Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Hoàng Phượng Vỹ
ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN RỪNG TẠI TỈNH CAO BẰNG
BẰNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Trần Thị Thu Hà
THÁI NGUYÊN - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BIỂU iv
CHƢƠNG III: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
29
3.1 Mục tiêu 29
3.2 Nội dung 29
3.3 Phƣơng pháp nghiên cứu 30
3.3.1 Phƣơng pháp xây dựng mẫu ảnh và giải đoán ảnh 31
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ii
3.3.1.1 Sử dụng ảnh 31
3.3.1.2 Xây dựng mẫu ảnh 31
3.3.1.3 Giải đoán ảnh 31
3.3.2 Phƣơng pháp kiểm tra ngoại nghiệp 38
3.3.3 Phƣơng pháp xây dựng bản đồ thành quả 40
3.3.4 Phƣơng pháp xây dựng cơ sở dữ liệu 46
CHƢƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
4.1 Đánh giá diện tích các loại rừng, loại đất tỉnh Cao Bằng năm 2009 49
4.1.1 Thống kê diện tích các loại rừng, loại đất toàn tỉnh 49
4.1.2 Thống kê diện tích loại rừng, loại đất theo từng huyện 51
4.1.3 Thống kê diện tích loại rừng theo chức năng 52
4.2 Đánh giá đặc điểm các loại rừng, đất rừng tỉnh Cao Bằng năm 2009 54
4.2.1 Đất có rừng 54
4.2.1.1 Rừng tự nhiên 54
4.2.1.2 Rừng trồng 56
4.2.2 Đất chƣa có rừng 56
4.3 Đánh giá biến động rừng giai đoạn 2005-2009 58
4.3.1 Biến động về diện tích 58
Bộ NN&PTNT
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
FAO
Tổ chức Lƣơng nông Liên hợp quốc.
(Food and Agriculture Organization)
GIS
Hệ thông tin địa l ý
GPS
Hệ thống định vị toàn cầu
Ha
Hecta
M
3
Mét khối
D
Đƣờng kính
r
Bán kính
H
Chiều cao
UBND
Uỷ ban nhân dân
UNEP
Chƣơng trình Môi trƣờng Liên hợp quốc.
(United Nations Environment Programme)
VĐTQHR
Viện điều tra quy hoạch rừng
52
Biểu 4.4 Biến động diện tích các loại rừng giai đoạn 2005 – 2009
58
Biểu 4.5 Biến động diện tích rừng tự nhiên theo các huyện, thị giai
đoạn 2005 – 2009
60
Biểu 4.6 Biến động diện tích rừng trồng theo huyện, thị giai đoạn 2005
– 2009
62
Biểu 4.7 Biến động độ che phủ rừng theo huyện, thị giai đoạn 2005-
2009
64
Biểu 4.8 Diện tích rừng bị cháy giai đoạn 2005-2009
69
Biểu 4.9 Diện tích rừng bị phá giai đoạn 2005-2009
70
Biểu 4.10 Sản lƣợng gỗ khai thác giai đoạn 2005-2009
71
63
Biểu đồ 4.7: Biến động độ che phủ rừng tỉnh Cao Bằng giai đọan 2005-
2009
65 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ
Tên bản đồ
Trang
Bản đồ 4.1: Bản đồ hiện trạng rừng và sử dụng đất tỉnh Cao Bằng năm 2009
Bản đồ 4.15: Bản đồ hiện trạng rừng và sử dụng đất Xã Bảo Toàn huyện Bảo
Lạc tỉnh Cao Bằng năm 2009
76
Bản đồ 4.16: Bản đồ hiện trạng rừng và sử dụng đất Xã Cô Ba huyện Bảo Lạc
tỉnh Cao Bằng năm 2009
76 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7 LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chƣơng trình đào tạo sau đại học - Cao học (Khoá 16 – Lâm
học) Trƣờng Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, đƣợc sự đồng ý của Nhà
trƣờng, tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp “Đánh giá diễn biến rừng tại tỉnh Cao
Bằng bằng ứng dụng công nghệ thông tin”.
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn, cùng với sự nỗ lực và cố
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thế giới chúng ta đang sống không ngừng thay đổi. Bảo vệ môi trƣờng và giữ
gìn những nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày nay đang trở thành vấn đề quan trọng
hơn bao giờ hết. Đây cũng chính là lý do tại sao công nghệ viễn thám đã và đang
đƣợc sử dụng để quản lý một cách có hiệu quả hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện
có.
Trong những thập kỷ gần đầy, công nghệ viễn thám đã hỗ trợ con ngƣời có thể
quản lý một cách có hiệu quả hơn, chi tiết và cụ thể hơn những nguồn tài nguyên
thiên nhiên mà con ngƣời đang sở hữu. Từ việc quản lý bền vững hệ thống rừng đến
các hoạt động tìm kiếm thăm dò khai thác mỏ Dựa vào hệ thống thống tin địa lý
(GIS) đã làm cho mọi hoạt động quản lý trở nên dễ dàng hơn, giúp những nhà quản lý
tài nguyên thiên nhiên trong tất cả các công đoạn từ thu thập, lƣu trữ, xử lý phân tích
và ứng dụng những khối dữ liệu không gian lớn. Các lĩnh vực mà công nghệ GIS đã
có những ảnh hƣởng mạnh mẽ phải kể đến là quản lý môi trƣờng, quản lý rừng, quy
hoạch và phát triển nông nghiệp, điều tra và khai thác mỏ. Mỗi ngày, công nghệ GIS
lại hỗ trợ đắc lực hơn cho con ngƣời trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp nhƣ
bảo tồn động vật hoang dã, quản lý năng suất nông nghiệp, kiểm soát chất lƣợng
nguồn nƣớc và không khí, dịch bệnh và sự di chuyển cũng nhƣ phát triển của các
thảm hoạ tiềm tàng.
Ngày nay, nhu cầu về bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng ngày càng trở nên
cấp thiết và không chỉ trên phạm vi một quốc gia mà đã trở thành vấn đề đang đƣợc
chú trọng trên mỗi châu lục và toàn cầu. Để làm tốt công việc này, công tác điều tra -
theo dõi và đánh giá biến động rừng là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu. Mặc dù hàng năm đều có các báo cáo về hiện trạng và tình hình biến động rừng,
nhƣng các báo cáo này chủ yếu dựa trên việc tính toán số liệu diện tích và đo vẽ,
thành lập bản đồ rừng bằng phƣơng pháp truyền thống, đó là một công việc phức tạp,
mất nhiều công sức và đòi hỏi nhiều thời gian. Hơn nữa, khi sử dụng các tài liệu
thống kê và các tƣ liệu bản đồ không phải bao giờ cũng có thể khai thác đƣợc những
thông tin hiện thời nhất vì trạng thái rừng luôn luôn biến động. Sử dụng ảnh viễn thám
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Trên thế giới
Mặc dầu, việc ứng dụng công nghệ viễn thám để giám sát tài nguyên rừng
đƣợc áp dụng vào đầu thế kỷ 20 song hệ thống bay chụp thụ động và phụ thuộc hoàn
toàn vào ánh sáng mặt trời, điều kiện thời tiết nên chất lƣợng ảnh và khả năng ứng
dụng ảnh viễn thám có phần hạn chế. Trong thời kỳ này ảnh viễn thám chủ yếu đƣợc
ứng dụng vào quản lý các nguồn rừng trên phạm vi rộng lớn.
Trong vài thập niên trở lại đây, các nhà khoa học đã sử dụng công nghệ viễn
thám kết hợp với công nghệ GIS cho nhiều mục đích của các ngành nghề khác nhau
rất phổ biến trên toàn thế giới. Trong lĩnh vực Lâm nghiệp ngày nay, công việc quản
lý tài nguyên rừng đang là một thách thức lớn, nhƣng với GIS các nhà quản lý có thể
thực hiện nhiệm vụ này dễ dàng hơn. Nhận thấy khả năng ứng dụng rộng rãi của công
nghệ viễn thám, công nghệ GIS trong công tác theo dõi, đánh giá diễn biến tài nguyên
rừng và việc ứng dụng những công nghệ này để xây dựng bản đồ hiện trạng lâm
nghiệp là rất hiệu quả. Hệ thông tin địa lý ra đời dựa trên cơ sở công nghệ thông tin
gắn liền với việc phát triển các phần mềm tiện ích, tích hợp đƣợc những yêu cầu và
nhiệm vụ cần giải quyết trong đời sống xã hội - đặc biệt là quản lý tài nguyên rừng
[23], [24]. Hiện nay ở các nƣớc công nghiệp phát triển nhƣ Anh, Pháp, Mỹ, Đức,
Canada, Nhật Bản và một số quốc gia phát triển khác ở Châu Á. Đã có nhiều nghiên
cứu về ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS trong quản lý, bảo vệ rừng. Các ví dụ
dƣới đây sẽ minh hoạ cho nhận định này:
Phá rừng: Bức tranh toàn cảnh về môi trƣờng trên thế giới đã có sự thay đổi
lớn, một trong những nguyên nhân quan trọng đó là tình trạng phá rừng đang ngày
nghệ viễn thám và GIS. Kết quả cho thấy, độ che phủ rừng biến động là do tổng hợp
các yếu tố (tự nhiên, kinh tế - xã hội) gây nên.
Ứng dụng viễn thám và GIS vào điều tra, đánh giá, theo dõi diễn biến tài
nguyên rừng của F.A.O theo chu kỳ 10 năm.
Ở Nhật Bản công nghệ GIS và ảnh vệ tinh đã đƣợc ứng dụng để xây dựng bản
đồ địa hình và bản đồ lớp phủ rừng. Để làm cơ sở cho việc theo dõi và đánh giá sự
phục hồi sinh thái của Sirin Kawala Ierd, K.Fujiwara – trƣờng tổng hợp Tokyo Nhật
Bản [27].
Kết quả của các công trình này đã góp phần bảo vệ, phát triển môi trƣờng bền
vững gắn với phát triển kinh tế - xã hội ở các khu vực và trên toàn cầu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12
1.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Phạm vi cả nước
Việc tiếp cận công nghệ viễn thám và GIS của Việt Nam chậm hơn so với
nhiều nƣớc trong khu vực. Tuy nhiên nhờ sự giúp đỡ về mặt kỹ thuật cũng nhƣ tài
chính của một số tổ chức quốc tế, đặc biệt là tổ chức FAO thì GIS đƣợc ứng dụng ở
Việt Nam ngày càng mạnh mẽ và nở rộ vào những thập niên cuối của thế kỷ 20. Dự
án V.I.E-76-014 lần đầu tiên đã xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất và các trạng
thái rừng trên cơ sở sử dụng ảnh viễn thám. Đây là thời điểm quan trọng đánh dấu
việc ứng dụng công nghệ GIS vào hoạt động lâm nghiệp nói chung và điều tra quy
hoạch rừng nói riêng ở Việt Nam. Từ đó đến nay công nghệ GIS đã đƣợc ứng dụng
rộng rãi hơn và trở thành công cụ không thể thay thế trong lĩnh vực đánh giá, theo dõi
tài nguyên rừng.
Công tác điều tra, đánh giá và theo dõi diễn biến rừng toàn quốc do VĐTQHR
đảm nhiệm và thực hiện từ năm 1990 đến nay. Với tên gọi “Chƣơng trình điều tra,
- Báo cáo lâm học (rừng ngập mặn, rừng trên núi đá vôi)
- Báo cáo thuyết minh bản đồ sinh thái rừng đƣợc xây dựng trên cơ sở giải
đoán ảnh vệ tinh Landsat TM+, bản đồ tỷ lệ 1/250.000 cho vùng và bản đồ tỷ lệ
1/1.000.000 cho toàn quốc.
- Xây dựng bản đồ lập địa cấp II, tỷ lệ 1/100.000 cho 40 tỉnh có diện tích rừng
lớn.
- Các chuyên đề điều tra, đánh giá diễn biến tài nguyên động vật rừng đã góp
phần phát hiện ra những loài động vật quý hiếm và mới nhƣ Sao la, Mang lớn
- Điều tra đặc điểm kinh tế xã hội và diễn biến diện tích rừng của 50 xã trải dài
trên phạm vi toàn quốc [18].
1.2.1.2 Giai đoạn 1996-2000
VĐTQHR đã sử dụng hệ thống ảnh vệ tinh Spot 1 để giải đoán xây dựng bản
đồ hiện trạng tài nguyên rừng tỷ lệ 1/100.000 cho 40 tỉnh có diện tích rừng lớn, bản
đồ hiện trạng rừng tỷ lệ 1/250.000 cho 6 vùng và bản đồ 1/1.000.000 cho toàn quốc.
Trên cơ sở kết quả thử nghiệm của giai đoạn 1990-1995, VĐTQHR đã điều tra bổ
xung hệ thống ô sơ cấp, với tổng số là 3621 ô theo hệ thống, trên cơ sở hệ thống đã
đƣợc thiết kế ở giai đoạn 1990-1995, bằng cách tăng dầy số lƣợng ô với khoảng cách
5,6 x 5,6 km một ô. Để nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm sinh thái học của rừng,
chƣơng trình đã xây dựng, điều tra thu thập thông tin từ hệ thống ô định vị nghiên cứu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14
sinh thái ở 73 ô đƣợc chọn lựa từ hệ thống ô sơ cấp đại diện cho các trạng thái rừng
khác nhau.
Để phục vụ cho chƣơng trình 5 triệu ha rừng và theo dõi đánh giá diễn biến tài
nguyên rừng, VĐTQHR đã xây dựng các báo cáo chuyên đề gồm:
- Báo cáo đặc điểm lâm học các kiểu rừng (Rừng trên núi đá vôi, rừng tre, nứa,
vụ một cách đồng bộ, có hệ thống cho các công trình quy hoạch rừng và sử dụng đất
rừng trên phạm vi toàn quốc. Việc biên tập thành công bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000
(theo hệ quy chiếu VN-2000) đã đánh dấu bƣớc phát triển mới của ngành Lâm nghiệp
Việt Nam trong việc ứng dụng có hiệu quả công nghệ GIS đối với lĩnh vực Lâm
nghiệp.
Chƣơng trình tiếp tục hoàn thiện về phƣơng pháp, hệ thống điều tra rừng liên
tục ổn định với 4.200 ô định vị sơ cấp và 100 ô định vị nghiên cứu sinh thái rừng.
Trên cơ sở hệ thống các ô định vị điều tra rừng của chu kỳ II.
VĐTQHR cũng đã xây dựng và hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu đƣợc quản
lý trên máy tính với các phần mềm xử lý chuyên dụng. Đây là hệ thống mở có khả
năng thƣờng xuyên cập nhật, các thông tin này bƣớc đầu đã đáp ứng đƣợc những nhu
cầu cần thiết cho công tác quản lý tài nguyên rừng. Dựa vào thông tin từ các ô định vị,
chƣơng trình đã xác định đƣợc trữ lƣợng cho các trạng thái rừng theo từng tỉnh, vùng
và toàn quốc. Để làm cơ sở cho việc đề xuất những định hƣớng phát triển ngành Lâm
nghiệp trong thời gian tới.
Trong quá trình thực hiện chƣơng trình VĐTQHR đã ứng dụng đƣợc những
công nghệ tiên tiến nhƣ: công nghệ G.I.S, công nghệ xử lý và giải đoán ảnh số Trên
cơ sở đó đã hình thành và hoàn thiện đƣợc quy trình công nghệ điều tra, theo dõi diễn
biến rừng trên phạm vi toàn quốc. Đồng thời từng bƣớc chuyển việc giải đoán ảnh thủ
công sang sử dụng các phần mềm chuyên dụng để giải đoán ảnh số trên máy vi tính.
Hoàn thiện và đƣa vào sử dụng hệ thống bản đồ nền đã đƣợc số hóa và biên tập phù
hợp với đặc điểm, nhu cầu của ngành Lâm nghiệp.
Với kết quả của 3 giai đoạn, chƣơng trình đã đóng góp cho việc thực hiện
thành công công tác kiểm kê rừng năm 1999 và kiểm kê đất đai năm 2001. Ngoài ra
kết quả của Chƣơng trình còn là cơ sở cho việc xây dựng các dự án và đề án nhƣ:
- Dự án quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế xã hội, dự án quy hoạch phát
triển lâm nghiệp của các tỉnh, vùng trên toàn quốc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
quy hoạch Lâm nghiệp Cao Bằng (nay là Trung tâm tƣ vấn Lâm nghiệp Cao Bằng)
đảm nhiệm. Việc điều tra ngoại nghiệp theo phƣơng pháp truyền thống trên phạm vi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17
toàn tỉnh cần rất nhiều nhân lực và thời gian – với 5 tổ, hơn 50 con ngƣời, phải mất từ
6 đến 8 tháng mới hoàn thành. Còn số liệu nội nghiệp đƣợc xử lý thủ công hoàn toàn,
bản đồ hiện trạng rừng đƣợc can vẽ bằng tay từ nền bản đồ địa hình UTM hệ quy
chiếu WGS-84, tỉ lệ 1/25.000 và 1/10.000.
Kết quả thu đƣợc từ cách làm này có độ chính xác không cao, khó khăn trong
việc lƣu trữ số liệu và cập nhật trên bản đồ những thay đổi của trạng thái rừng ở các
năm tiếp theo.
- Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2004:
Trong thời kì này Chi cục Kiểm lâm - trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Cao
Bằng đã tiến hành triển khai công tác theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp trên
phạm vi toàn tỉnh. Công việc thực hiện đƣợc dựa trên kết quả số liệu kiểm kê rừng
toàn tỉnh Cao Bằng năm 1999 và số liệu kiểm kê đất đai tỉnh Cao Bằng năm 2001,
cùng với sự hỗ trợ kĩ thuật của Cục Kiểm lâm - Bộ NN&PTNT.
Thời gian từ năm 2000 đến giữa năm 2004 việc ứng dụng các phần mềm
chuyên ngành nhƣ: Thống kê rừng, Diễn biến rừng và Acr GIS, Mapinfor để xử lý,
lƣu trữ dữ liệu. Cùng với việc sử dụng ảnh máy bay, ảnh vệ tinh để cập nhật các thay
đổi về trạng thái rừng mới chỉ ở mức độ giới thiệu và làm quen. Mặc dù đã đƣợc sự
trợ giúp từ phía Cục Kiểm lâm nhƣng do tỉnh Cao Bằng chƣa đủ nguồn lực cả về con
ngƣời và kinh phí để tiếp nhận, sử dụng những công nghệ mới hiện đại.
Cho đến cuối năm 2004 Dự án "Theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp tỉnh
Cao Bằng" đƣợc triển khai. Chi cục Kiểm lâm Cao Bằng kết hợp cùng VĐTQHR
thống kê lại diện tích và trữ lƣợng rừng hiện có của tỉnh, bằng sử dụng và giải đoán
2004) để biết rõ hơn phần lâm phận hiện có [2], [3].
Thành quả của Dự án "Theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp tỉnh Cao
Bằng" và dữ liệu các năm tiếp theo đã phục vụ cho công tác quy hoạch Lâm nghiệp,
kiểm kê đất đai của tỉnh - năm 2005; quy hoạch 3 loại rừng – năm 2008; Kiểm kê
rừng năm 2010 Và đây là bƣớc đầu đánh dấu việc ứng dụng công nghệ thông tin
trong ngành Lâm nghiệp tỉnh Cao Bằng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 19
CHƢƠNG II : TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
Cao Bằng là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc – Việt Nam, đơn vị hành
chính của tỉnh gồm 13 huyện, thị. Thị xã Cao Bằng là tỉnh lỵ cách thủ đô Hà Nội
285 km về phía Bắc và cách thành phố Lạng Sơn 120 km về phía Tây.
* Toạ độ địa lý:
Từ: 22
0
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 20
Tổng Cọt, Nội Thôn, Cô Mƣời của huyện Trà Lĩnh. Những xã trên đa phần là núi đá,
độ cao trên 1.000m, về mùa khô thiếu nƣớc trầm trọng.
2.1.2.2 Kiểu địa hình núi
Địa hình núi có những đặc điểm chung là các dãy núi chủ yếu chạy theo hƣớng
Tây Bắc - Đông Nam, núi thƣờng có sƣờn không đối xứng, sƣờn Đông thƣờng thoải
rộng và ít dốc hơn sƣờn Tây. Độ cao địa hình có xu thế giảm dần theo hƣớng bồn địa
nhƣ huyện Hoà An và thị xã Cao Bằng. Kiểu địa hình này bao gồm núi thấp và núi
trung bình.
Địa hình núi trung bình: Diện tích là 123.392 ha, chiếm 18,4% diện tích tự
nhiên, độ cao bình quân trên dƣới 1.000m, phân bố chủ yếu ở các huyện nhƣ Bảo
Lâm, Bảo Lạc, Nguyên Bình, Trà Lĩnh, Trùng Khánh và có độ dốc cấp IV là phổ
biến. Đất màu vàng nhạt, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình. Thảm
thực vật rừng ở đây chủ yếu là kiểu rừng kín thƣờng xanh mƣa ẩm á nhiệt đới. Những
khu vực không còn rừng thƣờng là trảng cỏ, cây bụi, phân bố trên những đỉnh và dông
của các dãy núi, các nơi này vào mùa mƣa thƣờng có nguy cơ xói mòn cao và ảnh
hƣởng đến sản xuất nông lâm nghiệp.
Địa hình núi thấp: Diện tích khoảng 270.379 ha, chiếm 40,4% diện tích tự
nhiên của tỉnh. Núi thấp có độ cao tuyệt đối từ 300 – 700 m, phân bố hầu hết trên 13
huyện thị, độ dốc chủ yếu thuộc cấp II, III, đất có màu đỏ nâu, đỏ vàng, đỏ, thành
phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình. Đối tƣợng này chủ yếu dùng để sản xuất
kinh doanh lâm nghiệp, vƣờn rừng, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp. Do vậy, vào
mùa mƣa nguy cơ xói mòn ở kiểu địa hình này không lớn lắm.
2.1.2.3 Kiểu địa hình đồi
Diện tích kiểu địa hình đồi là 9.190 ha, chiếm 1,4% diện tích tự nhiên của tỉnh,
của tỉnh.
* Nhận Xét: Trên toàn lãnh thổ Cao Bằng hầu hết là địa hình cao, dốc, chia cắt
phức tạp, gây nhiều khó khăn, trở ngại cho công tác quản lý bảo vệ rừng và phát triển
sản xuất nông lâm nghiệp, cũng nhƣ trao đổi hàng hoá.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 22
2.1.3 Khí hậu, thuỷ văn
2.1.3.1 Khí hậu
Do nằm sát chí tuyến Bắc trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, nên khí hậu
Cao Bằng mang tính đặc thù của khí hậu lục địa miền núi cao. Trong năm có 2 mùa rõ
rệt, mùa mƣa nóng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô lạnh từ tháng 11 đến
tháng 3 năm sau, nên ảnh hƣởng đến sự sinh trƣởng, phát triển của cây trồng cũng
nhƣ công tác trồng rừng hàng năm.
Khí hậu Cao Bằng mang nét chung của khí hậu vùng Đông Bắc Việt Nam,
thuộc miền nhiệt đới gió mùa biến tính. Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình đã tạo ra
những nét riêng có ảnh hƣởng trội hơn so với các tỉnh khác trong vùng nhƣ hiện
tƣợng sƣơng muối xuất hiện hầu hết các nơi nhất là những khu vực có độ cao từ 400 -
500 m trở lên.
* Chế độ nhiệt; Theo tài liệu quan trắc của các trạm khí tƣợng thuỷ văn nhƣ: Bảo
Lạc, Trùng Khánh, Nguyên Bình, Thị xã Cao Bằng cho thấy nhiệt độ trung bình năm
chênh lệch giữa khu vực núi đá và bồn địa Hoà An khoảng 2
0
C, biên độ nhiệt ngày
đêm khoảng 7,2 - 7,8
0
C.
Do sự chi phối của địa hình nên lƣợng mƣa có sự khác nhau giữa các khu vực.
Lƣợng mƣa trung bình năm tại Thị xã Cao Bằng đạt 1.442,7 mm; tại Hà Quảng đạt
1.637,8 mm; tại Trùng Khánh đạt 1.665,9 mm. Tháng có số ngày mƣa trong năm cũng
khác nhau. Tại Thị xã Cao Bằng có số ngày mƣa trung bình trong năm là 128,3 ngày
và mƣa lớn nhất vào tháng 8 (267,1 mm); tại Trùng Khánh có số ngày mƣa trung bình
147,6 ngày và mƣa lớn nhất vào tháng 7 (309,8 mm); tại Hà Quảng số ngày mƣa là
125,6 ngày và mƣa lớn nhất vào tháng 6 (308,5 mm) [5].
2.1.3.2 Thuỷ văn
Cao Bằng có 2 lƣu vực sông chính, bao gồm nhiều phụ lƣu đổ vào.
* Lƣu vực sông Bằng Giang, bao gồm những phụ lƣu: sông Bằng, sông Quây Sơn,
sông Chi Lao, sông Nguyên Bình, sông Hiến, sông Bắc Vọng Trà Lĩnh, sông Nậm Tá,
sông Quý Xuân.
Sông Bằng bắt nguồn từ Sóc Giang giáp Trung Quốc chảy qua các huyện Hà
Quảng, Hoà An, Thị xã Cao Bằng, Quảng uyên, Phục Hoà rồi chảy về Trung Quốc.
Phần chảy qua địa phận Cao Bằng có tổng chiều dài 106 km.
Sông Hiến bắt nguồn từ xã Quang trọng huyện Thạch An chảy qua Thị xã Cao
Bằng và hợp với sông Bằng, có chiều dài 86 km.
Sông Quây Sơn bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua địa phận huyện Trùng
Khánh, Hạ Lang tỉnh cao Bằng, có chiều dài là 62km, rồi lại chảy về Trung Quốc.
Sông Bắc Vọng bắt nguồn từ hai huyện Trà Lĩnh và Trùng Khánh, chảy qua
huyện Quảng Uyên, Phục Hoà, Hạ Lang gặp Sông Bằng tại cửa khẩu Tà Lùng rồi
chảy về trung Quốc, phần chảy qua điạ phận Cao Bằng, có chiều dài 55 km.
* Lƣu vực sông sông Gâm, gồm những phụ lƣu sau: sông Gâm, sông Năng, sông Bắc
Ngung, sông Bắc Mê, sông Nho Quế, sông Bắc Lý Thung, sông Nhi Ao.
Sông Gâm bắt nguồn từ Bảo Lâm, Bảo Lạc, có chiều dài 72 km chảy qua địa
phận tỉnh Cao Bằng, sau đó chảy về huyện Bắc Mê tỉnh Hà Giang.