Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy và học môn hóa học ở trường Trung học phổ thông - phần hóa 10 chương trình nâng cao - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
________________
Hỉ A Mổi

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG
DẠY VÀ HỌC MÔN HOÁ HỌC Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG – PHẦN HOÁ 10
CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số : 60 14 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
SGK : Sách giáo khoa
STT : Số thứ tự
SV : Sinh viên
THPT : Trung học phổ thông
TN : Thực nghiệm
TV : Thành viên
TP. HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
VD : Ví dụ

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Từ rất lâu, kinh nghiệm sống của người Việt Nam đã đúc kết: “Một cây làm chẳng nên non, ba
cây chụm lại nên hòn núi cao”. Câu tục ngữ dạy chúng ta rằng nếu biết cách hợp sức không những về
thể lực mà cả trí tuệ sẽ tạo ra được những điều phi thường. Câu chuyện cổ tích “Bó đũa” có chi tiết:
người cha cầm lấy bó đũa và bảo từng người con của
ông hãy bẻ đi, người con nào cũng cố gắng hết
sức mình nhưng không sao bẻ nổi, lúc đó người cha lại bảo "Các con hãy bẻ từng chiếc một xem sao",
lập tức năm người con bẻ một cách dễ dàng. Qua đó, câu chuyện đã giáo dục con cháu sống phải biết
đoàn kết vì đoàn kết là sức mạnh để tồn tại và chiến thắng. Đó là những ý tưởng giáo dục có giá trị
nhâ
n văn sâu sắc.
Trong thời đại nền kinh tế hội nhập ngày nay, trước sự phát triển như vũ bão của khoa học công
nghệ, chúng ta càng phải biết hợp tác, giao lưu, học tập lẫn nhau, trao đổi kinh nghiệm và chuyển giao
công nghệ tiên tiến.
Trước tình hình đó, nền giáo dục quốc dân cần phải có những đổi mới phù hợp với sự phát triển
kinh tế – xã hội. Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ IV đã chỉ rõ “…Giáo dục v
à đào tạo là động lực
thúc đẩy và là điều kiện cơ bản đảm bảo việc thực hiện mục tiêu kinh tế – xã hội, xây dựng và bảo vệ
đất nước…”. Giáo dục có nhiệm vụ đào tạo thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, có đủ năng lực đối mặt với

2. Mục đích nghiên cứu
Tổ chức các hoạt động nhóm trong bài lên lớp thành những nhiệm vụ học tập cụ thể, thích hợp
với lứa tuổi, trình độ và vốn kinh nghiệm của HS nhằm hình thành và phát triển các kĩ năng hoạt động
và các năng lực xã hội. Thông qua hoạt động nhóm, HS trở thành chủ thể phát hiện kiến t
hức mới, góp
phần nâng cao chất lượng dạy học nói chung và dạy học hóa học nói riêng ở trường THPT.

3. Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về
+ Đổi mới PPDH.
+ Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học.
+ Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hoá học ở trường THPT.
+ Nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa lớp 10, 11, 12.
- Tìm hiểu thực trạng tổ chức hoạt động nhóm
trong dạy học hoá học ở các trường THPT.
- Nghiên cứu và đề xuất các hình thức tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hoá học ở trường
THPT.
- Thực nghiệm sư phạm để xác định tính hiệu quả và tính khả thi của các bài lên lớp có tổ chức
hoạt động nhóm.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thiết kế bài lên lớp có tổ chức hoạt động nhóm
trong dạy và học hoá học
ở trường THPT.
- Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học hóa học ở trường THPT.
5. Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu 5 hình thức tổ chức hoạt động nhóm trong dạy và học môn hoá học ở
trường THPT và vận dụng thiết kế một số bài lên lớp thuộc chương trình hoá học 10 nâng cao.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu người giáo viên tổ chức tốt hoạt động nhóm
trong dạy học thì sẽ rèn luyện cho HS các kĩ

hội ứng dụng. Các công trình của Deutsch trải dài từ các nghiên cứu về tính hiệu quả của nhóm trong
môi trường đối đầu và đối thoại cho đến các giải pháp trong xung đột vũ khí hạt nhân. Thế hệ thứ ha
i
của những nhà khoa học theo tư tưởng Lewin bao gồm một vài tên tuổi lớn như Aronson và anh em
nhà Johnson. Thế hệ thứ ba chứng kiến sự hưng thịnh của tính ứng dụng nhóm với Slavin, Kagan,
Sharan và Cohen, đều là những nhà nghiên cứu đề cao tính thực tế và hiệu quả trực tiếp của hoạt động
nhóm.
Sự ứng dụng của dạy học hợp tác là một trong những nghiên cứu thành công và nhất quán của
lĩnh vực g
iáo dục. Ngoài những kết quả khả quan về chất lượng học tập, mức độ nhận thức, kĩ năng
suy luận,... các nghiên cứu về dạy học hợp tác còn đem lại những kết quả bất ngờ về kĩ năng giao tiếp
đa văn hoá, mở ra một phương hướng áp dụng mới để giải quyết xung đột sắc tộc và các vấn đề do đa
văn hoá gâ
y ra, đặc biệt tại các nước có số dân nhập cư cao.
Ba tiền đề mở đường cho những nghiên cứu về hợp tác nhóm: sự tương thuộc xã hội, sự phát
triển tri thức và thái độ trong học tập. [44], [51]
 Thuyết tương thuộc xã hội
Tương tác với những người khác là điều cơ bản cho sự tồn tại của con người. Trong dạy học, sự
tương thuộc xã hội liên quan tới sự nỗ lực của học sinh để phát triển các mối quan hệ tích cực, điều
chỉnh tâm lí và thể hiện kĩ năng xã hội.
Tiền đề của sự tương thuộc xã hội về hợp t
ác nhóm giả định rằng cách mà tương thuộc xã hội
được xây dựng chỉ ra cách mọi người tác động lẫn nhau. Một trong những yếu tố quan trọng là phải
xây dựng được những lớp học trong đó sự hợp tác có tồn tại. Kết quả là sự hợp tác dẫn tới các mối
tương thuộc được đẩy mạnh khi những thành viên động viên và khuyến khíc
h tinh thần nỗ lực học.

Người đóng góp:
- Đầu những năm 1900, Kurt Koffka: Nhóm là động lực cho toàn bộ sự tương thuộc của các
thành viên.

thưởng nhóm.
Tóm lại, dạy học theo nhóm được quan tâm từ những thập niên của thế kỉ 20, bắt nguồn từ các
nước phương Tây. Nhiều nghiên cứu về hoạt động nhóm trong dạy học được xây dựng mang tính ứng
dụng thực tiễn cao trải qua nhiều thời kì lịch sử khác nhau.
1.1.2. Các bài báo khoa học, luận văn, khoá luận về tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học
 Bà
i báo khoa học “Làm thế nào để tổ chức nhóm khoa học và đánh giá việc học nhóm
công bằng đến từng học sinh” của Thạc sỹ Tống Xuân Tám, Thạc sỹ Phan Thị Thu Hiền (giảng

viên Khoa sinh học – Trường Đại học Sư phạm TP. HCM) đăng trên kỷ yếu hội thảo với chủ đề:
“Chương trình, sách giáo khoa và vấn đề kiểm tra đánh giá ở lớp 10 phân ban sau một năm thực hiện”
do viện Nghiên cứu Giáo dục (Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh) tổ chức hội thảo khoa học
(2007) [31].
Bài báo gồm 4 vấn đề liên quan đến tổ chức hoạt động nhóm:
- Cách thức chia nhóm.
- Các bước tổ chức hoạt động nhóm.
- Cách thức tổ chức báo báo kết quả và đánh giá hoạt động nhóm
.
- Mẫu phiếu đánh giá sản phẩm hoạt động dự án “Dịch cúm gia cầm”: Tờ rơi, trang web, bài trình
chiếu power point.
 Bài viết về phương pháp dạy học được đăng trên trang web trường Đại học Cần Thơ,
địa chỉ: www.ctu.edu.vn/colleges/tech/daotao/
2006/thamkhao/PPGD%20moi.pdf, chúng tôi không
tìm được tên tác giả. Nhưng bài viết với nhiều nội dung lí luận và phương pháp dạy học giá trị, cụ thể
gồm 3 chương như sau [52]:
Chương 1 - Giúp sinh viên học
Chương 2 - Việc học với sinh viên là trung tâm
Chương 3 - Việc dạy học theo nhóm nhỏ
3.1. Dạy học theo nhóm nhỏ là gì ?
3.2. Việc quản lí nhóm

ho HS. Phương án đánh giá kết quả
hoạt động nhóm còn chưa đánh giá được sự đóng góp của mỗi thành viên vào kết quả chung của nhóm.
 Khoá luận tốt nghiệp “Thử nghiệm phương pháp hợp tác nhóm nhỏ và phương pháp đóng
vai trong dạy học môn hoá lớp 10 nâng cao nhằm phát huy tính tích cực của HS” của sinh viên
Nguyễn Thị Khánh Chi (2007), trường Đại học Sư phạm TP. HCM. [14]
Đề tài đã nghiên cứu và xây dựng được
+ 8 hình thức dạy học hợp tác nhóm
nhỏ:
o Trả lời câu hỏi trong phiếu học tập.
o Trả lời câu hỏi do GV trực tiếp đưa ra.
o Thực hành thí nghiệm theo nhóm.
o Mô tả thí nghiệm.
o Quan sát hình vẽ hay mô hình.
o Hỏi đáp giữa các nhóm.
o Cùng nhau nghiên cứu nội dung của bài học.
o Giải bài tập hoá học theo nhóm.
+ 12 kịch bản đóng vai.
+ 14 phiếu ghi bài và nhiều phiếu học tập c
ho các hoạt động nhóm.
+ Thiết kế được 16 giáo án thuộc chương trình hoá học lớp 10 nâng cao có vận dụng phương
pháp hợp tác nhóm nhỏ.
 Khoá luận tốt nghiệp “Thiết kế giáo án dạy học theo nhóm nhỏ kết hợp công nghệ thông
tin” của sinh viên Đoàn Ngọc Anh (2007), trường Đại học Sư phạm TP. HCM. [1]
Khoá luận đã nghiên cứu những vấn đề liên quan đến tổ chức hoạt động nhóm
là:
- Những nội dung có thể cho HS thảo luận nhóm.
- Một số kinh nghiệm khi tổ chức thảo luận nhóm.
- Qui trình tiến hành hoạt động nhóm.

Tóm lại, hai khoá luận trên bước đầu tìm hiểu cơ sở lí luận về phương pháp dạy học theo nhóm,

- Tạo điều kiện để học sinh tự phát hiện, tìm
hiểu, đặt và giải quyết vấn đề.
- Tăng cường trao đổi, thảo luận.
- Tạo điều kiện hợp tác trong nhóm.
- Tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau.
- Tận dụng tri thức thực tế của học sinh để xây dựng kiến thức mới.
Như vậy đổi mới PP
DH nói chung và PPDH hóa học nói riêng là một yêu cầu khách quan và là
một nhu cầu tất yếu của xã hội học tập.
1.2.2. Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay [6, tr.7]

Trên thế giới và ở nước ta hiện nay đang có rất nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm về đổi
mới PPDH theo các hướng khác nhau. Sau đây là một số xu hướng cơ bản:
- Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học. Chuyển trọng tâm hoạt động từ
GV sang HS. Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang tìm tòi, khám phá. Tạo điều kiện cho HS học
tập tích cực, chủ động, sáng tạo.
- Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời. Không chỉ dạy kiến
thức mà còn dạy cách học, trang bị cho HS phương pháp học tập, phương pháp tự học.
- Tăng cường rèn luyện năng lực tư duy,
khả năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống thực tế.
Chuyển từ lối học nặng về tiêu hoá kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến t
hức.
- Cá thể hoá việc dạy học.
- Tăng cường sử dụng thông tin trên mạng, sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin
học và công nghệ thông tin vào dạy học.
- Từng bước đổi mới việc kiểm tra đánh giá, giảm việc kiểm tra trí nhớ đơn thuần, khuyến khích
việc kiểm tra k
hả năng suy luận, vận dụng kiến thức; sử dụng nhiều loại hình kiểm tra thích hợp với
từng môn học.
- Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học ở mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của HS, theo

hệ bạn bè, đồng đội thực sự hình thành trong giai đoạn này. Sự chân thành, tin tưởng trở nên rõ nét
hơn.

Thể hiện: Đây là giai đoạn phát triển cao nhất của nhóm hợp tác. Cảm giác tin tưởng, hòa nhập,
gắn kết mạnh mẽ. Sự háo hức thể hiện rõ. Mức độ cam kết về công việc cao. Cảm giác trưởng thành
thực thụ ở tất cả các thành viên của nhóm.
Trong giai đoạn sau đó, nếu việc duy trì tốt, nhóm tiếp tục thể hiện tốt, nếu không, sẽ đi vào giai
đoạn tan rã. Việc kết thúc hoạt động cũng đưa nhóm
hợp tác bước vào giai đoạn này.
1.3.3. Những nét đặc thù của hoạt động nhóm [30, tr.14]
Hoạt động nhóm có 4 nét đặc thù cơ bản.
- Hoạt động xây dựng nhóm: luôn đòi hỏi sự nỗ lực của từng cá nhân và cùng chia sẻ trách nhiệm
lãnh đạo nhóm, trao đổi trực diện nhau.
- Có sự phụ thuộc tích cực giữa các cá nhân: cá nhân phải nỗ lực hoàn thành phần việc của mình.
Thành công của cá nhân tạo nê
n thành công của cả nhóm.
- Có sự ràng buộc trách nhiệm cá nhân – trách nhiệm nhóm: các thành viên cùng hỗ trợ nhau trong
việc thực hiện nhiệm vụ chung của nhóm và tự đánh giá kết quả công việc của mình, của các thành
viên khác.
- Có kĩ năng hợp tác trong hoạt động học tập: HS không chỉ lĩnh hội kiến thức mà còn được học,
thực hành và thể hiện mình, phát triển và củng cố các kĩ năng xã hội như lắng nghe, đặt câu hỏi, trả lời,
giảng bài cho nhau, giải quyết xung đột...
1.3.
4. Các nguyên tắc hoạt động nhóm [41, tr.5]
Johnson D. W và Johnson R. T là đại diện của trường phái nguyên tắc, đã tổng kết thành “5
nguyên tắc vàng” cho hoạt động nhóm và khẳng định: Bất kì một hoạt động nhóm nào cũng phải đảm
bảo 5 nguyên tắc này. Nếu thiếu một trong 5 nguyên tắc này thì hoạt động nhóm sẽ thất bại.

Nguyên tắc 1: Phụ thuộc tích cực
Nguyên tắc 1 cho rằng mỗi thành viên chỉ thành công khi những người bạn trong nhóm cũng


Nguyên tắc 4: Kĩ năng xã hội
Nguyên tắc này yêu cầu các thành viên phải được cung cấp các kiến thức về kĩ năng xã hội cần
thiết trước khi hoạt động nhóm. Theo Johnson D.W, Johnson R.T kĩ năng xã hội không tự nhiên có mà
phải được truyền thụ và dạy dỗ. Kĩ năng lãnh đạo, đưa ra quyết định, xây dựng lòng tin, giao tiếp, xử lí
xung đột, cổ vũ, động viên, nhận xét, lắng nghe, trình bày, báo cáo… là những kiến thức xã hội m
à
mỗi thành viên cần phải được đào tạo để đảm bảo quá trình hoạt động nhóm có hiệu quả.

Nguyên tắc 5: Đánh giá rút kinh nghiệm
Nguyên tắc cuối cùng yêu cầu các thành viên phải có cơ hội thảo luận và nhận xét về quá trình
làm việc của nhóm ở các nội dung sau:
- Nhóm đã hoàn thành mục tiêu đề ra chưa?
- Nhóm đã làm việc hiệu quả chưa?
- Mối quan hệ giữa các thành viên đã tốt chưa?
- Những việc gì các thành viên làm nên được lặp lại?
- Những việc gì không nên? Tại sao?
...

Việc đánh giá này giúp các thành viên:
- Tập trung vào việc xây dựng nhóm.
- Học các kĩ năng xã hội.
- Tạo cơ hội để mỗi thành viên có thể nhận xét và lắng nghe ý kiến của bạn.
1.3.5. Ưu điểm và hạn chế của hoạt động nhóm trong dạy học
1.3.5.1. Ưu điểm [30, tr.21 ] [3, tr.42]
 Phát triển kĩ năng hợp tác
- Hoạt động nhóm là hình thức dạy học có chiến lược giáo dục mạnh mẽ và linh hoạt, có những
nét đặc trưng cơ bản của dạy học hiện đại, làm cho HS thích ứng với xã hội phát triển, đó là mỗi người
sống và là
m việc theo sự phân công, hợp tác với tập thể cộng đồng.

năng phê phán, tư duy logic, bổ sung kiến thức nhờ học hỏi lẫn nhau.
 Nâng cao khả năng ứng dụng khái niệm, nguyên lý, nguồn thông tin vào việc giải quyết
các tình huống khác nhau.
 Lớp học sinh động hơn do có nhiều hình thức hoạt động
đa dạng.
 Ngoài những tác động về mặt nhận thức, một số tác giả cho rằng dạy học hợp tác còn tác
động cả về quan điểm xã hội như:
- Cải thiện quan hệ xã hội giữa các cá nhân.
- Tôn trọng các giá trị dân chủ.
- Chấp nhận sự khác nhau về cá nhân và văn hoá.
- Có tác dụng làm giảm lo âu và sợ thất bại.
 GV cũng có cơ hội tận dụng những
ý kiến, kinh nghiệm của HS.
1.3.5.2. Hạn chế [30, tr.21], [4, tr.42]
Tổ chức hoạt động nhóm không chặt chẽ sẽ có những hạn chế sau:
- Có một số thành viên ỷ lại không làm việc (hiện tượng ăn theo).
- Có thể đi trệch hướng thảo luận do tác động của một vài cá nhân (hiện tượng chi phối, tách
nhóm).
- Có hiện tượng một số HS khá, giỏi quyết định quá trình, kết quả thảo thuận nhóm nên chưa đề
cao sự tương tác bình đẳng và tầm
quan trọng của từng thành viên trong nhóm.
- HS chỉ quan tâm tới nội dung được giao chứ không quan tâm đến nội dung của các nhóm khác
khiến kiến thức không trọn vẹn.
- Nếu lấy kết quả thảo luận chung của nhóm làm kết quả học tập cho từng cá nhân thì chưa công
bằng và chưa đánh giá được sự nỗ lực của từng cá nhân.
- Sự áp dụng cứng nhắc và quá thường xuyên của GV sẽ gây sự nhàm chán và giảm h
iệu quả của
hoạt động nhóm.
- Nếu GV không có kĩ thuật điều khiển thì hiệu quả hoạt động sẽ bị hạn chế.
- GV tốn nhiều thời gian chuẩn bị và thực hiện nên không thể áp dụng thường xuyên cho mọi tiết

trong nhóm đều có ý nghĩa trong thành tích chung của nhóm và thành tích của các thành viên trong nhóm
có ảnh hưởng lẫn nhau.
Khâu thiết kế nhiệm vụ cho HS và hệ thống các câu hỏi là mấu chốt quan trọng để có một tiết dạy
học theo phương pháp nhóm thành công. Cách đánh giá, khen thưởng của GV cũng không kém phần
quan trọng tạo nên sự thành công của tiết học. GV c
ó sự đánh giá công bằng, chính xác, khen thưởng
hợp lý sẽ làm tăng hứng thú học tập của HS.
1.3.7. Tiến trình dạy học theo nhóm [3, tr.43], [22]
Có thể chia làm 5 giai đoạn.
a. Chia nhóm
Có nhiều cách chia nhóm khác nhau, mỗi cách có những ưu và nhược điểm riêng. Tuỳ theo điều
kiện cụ thể mà GV có thể áp dụng cách này hay cách khác sao cho phù hợp.
 Chia theo vị trí ngồi có sẵn
- Hai HS ngồi cạnh nhau.
- Các HS ngồi cùng một bàn.
- HS hai bàn quay mặt lại với nha
u.
 Chia theo danh sách lớp có sẵn

- Nhóm HS theo số thứ tự từ nhỏ đến lớn của danh sách.
- Nhóm HS theo số thứ tự chẵn lẻ của danh sách.
- Nhóm HS theo số thứ tự cách quãng của danh sách.
 Chia theo sở thích
- HS tự chọn nhóm theo hướng dẫn của GV.
- HS dễ làm việc với nhau có quan hệ tình cảm tốt.
Hạn chế của cách chia nhóm này vì không rèn được cho HS khả năng làm quen, hợp tác.
 Chia theo địa bàn cư trú
- Chia nhóm theo nơi ở của HS.
- Các em tiện đến với nhau khi cần thực hiện các nhiệm vụ học tập ở nhà.
 Chia theo năng

c. Làm việc nhóm
- Lập kế hoạch chi tiết và có sự phân công cụ thể đến từng thành viên. Kế hoạch cần phải được
thoả thuận và nhất trí trong nhóm. Đảm bảo không có thành viên nào không đồng ý hay tự hoạt động
theo ý kiến riêng của mình.
- Thỏa thuận qui tắc làm việc và đề nghị mỗi thành viên đều phải tuân thủ.
- Tiến hành giải quyết nhiệm vụ. Trong quá trình thực hiện, nhóm trưởng cần nắm thật rõ sự phâ
n
công nhằm đôn đốc các thành viên hoàn thành đúng tiến độ. Mỗi thành viên đều có trách nhiệm với
công việc được giao và đồng thời hỗ trợ nhau để thực hiện mục tiêu chung của cả nhóm.
- Chuẩn bị báo cáo kết quả trước lớp.
d. Trình bày và đánh giá kết quả
Việc làm này xem như là nhiệm vụ bắt buộc sau mỗi lần hoạt động nhóm
, nó được coi trọng như
việc tiếp thu kiến thức mới. Một hiện tượng phổ biến, các em yếu kém thường thích tham gia hoạt
động nhóm không phải để học hỏi mà để tránh sự “chú ý” của GV. Nếu trong nhóm có thành viên
“lười biếng”, “ỷ lại” như vậy thì nhóm chỉ có nghĩa là nhóm chứ không có nghĩa là hợp tác. Để xây
dựng tinh thần trách nhiệm cá nhân và có sự hỗ trợ lẫn nhau, GV có thể ra tiêu chí: câu trả lời của một
thành viê
n phải được sự đồng ý của mọi người trong nhóm, ý kiến của thành viên yếu nhất sẽ được
đánh giá bằng điểm cho cả nhóm. GV tổ chức thi đua giữa các nhóm với tiêu chí: sẽ cho điểm nhóm
nào hoàn thành tốt nhất và nhanh nhất, khen thưởng cho các nhóm là như nhau chỉ khi mọi thành viên
đều hoàn thành tốt.
e. Tổng kết, rút kinh nghiệm
Do sự hạn hẹp về thời gian của một tiết học (45 phút)
hoạt động nhóm có thể tiến hành đơn giản
hơn: sau khi chia nhóm, giao nhiệm vụ cho nhóm, các HS trong nhóm cùng thảo luận, đưa ra kết luận
và trình bày kết quả.
1.3.8. Một số lưu ý để tổ chức hoạt động nhóm đạt hiệu quả
[4, tr.44], [19]
a. Tạo hứng thú đối với các hoạt động học tập mang tính hợp tác

Chuẩn bị sẵn các câu gợi mở, động viên khuyến khích H
S kịp thời những tiến bộ dù nhỏ.
Sau mỗi buổi học, GV phải yêu cầu người học đánh giá các hoạt động mà họ đã tham gia để có
những điều chỉnh cần thiết cho các hoạt động tiếp theo.
Để tạo không khí thi đua, nên cho các nhóm lên báo cáo, trình bày sản phẩm. Sau
đó bỏ phiếu
bình chọn, có phần thưởng cho nhóm đạt giải.
d. Đưa ra nhiệm vụ phù hợp
Cần chú ý rằng tầm quan trọng của nhiệm vụ. Nhiệm vụ hay sẽ có khả năng kích thích động cơ
học tập. Trong quá trình phân công cần lưu ý 4 điều sau đây:
- Choice (Sự lựa chọn): Sự tự do trong lựa chọn nhiệm vụ của người học sẽ thúc đẩy động cơ nội
tại của họ.
- Challenge (Thách thức): Thách thức chính là ở mức độ khó khăn của nh
iệm vụ.
- Control (Kiểm soát): Điều quan trọng là người học phải đánh giá được kết quả mong đợi,
khả năng cần huy động và cần phát triển đối với bản thân mình.
- Cooperation (Hợp tác): Nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp xã hội.
Cần chú ý rằng phương phá
p học tập theo nhóm được đánh giá cao hay thấp tuỳ thuộc vào nội
dung mà ta muốn truyền đạt. Theo một vài tác giả, phương pháp này sẽ hiệu quả hơn đối với việc giải
quyết các vấn đề, những nhiệm vụ không quá dễ đòi hỏi sự sáng tạo, ý tưởng đa dạng.

e. Đánh giá công bằng, khách quan
Cách đánh giá, khen thưởng cá nhân hay nhóm là một biện pháp không thể thiếu để kích thích các
thành viên trong nhóm hỗ trợ và hợp tác với nhau. Khi cơ hội nhận phần thưởng của cá nhân phụ thuộc
không chỉ vào thành tích của riêng họ mà cả thành tích của các thành viên khác trong nhóm thì các em
sẽ có ý thức với sự cố gắng và tiến bộ của các thành viên khác trong nhóm hơn.
GV cần xây dựng thang điểm đánh giá kết quả hoạt động nhóm. Hạn chế tối đa hiện tượng ăn
theo bằng cách đề ra những tiêu chí đánh giá đư
ợc sự đóng góp của mỗi thành viên.

13 Trường Chinh 1
14 Võ Trường Toản
Quận 12, TP. HCM
6
15 Nguyễn Trung Trực 2
16 Trần Hưng Đạo
Quận Gò Vấp, TP. HCM
8

17 Nguyễn Công Trứ 7
18 Gò Vấp 2
19 Dân lập Quốc Tế 1
20 Hồng Hà 1
21 Hàn Thuyên 3
22 Phú Nhuận
Quận Phú Nhuận, TP. HCM
5
23 Võ Thị Sáu Quận Bình Thạnh, TP. HCM 9
24 Hiệp Bình 3
25 Nguyễn Hữu Huân 3
26 Thủ Đức 2
27 Tam Phú
Quận Thủ Đức, TP. HCM
2
28 Vĩnh Lộc 3
29 Phan Chu Trinh 3
30 An Lạc
Quận Bình Tân, TP. HCM
6
31 Bình Chánh 7

Kết quả điều tra
Bảng 1.3. Mức độ sử dụng các PPDH
Tỉ lệ %
STT Phương pháp
Thường xuyên Ít Không
1 PP thuyết trình 60,48 35,48 4,04
2 PP đàm thoại 83,87 16,13 0
3 PP trực quan 47,83 52,17 0
4 PP sử dụng bài tập 83,87 16,13 0
5 PP nghiên cứu 10,48 70,97 18,55
6 PP dạy học nêu vấn đề 68,55 29,84 1,61
7 PP dạy học theo nhóm
21,77 69,35 8,88
8 PP dạy học theo dự án 1,61 27,42 70,97
9 PP đóng vai 0,81 25 74,19
10 PP dạy học theo tình huống 17,74 51,61 30,65

Dựa vào bảng 1.3, PPDH theo nhóm đã được GV quan tâm sử dụng phối hợp cùng với các PPDH
khác nhưng ở mức độ chưa thường xuyên.
Bảng 1.4. Tổng hợp phiếu thăm dò thực trạng
Tỉ lệ phiếu dùng PPDH theo nhóm ở mức độ
Điều kiện
cơ sở vật chất
Tổng số
phiếu
Thường xuyên Ít Không dùng
TỐT 46 28,26% 62,22% 9,52%
KHÁ 66 19,70% 66,67% 13,63%
TRUNG BÌNH 11 9,09% 54,55% 0
KÉM 1 0 100% 0

STT Những khó khăn khi tổ chức hoạt động nhóm SL %
1 Thời lượng tiết học ngắn. 102 89,47
2 Sỉ số lớp học đông (45-50HS/lớp). 94 82,46
3
Trình độ HS chênh lệch gây khó khăn trong việc chia
nhóm, thường dẫn đến hiện tượng “ăn theo”, “tách nhóm”.
83 72,81
4 HS còn thiếu chủ động và chưa quen hoạt động nhóm. 81 71,05
5 Cách bố trí lớp học (cố định, thiếu linh hoạt). 67 58,77

Dựa vào bảng 1.6, tác giả rút ra một số nhận xét:
- Thời lượng tiết học ngắn là điều khó khăn nhất cho việc tổ chức hoạt động nhóm (89,47%).
- Một lớp học đông khiến GV khó thiết kế và điều khiển hoạt động nhóm (82,46%).
- Việc đánh giá chính xác kết quả hoạt động của từng HS gặp nhiều khó khăn do hiện tượng “ăn
theo” và “tách nhóm” (72,81%).
- Các thành viên phối hợp không nhịp nhà
ng, thiếu chủ động (71,05%).
- Khi thảo luận nhóm, HS thường phải di chuyển và ngồi trực diện. Với cách bố trí bàn học ở các
trường hiện nay (bàn 2-4 HS) cố định làm cho việc thảo luận nhóm diễn ra không thuận lợi (58,77%).
Ngoài ra còn thêm một số ý kiến khác:
- Hình thức kiểm tra đánh giá chưa phù hợp.
- Mất nhiều thời gian để xây dựng hoạt động, theo dõi và đánh giá.
- Khó ổn định và điều khiển lớp học; đòi hỏi sự kiên nhẫn và khé
o léo của GV.
- Khó triển khai hoạt động nhóm đến đối tượng HS yếu.

- HS chưa có thói quen tự nghiên cứu SGK, tài liệu tham khảo.
- HS học nhiều môn, nếu môn nào cũng hoạt động nhóm và xây dựng dự án thì sẽ dẫn đến quá
tải.
- Chương trình các môn học còn nặng, HS không đủ thời gian chuẩn bị thấu đáo một vấn đề.

và báo cáo các thí nghiệm trong tiết thực hành.
Một số dạng hoạt động nhóm, cần đến sự hỗ trợ của máy chiếu, m
áy tính, các thiết bị nghe nhìn
thì được dùng ít hơn. Do trình độ tin học và thời gian còn hạn chế, HS chưa thể đầu tư cho một bài báo
cáo đầy đủ và sâu sắc. Điều này đòi hỏi GV phải kiên nhẫn, tốn thời gian để góp ý, trao đổi với HS về
vấn đề sẽ trình bày.
Các dạng tìm hiểu, báo cáo chuyên đề hóa học liên quan đến môi trường, đời sống, kinh tế, xã
hội; thực hiện dự án m
ôn học được dùng rất ít.
Kết luận:

Từ kết quả điều tra tác giả nhận thấy việc tổ chức hoạt động nhóm đã được áp dụng ở các trường
THPT. Hầu hết GV đều công nhận những ưu điểm của phương pháp dạy học theo nhóm. Nhưng thực
trạng cho thấy vấn đề về sỉ số, trình độ HS; cơ sở vật chất; nội dung và chương trình dạy học... còn gây
nhiều khó khăn c
ho việc tổ chức hoạt động nhóm, nên việc áp dụng còn chưa thường xuyên, cách thức
hoạt động chưa đa dạng và phong phú.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status