Đề tài: “Hiện trạng và khả năng sử dụng đất líp trên ao tôm công nghiệp ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre”
LỜI MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài:
Đất líp là một trong những đơn vị đất được hình thành do nhân tác, mẫu chất
của đất líp bị xáo trộn và chịu tác động của các yếu tố hình thành đất như: Khí hậu, chế
độ nước, thảm thực vật và thời gian để bắt đầu tiến trình hình thành đất mới hoặc tự
phục hồi nếu được kế thừa các đất cũ. Do đó, tính chất của đất líp không còn như đất
nguyên thủy trước khi đào đắp.
Trong những công trình khảo sát đánh giá đất trước đây (nhất là vùng canh tác
lúa) đất líp chiếm diện tích không lớn. Hơn nữa, cũng ít có ý nghĩa trong tổng giá trị
quỹ đất. Chính vì vậy mà chưa được quan tâm nghiên cứu.
Những năm gần đây, dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, hiện tượng triều
cường, mực nước biển dâng cao gây nhiễm mặn nguồn nước. Điều này dẫn đến giảm
hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Việc canh tác trên đất líp để khắc phục các vấn đề trên
là rất cần thiết. Hơn nữa, việc đào đắp trong vùng đất nông nghiệp với khối lượng rất
lớn (kênh mương thủy lợi, công trình đê bao, hồ vuông…) nhất là vùng đất nuôi thủy
sản nước mặn ven biển. Các thống kê bước đầu trong vùng nuôi tôm ven biển cho thấy
đất líp chiếm 30-40% tổng diện tích sử dụng.
Ngoài ra, các tác động của đất líp đến môi trường nuôi thủy sản đã được ghi
nhận sau những lần mở rộng diện tích nuôi tôm, những cơn mưa đột xuất trong mùa
khô hoặc đầu mùa mưa v.v….
Từ đó ta thấy vai trò của đất líp rất quan trọng. Vì vậy, trong phạm vi nghiên
cứu của một luận văn tốt nghiệp, và cũng là vấn đề của quê hương, em xin chọn đề tài
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Đặng Thị Phương Thảo
1
Đề tài: “Hiện trạng và khả năng sử dụng đất líp trên ao tơm cơng nghiệp ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre”
về “Hiện trạng và khả năng sử dụng đất líp trên ao tơm cơng nghiệp (ATCN) ở huyện
Ba Tri, tỉnh Bến Tre”.
II. Mục đích nghiên cứu:
Khảo sát, điều tra hiện trạng đất líp trên ATCN ở huyện Ba Tri. Từ đó, đánh giá
vào được thực hiện như sau:
- Số lượng phẫu diện đất: 12
- Số lượng mẫu phân tích:
+ Hóa học đất: 12 mẫu
+ Vật lý đất: 12 mẫu
- Các chỉ tiêu phân tích:
+ Hóa học đất: pH
H2O
, EC, OM, SO
4
2-
, Cl
-
.
+ Vật lý đất: thành phần cơ giới, độ ẩm.
- Phiếu điều tra: 20 phiếu
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Đặng Thị Phương Thảo
3
Đề tài: “Hiện trạng và khả năng sử dụng đất líp trên ao tôm công nghiệp ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre”
Hình 1 – Sơ đồ vùng khảo sát.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Đặng Thị Phương Thảo
4
Vùng lấy mẫu
Đề tài: “Hiện trạng và khả năng sử dụng đất líp trên ao tơm cơng nghiệp ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre”
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN & KINH TẾ XÃ
HỘI VÀ ĐẤT LÍP HUYỆN BA TRI
1. Tổng quan về huyện Ba Tri:
5
Đề tài: “Hiện trạng và khả năng sử dụng đất líp trên ao tơm cơng nghiệp ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre”
của huyện có nhiều hệ thống đê bao cùng với nhiều hệ thống kênh rạch dày đặc
nên bề mặt của huyện bò chia cắt khá mạnh. Với đòa hình như trên đã tạo điều kiện
rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp đặc biệt là trồng lúa và nuôi trồng thủy hải
sản.
1.1.3. Khí hậu:
a) Nhiệt độ:
Do huyện nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa của tỉnh Bến Tre thuộc Đồng
Bằng Sông Cửu Long và chòu ảnh hưởng của biển nên nhiệt độ cao và khá ổn đònh.
+ Nhiệt độ trung bình hàng năm là 27,20C.
+ Nhiệt độ cao nhất là 36,280C.
+ Nhiệt độ thấp nhất là 18,50C.
Biên độ chênh lệch giữa ban ngày và ban đêm là 10
0
C.
b) L ượng mưa – b ố c hơi:
Lượng mưa trung bình hàng năm của huyện Ba Tri vào khoảng 1.371,5mm và
tập trung vào các tháng 5 – 11 và bò ngắt quảng bởi thời gian hạn “Bà Chằn” vào
cuối tháng 7 và đầu tháng 8. Trong khi đó lượng bốc hơi bình quân là 1.632mm
lượng bức xạ cao 159 Kcal/cm2, khiến đất bò kiệt nước trong mùa khô làm tăng độ
phèn mặn, khoáng hóa kéo dài thời gian mặn ở một số xã. Lượng mưa ngày cao
nhất đã xuất hiện ở khu vực huyện là khoảng 168mm/ngày.
c) Ch ế độ gió:
Huyện Ba Tri trong năm có hai mùa mưa và khô rõ rệt:
+ Mùa mưa: thường bắt đầu từ tháng 5 – 11, hướng gió thònh hành là gió Tây
Nam, sức gió cấp 3 – 4 từ tháng 5 – 9.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Đặng Thị Phương Thảo
6
độ dao động từ 1,2 – 2,4m. Nguồn nước của huyện chủ yếu được cung cấp từ hai
con sông lớn là sông Ba Lai (phía Đông Bắc) và sông Hàm Luông (phía Tây Nam)
với hệ thống chi lưu gồm 50 sông rạch ăn sâu vào trong nội đồng. Tổng chiều dài
hệ thống sông rạch tự nhiên lớn khoảng 128km.
Nước trên sông Ba Lai bò nhiễm mặn sớm khoảng tháng 3 – 4 , nước sông Hàm
Luông bò nhiễm mặn muộn hơn trong khoảng tháng 4 – 5 với hệ thống sông ngòi
trên rất thuận lợi cho giao thông thủy, làm muối, nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ
và hệ thống cấp thoát nước. Nhưng bất lợi cho giao thông đường bộ, sản xuất nông
nghiệp và sinh hoạt của dân cư.
1.1.5. Thổ nhưỡng:
Thổ nhưỡng của huyện Ba Tri chia làm hai nhóm chính: đất giồng cát và đất
mặn có tầng sinh phèn tiềm tàng sâu. Bên cạnh còn có nhóm đất phù sa và đất phù
sa nhiễm mặn.
1.2. Hiện trạng kinh tế - xã hội:
1.2.1. Cơ cấu hành chính:
Huyện Ba Tri có tất cả 23 đơn vò cấp xã, một thò trấn Ba Tri với 107 ấp,
khóm.
1.2.2. Diện tích:
Huyện Ba Tri có tổng diện tích: 35.541,95ha, trong đó:
+ Diện tích đất nông nghiệp: 25.308,90ha
+ Diện tích đất lâm nghiệp: 670,83ha
+ Diện tích đất chuyên dùng: 4.389,02ha
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Đặng Thị Phương Thảo
8
Đề tài: “Hiện trạng và khả năng sử dụng đất líp trên ao tơm cơng nghiệp ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre”
+ Diện tích đất ở: 996,16ha
+ Diện tích đất chưa sử dụng.177,04ha
1.2.3. Dân số:
Theo niên giám thống kê năm 2001 của cục thống kê tỉnh Bến Tre, tháng
chiều dài đường bộ chưa kể đường thôn xóm là 174,5 km trong đó tổng chiều dài
đường bộ tính đến ngày 31/12/2001 mới chỉ có 6,18% tráng nhựa, 22,4% trải sỏi đỏ
và 71,42% còn lại là đường đất chỉ thông xe tốt vào mùa khô. Trên hệ thống giao
thông đường bộ có 45 cầu dài 907m, giao thông đường thủy đây là thế mạnh của
huyện với 114 km đường sông. Ngoài ra Ba Tri còn có 12km bờ biển và rất nhiều
kênh rạch tạo thành mạng lưới giao thông thủy rất thuận lợi.
Nhìn chung, giao thông ở các vùng nuôi không được thuận lợi lắm, đường
giao thông chỉ tập trung ở các khu vực trung tâm, khu dân cư và trên giồng cát.
Trong những vùng nuôi tôm thì hệ thống giao thông rất thiếu có nhiều nơi chỉ đi lại
bằng đường thủy.
1.3.3. Hệ thống điện:
Đến năm 2000 điện lưới quốc gia đã phủ khắp 23/23 xã, thò trấn. Trong đó có
25.918 hộ sử dụng điện chiếm 65,27% số hộ trong toàn huyện.Trên cơ sở các hệ
thống mạng lưới điện của đòa phương, trong quá trình phát triển nuôi trồng thủy sản
thâm canh sẽ phải đầu tư thêm đường dây vào vùng nuôi và khu vực sản xuất
giống.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Đặng Thị Phương Thảo
10
Đề tài: “Hiện trạng và khả năng sử dụng đất líp trên ao tôm công nghiệp ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre”
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Đặng Thị Phương Thảo
11
Đề tài: “Hiện trạng và khả năng sử dụng đất líp trên ao tôm công nghiệp ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre”
Hình 2 – Bản đồ hành chính huyện Ba Tri
2. Tổng quan về đất líp:
2.1. Các khái niệm về đất líp:
Mặc dù đất líp có thể xem là một trong những loại đất trong nhóm đất nhân sinh
(Anthropogenic soils) trong phân loại đất Hoa Kỳ (Soil Taxonomy). Nhưng, ngay
trong phần mở đầu của bảng Hệ thống phân loại đất của Hoa kỳ, xuất bản 1999 đã cho
13
Đề tài: “Hiện trạng và khả năng sử dụng đất líp trên ao tôm công nghiệp ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre”
biệt được giữa hai quá trình phát sinh đất (anthropedogenesis) và địa hình thái học
nhân sinh (anthropogeomorphology). Những đề xuất để thay đổi hệ thống FAO, trong
cơ sở tham chiếu tài nguyên đất Thế giới (World Reference Base (WRB) for soil
resources) đã có một phần được thiết kế để nhấn mạnh bản chất duy nhất của quá trình
phát sinh đất trong nhóm đất này.
Anthrosols bao gồm những đất mà nó bị chuyển đổi bởi quá trình phát sinh đất
nhân sinh (anthropedogenic processes), quá trình phát sinh đất của đất nguyên thuỷ
không hiện diện hoặc chỉ tồn tại như là đất bị chôn vùi. Vật liệu đất nhân sinh như định
nghĩa của WRB là các vật liệu không rắn hoặc vật liệu hữu cơ được xem là không đất
(non-soil) trừ khi được biến đổi bởi quá trình phát sinh đất sau đó.
Theo WRB, khoá (key) phân loại về đất nhân tác (Anthrosols (AT)) là những
đất có ít nhất một trong các tầng hortic, irragric, plaggic hoặc terric, có bề dầy lớn hơn
hoặc bằng 50 cm hoặc một tầng anthraquic và một tầng hydragric nằm dưới với bề dầy
chung lớn hơn hoặc bằng 50cm [3]. Như vậy, nếu căn cứ vào định nghĩa đất nhân tác
của FAO và WRB thì đất líp có thể không được xếp vào loại đất nhân tác.
Quan điểm phân loại đất nhân tác của Trung tâm khảo sát đất quốc gia (National
Soil Survey Center – NSSC. 8-2002) khẳng định: Các thể đất nhân tác đã được nhận
diện và phân loại trong (Soil Taxonomy).
Ví dụ như: Trong bảng phân loại đã cung cấp những tầng chẩn đoán và thứ bậc phân
loại với hình thái của các đất được hình thành bởi con người (bao gồm hai tầng mặt
hoặc gần tầng mặt: Anthropic và plaggen và một tầng B agric), hoặc một nhóm phụ –
vật liệu bị chôn vùi (Thapto subgroups).
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Đặng Thị Phương Thảo
14
Đề tài: “Hiện trạng và khả năng sử dụng đất líp trên ao tôm công nghiệp ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre”
Để kết luận, các tác giả cho rằng: Mặc dù những đất nhân sinh đã bao gồm
trong phân loại đất, những tầng và yếu tố chẩn đoán đã được định nghĩa, nhưng sự xác
đấn kiềm yếu (pH > 7), đất thường ở trong điều kiện yếm khí nên mức độ khoáng chất
hữu cơ rất kém (C/N : 12 – 16), độ mặn cao (Na
+
: 7 – 8 meq/100g và Cl
-
hòa tan 0.65
– 0.79%), độ dẫn điện EC đạt đến 11 – 12 mS/cm. (Bảng 1.1 )
- Đánh giá chung và hướng sự dụng đất:
Yếu tố mặn và khả năng cơ lý yếu là hạn chế chính của đất Mặn sú vẹt, những đặc
tính trên không cho phép sản xuất nông nghiệp trên các loại đất này, trồng rừng ngập
mặn phòng hộ ở những khu vực cửa sông và ven biển và kết hợp nuôi trồng thủy sản
nước lợ ở những nơi thích hợp là phương án sử dụng tối ưu các loại đất mặn sú vẹt
đước.
Hiện nay, việc phục hồi và phát triển đai rừng phòng hộ trên loại đất mặn này là
yêu cầu cấp thiết nhằm ổn định và chống xói lở bờ biển, đồng thời bảo vệ và duy trì hệ
sinh thái rừng ngập mặn có giá trị sinh học cao. Mặc dù vậy, hiện nay việc khai thác
rừng ngập mặn bừa bãi để lấy gỗ hoặc làm bãi nuôi trồng thủy sản (tôm, nghêu, sò,…)
vẫn diễn ra vượt quá phạm vi đã quy hoạch, ảnh hưởng lớn đến chương trình phục hồi
rừng phòng hộ ven biển.
MÔ TẢ PHẪU DIỆN ĐIỂN HÌNH ĐẤT MẶN SÚ VẸT ĐƯỚC
- Tên phẫu diện : 309 - BT
- Tên đất địa phương: Đất rừng mắm
- Tên đất phân loại VN: Đất mặn sú vẹt đước chưa ổn định (Mm.c)
- Ngày lấy mẫu: 04/04/03
- Địa điểm: xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
- Địa hình quanh vùng: vàn thấp
- Kiểu địa hình: thấp, bằng phẳng
- Khí hậu: nhiệt đới gió mùa
- Thực vật tự nhiên: bần, cỏ nước mặn, mắm, đước
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
sét lẫn nhiều vẹt cát đen mịn, đất ướt, dính, hơi dẻo, không thuần thục,
cứng khi khô. Hữu cơ bán phân giải nâu trung bình pH
H2O
(1:5) = 7,5 –
7,8.
Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu lý – hóa tính chất đất mặn sú vẹt đước ( phẫu diện 309-BT)
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Đặng Thị Phương Thảo
17
Đề tài: “Hiện trạng và khả năng sử dụng đất líp trên ao tôm công nghiệp ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre”
Độ sâu
mẫu
(cm)
pH K
+
Ca
2+
Mg
2+
CEC S EC SO
4
2-
Cl
-
TMT
H2O meq/100g đất
mS/
cm
%
0-10 6.59 1.5 4.59 11.48 21.82 21.29 3.41 0.2 0.62 1.09
trình mao dẫn mặn nhanh chóng hơn. Do sự tích lũy muối cao trong mùa khô, những
trận mưa đầu mùa cũng khó rửa trôi được muối trong đất, ngay cả trong mùa mưa nếu
có các đợt hạn hán xãy ra cũng dễ bị bốc mặn trở lại lên bề mặt đất.
- Đặc điểm lý – hóa tính:
Các kết quả phân tích lý – hóa học đất cho thấy (bảng 1.2):
Đất thường có pH
H2O
từ trung tính đến kiềm, đặc biệt ở các tầng đất bên dưới (pH
H2O
= 6.7 – 7.3), do ảnh hưởng của nước ngầm mặn.
Phần lớn các loại đất Mặn nhiều có hàm lượng hữu cơ cao hơn các loại đất khác,
đặc biệt ở tầng đất mặt (OM: 2.12 – 4.9%). Hàm lượng chất dinh dưỡng cao hơn so với
các loại đất nhiễm mặn nhẹ từng thời kỳ (N tầng mặt: 0.11 – 0.21%, P
2
O
5
tổng số tầng
mặt: 0.03 – 0.08%), có lẽ do đất chỉ được canh tác một vụ/năm. Tuy nhiên, cán cân độ
phì tự nhiên cũng không cân đối giữa N và P
2
O
5
tổng số hay giữa P
2
O
5
tổng số và dễ
tiêu, đặc trưng nhất là hàm lượng quá thấp của P
2
O
được thực hiện. Những nơi sát ven biển, do nhiễm mặn kéo dài khó rửa được vào mùa
mưa, làm muối hoặc nuôi trồng thủy sản nước lợ (tôm, cua) là một phương thức sử
dụng đất cần được khuyến cáo.
MÔ TẢ PHẪU DIỆN ĐIỂN HÌNH ĐẤT MẶN NHIỀU
- Tên phẫu diện: 293 – BT
- Tên đất địa phương: đất láng
- Tên đất phân loại VN: Đất mặn nhiều điển hình (Ký hiệu Mn)
- Ngày lấy mẫu: 25/04/03
- Địa điểm: xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
- Địa hình quanh vùng: vàn thấp
- Tiểu địa hình: thấp, bằng phẳng
- Khí hậu: nhiệt đới gió mùa
- Thực vật tự nhiên: bần, cỏ mặn,…
- Kiểu sử dụng: muối, nuôi tôm
Thông tin chung về đất
- Đơn vị trầm tích: Bãi thủy triều
- Mẫu chất: trầm tích biển
- Độ thoát thủy của đất: kém
- Độ sâu mực thủy cấp: nông (<50cm)
- Ẩm độ đất khi mô tả: ướt
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Đặng Thị Phương Thảo
20
Đề tài: “Hiện trạng và khả năng sử dụng đất líp trên ao tôm công nghiệp ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre”
Mô tả hình thái phẫu diện đất
Ap (0- 20cm): nâu xám (10YR 3/2 khia ẩm, 10YR 4/2 khi khô). Thịt nặng, chặt vừa,
độ rỗng thấp. Đất ướt, dẻo, dính, thuần thục. Hữu cơ bán và chưa phân
hủy, nâu đen, ít. Rễ nhỏ, rất ít. Chuyển tầng khá rõ, dạng gợn sóng. pH
H2O
(1:5)= 5.4 – 5.6
Cl
-
TM
T
H
2
O
meq/100g đất
mS/c
m
%
0-10
5.4
3
0.8
4
5.1
0
15.3
0
25.2
5
24.3
1
4.19 0.01
o.7
6
1.34
20-30
4.9
4
0.80
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Đặng Thị Phương Thảo
21
Đề tài: “Hiện trạng và khả năng sử dụng đất líp trên ao tôm công nghiệp ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre”
110-120
7.3
0
1.1
7
2.5
5
12.2
4
18.2
8
18.0
3
2.13 0.08
0.4
0
0.68
Độ sâu mẫu (cm)
Thành phần cơ giới (%)
Sét Thịt Cát
0 - 10 48.62 49.91 1.47
20 – 30 48.10 50.22 1.78
60 – 70 46.98 51,24 1.78
110 - 120 46.65 51.58 1.77
- Đánh giá chung và hướng sử dụng, cải tạo đất:
Do bị nhiễm mặn ít, thời gian nhiễm mặn ngắn, đầu mùa mưa các loại đất này có
khả năng rửa mặn rất nhanh, do đó dễ dàng sử dụng để canh tác trong mùa mưa. Nếu
có công trình thủy lợi để ngăn mặn – dẫn ngọt, dễ dàng tạo điều kiện canh tác bình
thường cho các loại đất này như các đất phù sa khác.
Trong điều kiện chưa có công trình thủy lợi dẫn ngọt, ngăn mặn triệt để, khả năng
sử dụng đất hiện nay là canh tác lúa 1 vụ đặc sản chất lượng cao, hoặc có thể thực hiện
mô hình lúa – tôm, lúa – cua. Nếu có thể rửa mặn hoàn toàn, cần bón tăng cường các
dạng phân Đạm và Kali để nâng cao độ phì đất khi thâm canh , tăng vụ.
MÔ TẢ PHẪU DIỆN ĐIỂN HÌNH ĐẤT MẶN TRUNG BÌNH VÀ ÍT
- Tên phẫu diện: 295 – BT
- Tên đất địa phương: đất mặn
- Tên đất phân loại VN: đất mặn trung bình và ít, có đốm rỉ
- Ngày lấy mẫu : 19/04/03
- Địa điểm: xã Vĩnh An, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
- Địa hình quanh vùng: vàn thấp
- Tiểu địa hình: bằng phẳng
- Khí hậu: Nhiệt đới gió mùa
- Thực vật tự nhiên: cỏ ống, cỏ chát
Thông tin chung về đất
- Đơn vị trầm tích: phẳng giữa giồng
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Đặng Thị Phương Thảo
23
Đề tài: “Hiện trạng và khả năng sử dụng đất líp trên ao tôm công nghiệp ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre”
- Mẫu chất: trầm tích sông biển
- Độ thoát thủy của đất: trung bình
- Độ sâu mực thủy cấp: 0.8m
- Ẩm độ đất khi mô tả: ẩm
Mô tả hình thái phẫu diện đất
24
Đề tài: “Hiện trạng và khả năng sử dụng đất líp trên ao tôm công nghiệp ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre”
Độ sâu mẫu
(cm)
pH K
+
Ca
2+
Mg
2+
CEC S EC SO
4
2-
Cl
-
TMT
H
2
O meq/100g đất
mS/
cm
%
0-10 6.76 0.74 6.00 7.50 15.98 14.73 1.70 0.04 1.25 0.54
25-35 7.00 0.98 5.00 7.00 14.35 13.91 0.57 0.02 0.05 0.18
65-75 7.72 0.95 3.00 7.00 12.02 11.82 0.37 0.01 0.05 0.12
100-120 7.31 0.97 2.00 8.00 12.02 11.71 0.40 0.01 0.05 0.13
Độ sâu mẫu (cm)
Thành phần cơ giới (%)
Sét Thịt Cát
0 - 10 44.10 53.51 2.39