1
1
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI BỜ BIỂN HAI TỈNH QUẢNG TRỊ
VÀ THỪA THIÊN HUẾ DƯỚI GÓC ĐỘ ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN
Lê Văn Ân
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế
ĐẶT VẤN ĐỀ:
Hiện nay sự biến đổi bờ biển hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế đang
diễn ra rất nhanh chóng và phức tạp do sự tác động biến chứng, biến thiên không
ngừng của nhiều nguyên nhân khác nhau. Trên suốt chiều dài bờ biển và thậm
chí ở mỗi đoạn không dài, sự biến đổi bờ biển do các nguyên nhân, quá trình đan
xen lẫn nhau rất khó phân định. Tuy nhiên nếu xét một cách tổng quát các tác
nhân và quá trình gây biến đổi bờ biển chủ yếu thì sự biến đổi bờ biển ở Quảng
Trị, Thừa Thiên Huế theo chúng tôi có các loại cơ bản sau:
I. Biến đổi bờ biển do quá trình mài mòn, xói lở:
Mài mòn (Abration), xói lở (Erosion) đều là quá trình xâm thực phá hủy
bờ biển của yếu tố chủ đạo sóng biển ở các bờ biển cấu thành bởi các loại đá có
tính chất địa chất công trình khác nhau (mài mòn xảy ra ở bờ cấu thành bởi đá
cứng, còn xói lở ở bờ cấu thành bởi vật chất bở rời). Ở hai tỉnh Quảng Trị, Thừa
Thiên Huế bờ biển cấu thành bởi đá cứng có tỷ lệ chiều dài nhỏ (đoạn bờ biển
ban zan phía bắc cửa Tùng và đoạn bờ biển granit phía Nam Thừa Thiên Huế).
Mặc dầu các điều kiện tự nhiên ở khu vực rất tối ưu cho quá trình xâm thực phá
hủy của sóng, nhưng do đặc tính của đá nên nhìn chung tốc độ mài mòn phá hủy
của sóng đối với bờ không đáng kể, bờ biển biến đổi chậm. Trái ngược với diện
vực và các thời kỳ trong năm. Những khu vực xâm thực, xói lở nhanh và mạnh
bao gồm: đoạn bờ phía bắc mũi Lay (Quảng Trị) và các đoạn bờ như: Phú Thuận,
3
3
Phú Diên, Hải Dương, Điền Hòa, Vinh Hải (Thừa Thiên Huế). Tại các đoạn bờ
biển này tốc độ xói lở trung bình từ 15-20 m/năm, có nhiều nơi đạt trên 100m/
năm. Sự vượt trội về tốc độ xói lở ở các khu vực này được quyết định bởi sự hội
tụ nhiều điều kiện làm tăng cường xâm thực, phá hủy của tác nhân sóng.
Sự xâm thực xói lở bờ biển ở đây qua nghiên cứu cho thấy chỉ xảy ra chủ
yếu và mạnh nhất vào mùa thu đông, cực đại là vào từ tháng X đến tháng XI. Sự
vượt trội về cường độ và tốc độ xói lở bờ biển vào thời kỳ này được quyết định
bởi độ lớn của sóng (trung bình độ cao sóng vào mùa này là 0,8 - 1,3m còn mùa
hè, độ cao trung bình sóng chỉ 0,3- 0,6m), hướng sóng Đông Bắc chiếm tần suất
rất lớn. Ngoài ra, còn có sự tác động tăng cường của nước dâng do bão lũ.
II. Biến đổi bờ biển do quá trình bồi tụ:
Sự biến đổi bờ biển do bồi tụ ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế thường xảy ra
rất hạn chế cả về không gian và thời gian. Mặc dù sự biến đổi bờ biển do bồi tụ
hạn chế như vậy nhưng tác nhân tạo bồi tụ rất phức tạp. Nếu xét vai trò tạo bồi tụ
của tác nhân chủ yếu thì sự bồi tụ của bờ biển Quảng Trị, Thừa Thiên Huế có các
loại sau:
II.1 Bồi tụ do dòng chảy sông chiếm ưu thế: Quá trình bồi tụ do tác nhân
dòng chảy sông chiếm ưu thế chỉ phân bố với quy mô nhỏ và tạo nên các bãi bồi
có diện tích không đáng kể. Quá trình này thường xảy ra ở vùng cửa sông có phù
sa lớn và có bờ chắn đầm phá làm cho vận tốc và hướng dòng chảy thay đổi đột
ngột như cửa sông Hương, Ô Lâu và đầm Lập An (Lăng Cô).
II.4. Bồi tụ hoàn toàn do sóng: Loại bồi tụ này thường xảy ra vào mùa hè
và diễn ra đều khắp bờ biển cát do dịch chuyển ngang của bùn cát khi động lực
sóng yếu. Các thành tạo này thường có đời sống rất ngắn ngủi và có sự biến dạng
theo tác động của sóng. Vào mùa đông tuyệt đại bộ phận các thành tạo này bị phá
hủy.
5
5
Ngoài ra tại bờ biển Quảng Trị, Thừa Thiên Huế còn có những đoạn bờ
biển bồi tụ quanh năm do sự tác động tổng hợp của nhiều tác nhân và điều kiên
tự nhiên đặc biệt. Tuy nhiên sự phân bố của loại bờ biển này không đáng kể:
đoạn bờ biển Cảnh Dương, giữa các mũi nhô ven chân đèo Hải Vân (Thừa Thiên
Huế)
III. Biến đổi bờ biển do dịch chuyển cửa sông:
Quá trình dịch chuyển cửa sông thường xảy ra rất phổ biến ở các sông
thuộc hai tỉnh Quảng Trị và ThừaThiên Huế. Sự phổ biến của quá trình dịch
chuyển cửa sông ở hai tỉnh này theo chúng tôi được quyết định bởi điều kiện địa
lý tối ưu cho việc cung cấp vật chất (vật chất được cung cấp từ sóng lớn, vuông
góc xâm thực bờ cát bở rời; hải lưu; sông ngòi…) và tăng cường dòng di chuyển
vật chất dọc bờ của sóng (hướng sóng, hướng di chuyển của hải lưu). Chính sự
phát triển của dòng vật chất di chuyển dọc bờ đã tạo nên các đê cát dạng doi bao
ngoài cửa sông - Một đặc trưng hình thái địa hình vùng cửa sông rất đặc thù của
hai tỉnh. Sự án ngữ của đê bao trước cửa sông đã làm cho dòng chảy sông phải
mở đường di chuyển mới. Theo thời gian, cửa sông dần dần dịch chuyển khỏi vị
trí ban đầu. Do vận tốc dòng chảy ở cửa sông cao, khối lượng vật chất di chuyển
dọc bờ lớn và di chuyển chủ yếu theo hướng Bắc Nam nên các doi cát thường
các cửa chỉ xảy ra ở đầm phá Tam Giang - Cầu Hai và cũng chỉ xảy ra cục bộ
trên một đoạn đê cát chắn từ cửa Thuận An đến cửa Tư Hiền. Trái với sự thiếu
quy luật của chu kỳ dịch chuyển cửa sông thì thông thường sự đóng mở cửa biển
ở đây có tính quy luật rất rõ rệt. Ngoài sự mở cửa đột biến do sóng thần thì tất cả
các đợt mở cửa xảy ra trên bờ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai đều vào mùa bão lũ
và xác suất cao nhất là khi có lũ lịch sử. Bão lũ càng lớn thì xác suất mở cửa
càng cao, kích thước các cửa càng lớn, số lượng cửa được mở càng nhiều. Trên
cơ sở thống kê từ các tài liệu cho thấy chu kỳ mở cửa trên bờ đầm phá ngày càng
ngắn lại và mức độ biến động cửa càng cao. Trước đây chu kỳ mở đóng cửa có
thể tới hàng trăm năm, nhưng hiện nay chu kỳ đóng mở cửa trung bình chỉ
khoảng 10-15 năm. Sự rút ngắn chu kỳ đóng mở cửa biển trên bờ đầm phá Tam
7
7
Giang - Cầu Hai trong thời gian gần đây theo chúng tôi là do sự kết hợp giữa
nguyên nhân tự nhiên (sự tăng cường của bão lũ, nước dâng…) và với nguyên
nhân con người (các hoạt động làm mất dần khả năng điều tiết nước của lớp phủ:
đô thị hóa, phá rừng…) Ngược lại với quá trình mở cửa, quá trình đóng các cửa
trên bờ đầm phá lại chủ yếu xảy ra vào mùa khô nóng. Mùa hè càng khô nóng,
mực nước sông càng cạn kiệt thì quá trình đóng cửa xảy ra càng nhanh và cửa có
vận tốc lưu chuyển nước càng chậm, càng ít thì xác suất đóng càng cao. Vì thế,
quá trình đóng cửa có thể xảy ra ngay đối với cửa vừa mới mở. Như vậy, rõ ràng
rằng sự mở cửa biển chủ yếu để giải tỏa nước dồn về đầm phá trong mùa lũ và có
thể được tăng cường thêm bởi sóng lớn và nước biển dâng cao do bão còn việc
đóng cửa là do sóng, triều di chuyển vật chất vào khi dòng chảy từ đầm phá ra
biển suy yếu.
V
V
ị
ịt
t
r
r
í
íc
c
á
á
c
cc
c
ử
gl
l
ị
ị
c
c
h
hs
s
ử
ử
H
H
ư
ư
ớ
ớ
n
c
ử
ử
a
a
d
d
ị
ị
c
c
h
hc
c
h
h
u
u
y
y
ể
ể
n
n
T
T
h
h
ờ
ờ
i
ik
k
T
T
h
h
ờ
ờ
i
iđ
đ
i
i
ể
ể
m
mđ
đ
đ
đ
ị
ị
n
n
h
h
T
T
h
h
c
c
ử
ử
a
ak
k
h
h
ô
ô
n
n
g
gx
x
á
á
c
c
đầm phá Thừa Thiên Huế. Báo cáo Hội thảo đầm phá, Huế (2/2000).
3. Nguyễn Văn Cư. Diễn biến đầm phá Thừa Thiên Huế nhìn từ gốc độ
địa lí tự nhiên. Tạp chí TTKHCN Thừa Thiên Huế, số 01(2000).
V
V
ị
ịt
t
r
r
í
íc
c
á
t
r
r
o
o
n
n
g
gl
l
ị
ị
c
c
h
hs
s
ử
ử
y
ể
ể
n
nc
c
ử
ử
a
a C
C
á
c
h
h
u
u
y
y
ể
ể
n
n
T
T
h
h
ờ
ờ
i
ik
T
T
h
h
ờ
ờ
i
ik
k
ỳ
ỳđ
đ
ó
ó
n
n
g
h
ờ
ờ
i
iđ
đ
i
i
ể
ể
m
mđ
đ
ó
ó
n
n
g
gm
m
ở
T
T
h
h
ờ
ờ
i
iđ
đ
i
i
ể
k
h
h
ô
ô
n
n
g
gx
x
á
á
c
cđ
đ
ị
ị
n
n
h
h
địa chất vùng hạ lưu các con sông lớn khu vực Bình Trị Thiên. Báo cáo
Hội nghị lần thứ XIII - Đại học Mỏ địa chất.
TÓM TẮT
Hiện nay, sự biến đổi bờ biển Quảng Trị, Thừa Thiên Huế đang diễn ra rất
nhanh và phức tạp. Nếu xét tổng quát nguyên nhân tạo quá trình chủ yếu gây
1
1
1
1
biến đổi bờ biển thì sự biến đổi bờ biển Quảng Trị, Thừa Thiên Huế có các loại:
biến đổi do mài mòn, xói lở (xâm thực phá hủy); biến đổi do bồi tụ; biến đổi do
dịch chuyển, xâm thực và bồi tụ vùng cửa sông và biến đổi do mở đóng cửa trên
bờ đầm phá. Trong các loại biến đổi bờ biển đó thì sự biến đổi do xâm thực phá
hủy chiếm ưu thế và đặc biệt là xâm thực xói lở. Thực trạng biến đổi bờ biển như
vậy đang là mối đe doa đối với sự phát triển kinh tế ở khu vực này. Vì thế, để
phát triển kinh tế- xã hội vùng ven biển của hai tỉnh cần hiểu rõ bản chất của
từng loại biến đổi để từ đó có các phương án thích ứng và giải pháp khắc phục.
THE CHANGING PROCESS OF THE COASTLINES
IN QUANG TRI AND THUA THIEN HUE PROVINCES
Le Van An
College of Pedagogy, Hue University
SUMMARY
The present changes of the sea coasts of Quang Tri and Thua Thien Hue
Provinces are so fast and complicated. The changes are of different types:
washing away, destroying-eroding, deposition, shifting, eroding and deposition