Chậm phát triển tâm thần : Hậu quả và biện pháp khắc phục - Pdf 14

Chậm phát triển tâm thần :
Hậu quả và biện pháp khắc
phục
Chậm phát triển tâm thần (CPTTT) không phải là một đơn thể bệnh mà
là một nhóm trạng thái bệnh lý khác nhau về nguyên nhân, bệnh sinh
nhưng có chung một bệnh cảnh lâm sàng đó là sự trì trệ về phát triển tâm
thần có tính chất bẩm sinh hoặc mắc phải chủ yếu trong 3 năm đầu đời
khi hệ thần kinh chưa hoàn chỉnh về cấu trúc.
CPTTT có nhiều mức độ từ nhẹ đến rất nặng. Ở những thể nặng chẩn
đoán dễ dàng vì bệnh cảnh lâm sàng khá rõ nhưng can thiệp điều trị lại
rất ít kết quả. Trẻ CPTTT thể nặng và thể vừa đều có những biểu hiện
kém về mặt tư duy, cảm xúc, hành vi tác phong hoặc có những dị dạng
cơ thể ở nhiều bộ phận. Rất may theo số liệu điều tra nghiên cứu của
nhiều tác giả thì CPTTT thể nặng chỉ chiếm 5%. Còn chẩn đoán CPTTT
thể nhẹ thì khó vì bệnh cảnh lâm sàng nhiều khi không rõ ràng nên khó
phân biệt nó với giới hạn bình thường nhưng nó lại chiếm tới hơn 80%.
Ở mức độ nhẹ này việc can thiệp bằng giáo dục, huấn luyện có thể giúp
trẻ phát triển trí tuệ tốt hơn, hòa nhập tốt hơn vào môi trường xã hội. Vì
chẩn đoán khó nên nhiều trường hợp bị bỏ sót, trẻ không được chăm sóc
giáo dục thích hợp ngay từ sớm, nếu kéo dài mới tìm cách khắc phục thì
hiệu quả rất kém. Chính vì vậy, trong bài viết này chúng tôi đi sâu tìm
hiểu về bệnh chậm phát triển tâm thần thể nhẹ để có thể phục hồi sớm
cho trẻ.

Biểu hiện của bệnh
Về mặt tư duy: Nhiều trường hợp khó phân biệt với mức bình thường.
Ngôn ngữ khá phát triển, hiểu người khác nói và tự diễn đạt các suy nghĩ
của mình. Có thể hình thành ngôn ngữ viết. Có khả năng tính toán, học
tập nhưng kém hơn so với bạn cùng tuổi. Có thể học hết cấp tiểu học
nhưng kết quả học tập thường kém hoặc rất kém, tư duy theo nếp cũ,
thiếu sáng kiến, khả năng phân tích tổng hợp kém.

tâm thần không còn giá trị để phân biệt nữa.
Cách thức cá nhân đó thực hành chức năng hàng ngày: Tùy theo tuổi trẻ
có những biểu hiện phù hợp như trẻ dưới một tuổi, những thực hành
chức năng như thời gian ngủ, nhu cầu ăn, các vận động lẫy – bò – ngồi –
đứng chững – đi hoặc trẻ đã biết bập bẹ từ đơn như mẹ, bà… có theo
quy luật thông thường không? Với trẻ lớn hơn, cần quan sát kỹ năng
thích nghi với cuộc sống hàng ngày như giao tiếp với xung quanh, tự
chăm sóc bản thân như tự mặc quần áo, đi tất, tự xúc cơm ăn, quan sát
cả sinh hoạt trong gia đình, giải trí, học tập… Một số trẻ bị CPTTT nhẹ
thì chỉ biểu hiện rõ khi đi học như chậm tiếp thu bài, người lớn cho là trẻ
lười, ham chơi không chịu học, lì lợm nên dùng roi vọt để dạy nhưng kết
quả càng tệ hơn mới cho con đi khám. Nếu được can thiệp sớm những
trẻ này lớn lên vẫn có thể sống tự lập trong cộng đồng và chỉ số IQ lúc
này không còn ở giới hạn CPTTT nữa.
Nguyên nhân đưa đến CPTTT
Di truyền và bẩm sinh: Như các bệnh dị dạng nhiễm sắc thể, rối loạn
men chuyển hóa, các rối loạn nội tiết, dị hình sọ não. Trong số các bệnh
dị dạng nhiễm sắc thể người ta thường nói đến bệnh Down. Bệnh này
được tác giả Langdon Down tìm ra năm 1866, người bệnh có 3 nhiễm
sắc thể 21 (bình thường chỉ có 2). Người bị hội chứng này có chỉ số IQ
thấp, mặt tròn to, mắt bé, mồm luôn để hở, người thấp bé… Đa số tác
giả nhấn mạnh yếu tố tuổi cao của bà mẹ liên quan trực tiếp đến bệnh
này. Tuổi của mẹ dưới 29 tuổi, xác suất sinh con bị hội chứng Down là
1/3000; từ 30 – 34 tuổi là 1/600; từ 35 – 39 tuổi là 1/280; từ 40 – 44 tuổi
là 1/70; và từ 45 – 49 là 1/40.
Vấn đề trong thai kỳ: Mẹ dùng rượu, ma túy, một số thuốc gây dị dạng
thai, thai bị suy dinh dưỡng, mẹ bị một số bệnh như Rubella, giang mai,
HIV… và ảnh hưởng tia X khi có thai.
Vấn đề lúc sinh: Các sang chấn sản khoa gây chấn thương não của trẻ sơ
sinh, trẻ sinh non, nhẹ cân…

Để phòng ngừa bệnh CPTTT cần:
1. Tầm soát ngay sau sinh những dầu hiệu bất thường, khác với sự phát
triển tâm sinh lý của trẻ để đưa đến cơ sở y tế khám.
2. Tiêm chủng đầy đủ theo lịch. Người mẹ cần tiêm phòng Rubella trước
khi có thai.
3. Xử lý môi trường trong sạch, lấy các chất kim loại nặng như chì, thủy
ngân ra khỏi môi trường sống để giảm tổn thương não của trẻ.
4. Đội mũ bảo hiểm để giảm chấn thương sọ não.
5. Điều trị AZT cho mẹ nhiễm HIV trong thai kỳ. Bổ sung axit folic cho
mẹ để giảm nguy cơ khiếm khuyết ống thần kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status