới để tận dụng mọi cơ hội kinh doanh; xây dựng
hệ thống kinh doanh bền vững và quản lý hiệu quả nhằm tiết kiệm chi phí.
• Nghiên cứu thị trường xuất khẩu
Khi thị trường có nhiều người mua, nhiều người bán và nhiều hàng hóa tương
tự về chất lượng giá cả tất yếu nảy sinh cạnh tranh, cạnh tranh về chất lượng sản phẩm,
phương thức giao dịch mua bán và giữa những người mua. Cạnh tranh là cơ chế điều
chỉnh trật tự thị trường, yếu tố quan trọng kích thích tích cực tính đa dạng và nâng cao
12
SV: Đinh Anh Đức Lớp: Kinh tế Quốc tế 52E
12
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng
chất lượng sản phẩm phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng, thúc đẩy phát triển thị
trường.
Từ khi thành lập và kinh doanh Công ty cổ phần nhựa Bình Minh chú trọng đến
nghiên cứu và phát triển thị trường.Phát triển thị trường là mục tiêu, phương thức quan
trọng để tồn tại và chiến thắng trong cạnh tranh. Những năm qua Công ty tích cực mở
rộng và phát triển thị trường để tăng nhanh doanh số bán, duy trì mối quan hệ thường
xuyên với khách hàng, đối tác nước ngoài. Đồng thời củng cố vững mạnh uy tín của
Công ty, nâng cao hiệu quả kinh doanh.Công ty nắm vững được các yếu tố của thị

sản phẩm của công ty và công ty có cơ hội trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, thông
qua đó nắm bắt được thị hiếu, sở thích người tiêu dùng. Công ty cũng thường xuyên
gửi các catalogue sản phẩm hình ảnh ba chiều đến các nhà cung cấp và khách hàng
nước ngoài.
Bảng 1.2: Một số hoạt động xúc tiến bán hàng của Công ty Nhựa Bình
Minh
Các hoạt động xúc tiến
bán hàng
Đơn vị 2009 2010 2011 2012 2013
Tham gia các hội chợ triển
lãm
Lần 15 18 24 29 33
Tổ chức hội nghị khách
hàng
Lần 1 2 4 3 4
(Nguồn: Công ty cổ phần nhựa Bình Minh)
• Khai thác hỗ trợ của chính sách nhà nước
Việc hỗ trợ của Nhà nước đối với các hoạt động thương mại, tìm kiếm và mở
rộng thị trường tiêu thụ là rất cần thiết và đối với Công ty cổ phần Nhựa Bình Minh.
Công ty nhờ tới sự hỗ trợ từ phía Nhà nước để tiết kiệm chi phí thuê gian hàng giới
thiệu sản phẩm tại các hội chợ triển lãm tổ chức ở trong nước, các chi phí liên quan
đến trưng bày sản phẩm, một phần chi phí thuê gian hàng hội chợ triển lãm tổ chức ở
nước ngoài, chi phí về thông tin thị trường do các cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xúc
tiến thương mại cung cấp. Chính sách thuế cũng có tác động tích cực đến xuất khẩu
của công ty khi công ty cắt giảm thuế xuất khẩu để khuyến khích trao đổi buôn bán
giữa công ty với các đối tác nước ngoài.
14
SV: Đinh Anh Đức Lớp: Kinh tế Quốc tế 52E
14
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng

15
SV: Đinh Anh Đức Lớp: Kinh tế Quốc tế 52E
15
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng
sản xuất các sản phẩm từ chất dẻo. Ngày 17 tháng 08 năm 2004, Bộ trưởng Bộ Công
nghiệp đã ban hành Quyết định số 80/2004/QĐ-BCN về việc chuyển Công ty Nhựa
Thiếu niên Tiền phong thành Công ty Cổ phần Nhựa Thiếu Niên Tiền Phong.
Với ba Nhà máy sản xuất ở Hải Phòng, Bình Dương (Việt Nam) và Vientiane
(Lào), năng lực sản xuất của Nhựa Tiền Phong hàng năm lên tới 75 ngàn tấn sản phẩm
các loại. Hiện nay tại phía Bắc Việt Nam, Công ty đang xây dựng nhà xưởng và
chuyển đổi dần địa điểm sản xuất từ số 2 An Đà, TP.Hải Phòng sang phường Hưng
Đạo, quận Dương Kinh, TP. Hải Phòng trên một diện tích sản xuất mới rộng 13,6 ha,
gấp hơn 4 lần diện tích sản xuất cũ. Việc chuyển đổi địa điểm sản xuất của nhựa Tiền
Phong nhằm đáp ứng cho chiến lược phát triển cao về quy mô và sản lượng sản xuất,
tăng sức mạnh cạnh tranh trên thị trường sản phẩm tại Việt Nam và các nước trong
khu vực.
Nhựa Tiền Phong đã xây dựng cho mình được một hệ thống phân phối đổi mới
và hiện đại, mang lại những tiện ích cao nhất cho người tiêu dùng. Công ty Liên doanh
Nhựa Tiền phong - SMP tại Cộng hòa dân chủ Nhân Dân Lào được đầu tư với chiến
lược cung cấp sản phẩm cho hầu hết các dự án cấp thoát nước của nước bạn Lào mà
chủ yếu là các dự án do World Bank và ADB tài trợ. Nhựa Tiền phong - SMP là Nhà
máy sản xuất ống nhựa lớn nhất của CHDCND Lào.
Phương châm sản xuất của Nhựa Tiền phong là đặt vấn đề chất lượng lên hàng
đầu, đảm bảo quyền lợi của khách hàng khi sử dụng sản phẩm của Công ty. Chính vì
vậy mà Nhựa Tiền phong chỉ đầu tư những dây chuyền sản xuất và máy móc thiết bị
của các hãng hàng đầu châu Âu và Nhật Bản. Hệ thống thiết bị luôn đảm bảo độ chính
xác cao, đảm bảo sự đồng nhất về vật liệu xây dựng và cho năng suất cao trong quá
trình sản xuất sản phẩm.
Để nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh cải tiến sản phẩm, đa
dạng hóa mặt hàng kinh doanh Công ty đã đa dạng hóa các mặt hàng kinh doanh để

một số quốc gia như: Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Campuchia, Myanmar
1.2.2. Bài học đối với Nhà máy sản xuất bao bì bạt nhựa Tú Phương
Từ kinh nghiệm và bài học của hai công ty nhựa lớn trên có thể rút ra được một
số bài học kinh nghiệm cho Nhà máy:
Một là, Nhà máy cần chú trọng xây dựng các bộ máy dây chuyền tái chế phế
liệu để làm nguyên liệu đầu vào vì nguồn phế liệu trong nước cực kì phong phú.Như
vậy giảm thiểu đáng kể việc phải nhập nguyên phụ liệu từ nước ngoài từ đó giảm chi
17
SV: Đinh Anh Đức Lớp: Kinh tế Quốc tế 52E
17
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng
phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm và từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh so
với các đối thủ.
Hai là, Nhà máy cần phải đa dạng hóa các mặt hàng, mẫu mã, chủng loại nhựa
nhằm phù hợp đáp ứng được sự đòi hỏi của khách hàng trong nước và đối tác nước
ngoài.
Ba là, mở rộng mạng lưới phân phối tại nước ngoài để nhằm quảng bá thương
hiệu cho Nhà máy.Việc này có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của Nhà
máy.
Bốn là, luôn luôn đề cao việc đầu tư, xây lắp mới thêm các dự án đầu tư, máy
móc thiết bị kĩ thuật để ngày càng nâng cao năng suất chất lượng cao đáp ứng được
các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe của nước ngoài.
Năm là,tối thiểu hóa chi phí thay vào đó tập trung vào nâng cao năng suất để tối
đa hóa lợi nhuận của Nhà máy.Tập trung đầu tư vào những khâu thật cần thiết để triệt
để tiết kiệm chi phí. Bên cạnh đó cần phải phát động phong trào thi đua ở tất cả các
khâu nhằm để cán bộ - công nhân viên gắn bó với nhau cùng chung sức phát triển Nhà
máy
Sáu là, cần liên kết chặt chẽ với các tổ chức thương mại, hợp tác quốc tế của
các quốc gia để được hỗ trợ thông tin thị trường, các quy định, kiểm định về chất
lượng sản phẩm, thủ tục hành chính để xâm nhập dễ dàng vào các thị trường tiềm

(%)
Tháng 5/2013 so
với tháng 4/2013
(%)
Các sản phẩm dùng trong vận
chuyển, đóng gói
4.301.414 22,9 4,3
Bạt nhựa 3.810.513 20,3 35,1
Túi nhựa 1.834.028 9,8 35,1
Sản phẩm nhựa gia dụng 1.444.212 7,7 -31,1
Tấm, phiến, màng nhựa 1.065.451 5,7 -25,5
Sản phẩm nhựa công nghiệp 183.961 1,0 -14,8
Đồ vật dùng trong xây lắp 273.809 1,5 36,4
Các loại ống và phụ kiện 362.500 1,9 28,4
Thiết bị vệ sinh 409.315 2,2 18,3
Vỏ mỹ phẩm 222.113 1,2 -56,9
19
SV: Đinh Anh Đức Lớp: Kinh tế Quốc tế 52E
19
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng
Linh kiện đồ đạc trong nhà, xe cộ 134.561 0,7 -7,8
(Nguồn:Tổng cục hải quan)
Đầu năm 2014 sản phẩm bạt nhựa giảm 4,24% về kim ngạch so với cuối năm
2013, nhưng tăng 4,3% so với các tháng năm trước, đạt hơn 130 triệu USD. Nhật Bản
là thị trường tiềm năng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất của sản phẩm bạt nhựa Việt
Nam, đạt hơn 40 triệu USD trong tháng đầu năm tăng 1,55% so với tháng cuối năm
2013. Theo Hiệp hội Nhựa Việt Nam, Nhật Bản là thị trường nhiều tiềm năng, vì vậy
các doanh nghiệp cần có chiến lược đầu tư, nghiên cứu sản phẩm mới, nâng cao chất
lượng để khai thác cơ hội thị trường Nhật. Xếp sau Nhật Bản là Hoa Kỳ với 20,8 triệu
USD, chiếm 12,58%; Hà Lan chiếm 10,3 triệu USD chiếm 6,23%

nhựa Việt Nam. Các nhà nhập khẩu đánh giá cao về chất lượng sản phẩm bạt nhựa
Việt Nam nên đơn hàng đã tăng trưởng cao trong năm 2013. Tỷ lệ tăng trưởng của các
thị trường trong khu vực EU đạt bình quân từ 3-6,1%.
1.3.3. Nguyên liệu sản xuất
Hiện nay, sản xuất bạt nhựa của các doanh nghiệp ở Việt Nam vẫn phụ thuộc
rất nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ bên ngoài. Việc giá nguyên liệu nhựa
tăng liên tục theo giá dầu thế giới, sự bấp bênh của một số nguồn hàng cũng như chi
phí đầu vào: xăng, điện, nước, nguyên vật liệu, ngày càng tăng đang là gánh nặng tạo
sức ép không nhỏ đến các doanh nghiệp ở Việt Nam nhất là đối với các doanh nghiệp
vừa và nhỏ bởi việc tiếp cận vốn ngân hàng của các doanh nghiệp này không được
thuận lợi như các doanh nghiệp lớn Sự lệ thuộc nguyên liệu đầu vào nhập khẩu luôn
là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp sản xuất bạt nhựa. Hiện mỗi năm cần 1,5
triệu tấn nguyên phụ liệu, trong đó sản xuất nội địa mới đáp ứng khoảng 30.000 tấn.
Chính vì vậy mà các doanh nghiệp vẫn chưa thể nhanh chóng chiếm lĩnh tốt thị trường
bởi giá trong nước cao hơn giá xuất khẩu.
Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt, nhiều doanh nghiệp đang xem việc sử
dụng nhựa tái chế đóng vai trò như nguồn cung cấp nguyên, nhiên liệu giá rẻ trong
việc hạ giá thành sản phẩm. Ở Việt Nam, chỉ tính mức tận dụng từ 35-50% nguyên
liệu nhựa tái sinh sẽ góp phần tiết kiệm hơn 600 triệu USD mỗi năm cho doanh
nghiệp, đồng thời cũng tăng được 25% kim ngạch xuất khẩu của ngành.
Trong thời gian tới nếu giải được bài toán nguyên liệu đầu vào, mẫu mã sản
phẩm cũng như đáp ứng những đơn hàng lớn, sản phẩm bạt nhựa Việt Nam hoàn toàn
có khả năng xuất khẩu với quy mô lớn do nhu cầu của thế giới về mặt hàng này rất
cao, với mức bình quân nhập khẩu trên 7%/năm.
21
SV: Đinh Anh Đức Lớp: Kinh tế Quốc tế 52E
21
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU BẠT NHỰA CỦA NHÀ

được nhập khẩu từ Cộng hòa Áo nên mặt hàng sản phẩm bạt nhựa của Nhà máy ngày
càng phong phú về kiểu dáng, mẫu mã, tăng về số lượng, chất lượng.
Cơ cấu mặt hàng xuát khẩu của Nhà máy từ năm 2007 đến tháng 3/2014 cho
thấy mặc dù mặt hàng xuất khẩu tăng dần và cơ cấu cân đối hơn nhưng tỷ trọng các
mặt hàng xuất khẩu vẫn còn mất cân đối. Sản phẩm bạt Tarpaulin Xanh cam chiếm tới
50% trong khi sản phẩm bạt Tarpaulin Xanh-Đen chỉ chiếm có 2% (chiếm một tỷ
trọng quá nhỏ so với các mặt hàng bạt nhựa khác). Nhưng chính các sản phẩm không
phải là mặt hàng xuất khẩu chủ đạo cũng góp phần đa dạng hóa các sản phẩm của Nhà
máy và đem lại nguồn thu ngoại tệ không nhỏ hàng năm. Điều này chứng tỏ khả năng
xuất khẩu của Nhà máy về đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu nhằm nâng cao uy tín,
thương hiệu của Nhà máy.
2.1.2. Theo thị trường xuất khẩu và đối tác
Mặt hàng sản phẩm bạt nhựa phụ thuộc vào thị hiếu của người tiêu dùng, khi
vận chuyển đi quá xa cước phí vận tải chiếm một tỷ lệ lớn trong giá thành sản phẩm,
mà đa số sản phẩm của Nhà máy lại có giá trị thương mại không cao nên kinh doanh
chỉ có hiệu quả khi xuất khẩu một lượng hàng lớn. Điều này ảnh hưởng đến các thị
trường và bạn hàng xuất khẩu sản phẩm bạt nhựa của Nhà máy.
Trong những năm qua, Nhà máy tích cực tìm kiếm bạn hàng ở các thị trường
khác nhau trong khu vực và thế giới.Nhà máy đã tích cực tìm kiếm đối tác không chỉ
trên thị trường mà còn trên những thị trường mới với nhiều hình thức khác nhau.
Năm 2009, Nhà máy mở rộng thị trường sang nhiều nước khác nhau với
phương châm đa dạng hóa thị trường, song vẫn cần xây dựng thị trường trọng điểm và
23
SV: Đinh Anh Đức Lớp: Kinh tế Quốc tế 52E
23
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng
bạn hàng chủ yếu. Để đánh giá thị trường xuất khẩu của Nhà máy có thể thông qua
biểu đồ 2.2
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Nhà máygiai đoạn 2009-2013
(Nguồn: Phòng kế toán)

khẩu sang để thanh toán nợ với các nước này từ trước.
 Thị trường Nga và Đông Âu
Đây là thị trường mà Nhà máy chỉ thực hiện xuất khẩu một số lô hàng chiếm
khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu, dựa vào các đối tác trung gian chủ yếu để
thăm dò thị trường và giới thiệu các sản phẩm. Thị trường ở đây tiềm năng tuy lớn
nhưng cũng có không ít khó khăn và trở ngại. Trong đó, khó khăn lớn nhất là không có
đầu mối giao dịch thương mại tập trung, ổn định tại thị trường này. Mặt khác, đây là
thị trường mở nên việc thâm nhập thị trường cũng gặp phải hàng hóa của các quốc gia
khác có lợi thế tương tự Việt Nam về mẫu mã, giá cả… Bên cạnh đó thị trường này
cũng ẩn chứa nhiều rủi ro bởi vì các đối tác ở đây còn ít sử dụng phương thức thanh
toán bằng thư tín dụng L/C.
 Thị trường ASEAN
Đây là thị trường có quan hệ gần gũi và lâu năm, có vị trí địa lý gần với Việt
Nam, do đó hàng hóa xuất khẩu sang thị trường này có nhiều thuận lợi như chi phí vận
chuyển thấp, ít rủi ro. Việt Nam gia nhập ASEAN vào ngày 28/7/1995 tạo điều kiện
thuận lợi cho Nhà máy trong mối quan hệ với bạn hàng và các cơ quan chính quyền
của các nước khu vực này.
Đối với khu vực này Nhà máy đặc biệt coi trọng thị trường các nước Đông
Dương vì đây là các thị trường có các đặc tính tiêu dùng tương đồng với thị trường
Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu của Nhà máy sang các nước ASEAN chiếm tới 20%
tổng kim ngạch xuất khẩu.
2.1.3. Theo kim ngạch xuất khẩu
Chính phủ và Bộ Công Thương khuyến khích xuất khẩu để giúp cho doanh
nghiệp đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ hiện đại, sản xuất ra hàng hóa có chát
lượng cao giá cả hợp lý nhằm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên
25
SV: Đinh Anh Đức Lớp: Kinh tế Quốc tế 52E
25

Trích đoạn Hoàn thiện quy trỡnh xuất khẩu Đổi mới, hiện đại húa hệ thống mỏy múc thiết bị sản xuất bạt nhựa Đẩy mạnh cụng tỏc xỳc tiến thương mạ Kiến nghị về phớa Chớnh phủ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status