Luận văn công nghệ sinh học Đánh giá mô hình ghép chồi cải tạo giống cà phê vối (Coffea canephora var. Robusta) tại vùng chuyên canh cà phê ở Đăk Lăk - Pdf 14

1. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cây cà phê là cây công nghiệp chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong nền
kinh tế của Việt Nam. Cây cà phê được xem là cây mũi nhọn trong chiến lược kinh tế
của Tây nguyên. Ngành cà phê phát triển đã giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho
hàng trăm ngàn lao động, ổn định đời sống, góp phần xóa đói giảm nghèo cho vùng
nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Trong 15 năm (1990 – 2004) Việt Nam đã xuất khẩu cà phê với tổng kim
ngạch xuất khẩu đạt 5.289.620.244 USD. Hiện nay, sản phẩm cà phê Việt Nam cung
cấp đến 40% sản lượng cà phê thế giới, cà phê Việt Nam được biết đến trên 71 quốc
gia và vùng lãnh thổ. Niên vụ 2007 – 2008 Việt Nam đã xuất khẩu 1.077.375 tấn đạt
giá trị 2.087.009 USD.
Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, diện tích cà phê cả nước năm 2009 có
khoảng 506.000 ha được trồng từ những năm 80 - 90 của thế kỷ trước, tập trung chủ
yếu ở các tỉnh Tây Nguyên với 469.563 ha chiếm 92,79%, trong đó: Đăk Lăk
178.903 ha, Lâm Đồng 127.668 ha, Gia Lai 76.000 ha, Đăk Nông 72.500 ha, Kom
Tum 14.492 ha.
Cơ cấu giống cà phê hiện nay trong sản xuất: Chủ yếu là cà phê vối chiếm
92,86%; cà phê chè chiếm 6,14%; các giống khác chiếm 0,9%.
Hiện nay diện tích cà phê có tuổi kinh doanh trên 20 năm ngày càng tăng,
hiện có trên 123.107 ha trồng năm 1989 trở về trước chiếm 24,33% tổng diện tích và
diện tích già cỗi có tuổi kinh doanh trên 20 năm trong 5-10 năm tới sẽ tăng nhiều và
chiếm khoảng gần 50% diện tích cả nước (Bộ NN&PTNT, 2009).
Trước đây, hầu hết các diện tích cà phê được trồng bằng hạt (cây thực sinh),
công tác tuyển chọn giống không được người sản xuất chú trọng nên vườn cây khi
đưa vào kinh doanh, thâm canh cho năng suất cao nhưng vẫn có những biểu hiện
vườn cây không đồng đều, năng suất không ổn định do trong vườn có những cây quả
ít, quả nhỏ, cây không có quả và bị bệnh gỉ sắt chiếm tỷ lệ cao.
1
Mặt khác vườn cây cà phê kinh doanh có độ tuổi cao nên năng suất, chất
lượng giảm dần.

3
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Đặc điểm nông sinh học cây cà phê vối
2.1.1. Phân loại thực vật
Cà phê vối (Coffea canephora) thuộc chi Coffea, nhóm Eucoffea, họ
Rubiaceae, bộ Rubiales, số lượng nhiểm sắc thể của chi Coffea là x=11. Coffea
canephora là loài nhị bội (2n=22). Do tính bất hợp nên trong tự nhiên cũng như
trồng trọt, các quần thể cà phê vối rất đa dạng về hình thái, gồm những cá thể mang
tính dị hợp cao độ [3].
Bộ Rubiales
Họ Rubiaceae
Chi Coffea
Nhóm Eucoffea
Loài Coffea canephora
2.1.2. Nguồn gốc xuất xứ và phân bố cây cà phê vối
Cà phê vối có nguồn gốc từ Trung Phi, phân bố rải rác dưới các tán rừng thưa,
thấp thuộc vùng châu thổ sông Congo khoảng giữa 10
0
vĩ Bắc và 10
0
vĩ Nam. Cà phê
vối từ Tây Phi và Madagascar đưa sang Nam Mỹ và Amsterdam vào năm 1899, sau
đó từ Amsterdam đưa sang Java vào năm 1900 và sau đó từ Java lại trở về Châu Phi
vào năm 1912. Cà phê vối được trồng phổ biến, chiếm gần 40% tổng diện tích cà phê
của thế giới và khoảng 35% tổng sản lượng cà phê xuất khẩu hằng năm, các nước
trồng cà phê vối gồm có: Cameroom, CoteDivoire, Angola, Cộng hoà trung phi,
Congo, Guine xích đạo, Gabon, Ghana, Guinea, Indonesia, Lebiria, Madagascar,
Nigievia, Philipines, Sireleane, Srilanca, Thailan, Togo, Trinidat và Tolago, Uganda,
Việt Nam và Zaire.
Các giống cà phê vối được trồng phổ biến là giống Rubusta và giống Kouilou:

Rễ cọc được hình thành từ phôi mầm, rễ cọc thường là một rễ to khoẻ,
mọc thẳng, ăn sâu xuống đất từ 1,2 – 1,5m (tùy loại đất trồng).
5
Các rễ phụ mọc từ rễ cọc và đâm thẳng xuống sâu làm nhiệm vụ hút nước
nuôi cây. Các rễ ngang mọc từ rễ phụ đâm vào đất theo nhiều hướng khác nhau, các
rễ ngang phát triển thành hệ thống, phần đầu là các lông hút phát triển dày đặc làm
nhiệm vụ hút dinh dưỡng. Rễ cây cà phê vối tập trung ở tầng đất mặt từ 0 – 30cm,
chiếm trên 80% trọng lượng của cả bộ rễ.
Bộ rễ của cây cà phê thuộc loại háo khí, rễ tơ phấn bố chủ yếu ở tầng đất mặt,
chức năng chủ yếu là hút dinh dưỡng, nước trong đất để cung cấp cho cây nên trong
sản xuất cần có biện pháp bảo vệ, chăm sóc nhằm hạn chế tác động, ảnh hưởng đến
rễ.
2.1.3.2. Thân, cành, lá
- Thân: cà phê là loại cây nhỏ, trong điều kiện để tự nhiên cao từ 8 – 12m và
có rất nhiều thân do khả năng phát sinh chồi vượt rất mạnh, thân thuộc loại gỗ, cứng,
mọc thẳng, thân có nhiều đốt, mỗi lóng (đốt) dài 7 – 14cm tuỳ theo điều kiện ngoại
cảnh và giống. Khi cây còn non phân biệt rất rõ đốt, mỗi đốt có 2 lá, mỗi nhánh lá có
vùng mầm. Vùng mầm phía trên hình thành quả, vùng mầm phía dưới hình thành
chồi vượt.
- Cành: đặc điểm cành cà phê vối có cành cơ bản to, khoẻ vươn dài nhưng khả
năng phát triển cành thứ cấp ít hơn so với các giống cà phê khác. Cành mọc đối
xứng, mộc hoá chậm và tuỳ sinh thái từng vùng có khả năng phân cành ít hay nhiều,
trong điều kiện thích hợp để phát triển được thêm một cặp cành hay một đôi lá phải
cần một thời gian từ 25 – 30 ngày. Cây con sau khi trồng được khoảng 1 năm có khả
năng phát triển từ 12 – 14 cặp cành. Sự ra cành của cà phê trên thân theo quy luật đối
xứng (mỗi một đốt có cặp cành đối xứng) [3]. Cành cà phê có vai trò rất quan trọng,
có ảnh hưởng đến bộ tán cây và năng suất, sản lượng.
Cành quả: cành mọc từ thân chính còn gọi là cành cơ bản (cành cấp 1), mọc
thẳng góc với thân hoặc tạo thành một góc nhỏ hơn 90
0

Quá trình thụ tinh và hình thành nội nhủ non: tính bất hợp ở cây cà phê vối đã
được rất nhiều tác giả nghiên cứu. Theo Berthaud (1980) thì tính tự bất hợp ở cây cà
phê vối thuộc loại bất hợp ở thể giao tử do các đơn alen S
1
, S
2
, S
3
,…S
n
quy định khi
hạt phấn có mang một alen S nào đó trùng với alen của bầu nhuỵ thì bầu nhuỵ sẽ kìm
hãm không cho ống mầm của hạt phấn phát triển tiến sâu vào noãn để thụ tinh.
7
Sau quá trình thụ phấn, thụ tinh thì từ một bầu nhuỵ ban đầu của hoa cà phê
có thể phát triển tiến sâu vào noãn để thụ tinh.
Sau quá trình thụ phấn, thụ tinh thì từ một bầu nhuỵ ban đầu của hoa cà phê
có thể phát triển thành 3 loại khác nhau là:
- Quả cà phê có 2 bầu noãn, không được thụ tinh để hình thành loại quả chỉ có
2 mu vẩy, loại quả này không tiếp tục phát triển và sẽ rụng đi trong khoảng
một vài tháng sau đó.
- Quả cà phê chỉ có một bầu noãn được thụ tinh để hình thành một nội nhũ non,
còn bầu noãn kia không được thụ tinh và hình thành một mu vẩy. Loại quả
này tiếp tục phát triển cho ra quả chỉ có một nhân dạng hình tròn gọi là hạt
Caracolis.
- Quả có hai bầu noãn để phát triển hình thành nên hai nội nhủ non, loại quả
này trong điều kiện thuận lợi sẽ phát triển thành một quả có hai nhân bình
thường.
+ Quá trình phát triển và hình thành hạt cà phê: sau khi được thụ tinh quả cà phê
tiếp tục phát triển qua nhiều giai đoạn.

2.1.4.1. Yêu cầu về khí hậu
- Nhiệt độ: nhiệt độ là yếu tố mang tính giới hạn đối với sự phát triển, sinh
trưởng của cây cà phê, cây cà phê cần nhiệt độ thích hợp từ 24 – 30
0
C, thích hợp nhất
là 24 – 26
0
C. Cà phê vối chịu rét kém, ở nhiệt độ 7
0
C cây ngừng sinh trưởng và từ
5
0
C trở xuống cây bắt đầu bị gây hại nghiêm trọng. Độ cao và sự chênh lệch về nhiệt
độ giữa các tháng trong năm, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm có ảnh hướng rất lớn
đến chất lượng cà phê, đặc biệt là hương vị của hạt. Giai đoạn hạt cà phê được hình
thành và tích luỹ chất khô nếu nhiệt độ càng xuống thấp và chênh lệch biên độ giữa
ngày và đêm càng cao thì chất lượng cà phê càng cao. Những vùng này hay xuất hiện
sương muối, gió rét và gió nóng đều bất lợi đến sự sinh trưởng và phát triển của cây
cà phê.
- Lượng mưa: cây cà phê vối thường ưa thích với điều kiện khí hậu nóng ẩm,
ở những vùng có độ cao thấp nên cần một lượng mưa trong năm khá cao từ 1.500 –
9
2.000 mm và phân bố tương đối đều trong 9 tháng. Cà phê vối là cây thụ phấn chéo
bắt buộc nên phải có có một thời gian khô hạn ít nhất là 2 – 3 tháng sau giai đoạn thu
hoạch để phân hoá mầm hoa. Vào giai đoạn lúc cây nở hoa yêu cầu phải có thời tiết
khô ráo không có mưa.
Lượng mưa ảnh hưởng trực tiếp đến các giai đoạn sinh trưởng và phát triển
của cây cà phê, lượng mưa trong năm thấp ảnh hưởng đến quá trình phân hoá mầm
hoa, nở hoa. Khi lượng mưa khá cao, phân bố không đều giữa các tháng trong năm
thì quá trình sinh trưởng dinh dưỡng lớn hơn quá trình sinh trưởng thực, vì vậy cây

trình quang hợp của cây. Mỗi giai đoạn phát triển khác nhau thì yêu cầu ánh sáng đối
với cây cà phê cũng khác nhau, thời kì cây con nếu ánh sáng mạnh và không được
che bóng dẫn đến cây chậm phát triển, đốt thân ngắn. Thời kì cây lớn, cường độ sáng
liên quan đến quá trình quang hợp, khi cường độ ánh sáng yếu thì cường độ quang
hợp tỷ lệ thuận với cường độ ánh sáng. Thời gian chiếu sáng cũng ảnh hưởng đến
sinh trưởng, khi xử lý nhân tạo chiếu sáng 13 giờ/ngày thì mầm hoa không phát triển
mà chỉ phát triển dinh dưỡng.
- Gió: gió cũng là tác nhân gây bất lợi đối với cây cà phê, khi gió lặng, gió
nhẹ giúp tăng khả năng thụ phấn, tăng cường độ quang hợp và tăng quá trình vận
chuyển dinh dưỡng cho cây cà phê. Gió lớn làm tăng quá trình thoát hơi nước, làm
rụng hoa, quả cà phê. Vùng Tây Nguyên nói chung và Đăk Lăk nói riêng trong
những tháng mùa khô có gió hướng Đông Bắc thổi mạnh, vì vậy cần phải trồng hệ
thống đai rừng để chắn gió giúp cho cây cà phê phát triển tốt trong điều kiện mùa
khô.
2.1.4.2. Yêu cầu về đất đai
Cà phê là loại cây công nghiệp lâu năm, có chu kì kinh doanh dài trên 20 năm,
có bộ rễ, thân, cành lá phát triển mạnh và hàng năm cung cấp khối lượng lớn sản
phẩm. Vì vậy đất trồng cà phê phải phù hợp đặc tính thực vật học, đặc biệt là bộ rễ
rất háo nước nên đất phải giàu dinh dưỡng, tơi xốp và khả năng thoát nước tốt.
Cà phê có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, trong đó đất bazan là một
trong những loại đất rất lý tưởng để trồng cà phê vì các đặc điểm lý, hoá tính tốt và
tầng canh tác dầy. Đất trồng cà phê phải tơi xốp, tầng canh tác dầy, có mức nước
ngầm thấp, giữ, thoát nước tốt và yêu cầu lý tính đất nghiêm ngặt hơn cả hoá tính.
11
Tính chất vật lý, hoá học đất: tính chất vật lý quan trọng hơn so với tính chất
hoá học, để cải tạo được tính chất vật lý cần phải trải qua một thời gian dài và rất khó
cải tạo. Trong tính chất vật lý đất thì cấu tượng và độ sâu tầng dày đất là hai yếu tố
quan trọng nhất.
Tầng đất càng dày thì bộ rễ phát triển càng mạnh, rễ có thể đâm sâu để hút
nước, dinh dưỡng ở các tầng đất sâu hơn. Nếu tầng đất quá mỏng bộ rễ cà phê không

Bệnh do nấm Hemileia vastatrix B & Br gây ra, thuộc họ Pocinniaceae, bộ
Uredinales, lớp nấm đảng (Basidiomey cetes), số cây bị bệnh trên cà phê vối được
chia làm hai dạng như sau:
+ Bệnh phát sinh tháng 6, phát triển mạnh vào các tháng 7- 8 đỉnh cao tháng
12 - 1 chiếm tỉ lệ 10% số cây bệnh, tỷ lệ bệnh trung bình cao nhất 90%, chỉ số bệnh
trên 30% các cây ở dạng này là những cây cà phê nặng.
+ Bệnh phát sinh đầu mùa mưa, phát triển mạnh tháng 12, đạt đỉnh cao vào
tháng 1, tỷ lệ lá bị bệnh dưới 40%, chỉ số bệnh dưới 2%, khoảng 20% số cây bị bệnh.
• Phòng trừ:
- Sử dụng giống kháng bệnh
- Loại bỏ các cây con bị bệnh trước khi trồng
- Ghép chồi để thay thế các cây bị bệnh nặng
- Sử dụng các loại thuốc hóa học: Tilt, Bamper, Sumi-eight, Bayleton nồng độ
0,1% hay Anvil nồng độ 1% [3].
13
2.2. Cơ sở khoa học của nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép
Ghép là sự kết hợp của một bộ phận cây này với một bộ phận của cây khác
tạo thành một tổ hợp cùng sinh trưởng, phát triển như một cây thống nhất và gọi là
cây ghép.
Khi bóc vỏ một thân hoặc một chồi non thì thấy giữa lớp vỏ và gỗ có những tế
bào trong dính nhau nhơn nhớp (nhầy) đó gọi là mô phân sinh rất quan trọng trong
tầng sinh gỗ. Tế bào của tầng sinh gỗ nhân lên thành gỗ bên trong và vỏ bên ngoài
tạo nên mạch dẫn nuôi cây
Chẻ ngọn gốc ghép và vạt chồi ghép tức là tạo điều kiện cho tầng sinh gỗ giữa
chồi ghép và gốc ghép tiếp xúc nhau, sự tiếp xúc giữa hai tầng sinh gỗ chặt chẽ nên
tế bào mô mềm của cả hai phía chẳng bao lâu sẽ hợp nhau thành mô tiếp xúc gọi là
mô sẹo. Những tế bào mô sẹo được hình thành với tầng sinh gỗ của gốc ghép và chồi
ghép phân hoá thành một tầng phân sinh mới. Tầng phân sinh này sinh ra các mô dẫn
hình thành hệ thống dẫn nhựa mới, từ đó mà nhựa nguyên (nhựa sống) ở gốc ghép có
thể cung cấp cho cành ghép phát triển thân lá và ngược lại nhựa luyện (nhựa chín )

ghép nối ngọn để cải thiện năng suất.
Với cà phê vối đã thử nghiệm nhiều kiểu ghép và kết quả rất biến thiên. Mặc
dù các cá thể được tinh dòng hóa thì đồng nhất về di truyền nhưng sinh trưởng của
cây ghép cũng chịu ảnh hưởng phần nào của gốc ghép do sức sống của gốc ghép
hoặc do phản ứng không phù hợp trong tổ hợp ghép, sự không hợp nhau giữa các
loài cũng có thể xảy ra ( Plantnium Jubilee, 1925 – 2000).
Việc thay thế phần trên ngọn của một cây bằng ngọn của một giống khác hoặc
cùng một giống có những đặc tính mong muốn được gọi là ghép chồi
Ghép có 3 phần, đó là: chồi ghép, gốc ghép và nơi ghép.
+ Chồi ghép: Chồi ghép là một phần nhỏ của chồi được đính từ cây mẹ mong
muốn và có nhiều mầm ngủ, những mầm này sau ghép trở thành ngọn cây.
+ Gốc ghép: Gốc ghép là phần thấp hơn của cây ghép dưới vết ghép, là nơi
giúp cây bám giữ trên mặt đất qua hệ thống rễ của nó.
15
+ Nơi ghép: Nơi ghép là nơi hoà lẫn của chồi và gốc đưa chất dinh dưỡng từ
hệ thống rễ tới chồi ghép. Nơi ghép là một phần rất quan trọng của cây ghép, nó
quyết định thời gian sống của một cây ghép. Nơi ghép không hoàn hảo cho thấy tính
không tương hợp giữa chồi và gốc, dẫn tới chồi ghép sinh trưởng không tốt biểu hiện
thiếu dinh dưỡng đa lượng hoặc vi lượng hoặc cả hai. Đối với một vết ghép thành
công, việc sắp xếp của tượng tầng của chồi ghép tiếp xúc gần với tượng tầng của gốc
ghép là một trong những điều quan trọng nhất. Điều này giúp cho việc thành lập mô
sẹo nơi vết ghép.
+ Tượng tầng (tầng phát sinh): Là một mô mỏng của cây được xác định là ở
giữa vỏ (Phloem) và gỗ (Xylem). Nó có các tế bào mô phân sinh có thể phân chia và
tạo tế bào mới.
+ Mô sẹo: Một số lượng lớn của những tế bào mô mềm được tạo ra từ bề mặt
được cắt của chồi và gốc quanh vết ghép được gọi là mô sẹo. Trong quá trình hình
thành mô sẹo việc gắn chặt của mô ở chồi ghép và gốc ghép xảy ra để giúp cho vết
ghép khỏe và thành công.
2.2.2. Sự liên quan giữa Gốc ghép - Chồi ghép.

Ramon lùn, đã trồng được 17 năm tuổi, chu vi của gốc lớn hơn gốc của San Ramon
để lại không ghép. Có lẽ điều này xảy ra là do đặc tính khoẻ mạnh của chồi được
ghép lên San Ramon.
2.2.3. Ghép ngoài đồng
2.2.3.1. Nhận dạng cây trồng:
Là cây trồng lâu năm, cà phê thuộc loại mang quả có chu kỳ. Trong một đồn
điền cà phê, thường có 4 loại cây được nêu như sau:
a. Cây mang quả bình thường, năng suất ổn định.
b. Cây có năng suất cao trong một năm và năng suất thấp hoặc không cho
năng suất vào năm tiếp theo và trông rất kiệt sức.
c. Cây có năng suất thường xuyên thấp mặc dù sinh trưởng tốt.
17
d. Dạng không điển hình là những cây trong quần thể của một giống đặc biệt
mà không có những đặc điểm của giống đó.
Trong 4 loại trên, cây ở loại c và d có thể được ghép nối ngọn bằng vật liệu
chồi mong muốn và loại b cây tỏ ra kiệt sức không cần ghép bởi vì chúng sẽ phát
triển và cho quả trong năm sau (Gillett, 1932).
Ở cà phê, chỉ những chồi vượt được sử dụng làm chồi cho mục đích ghép.
Chồi ngang không nên dùng cho ghép nối ngọn vì nó tạo ra chồi bên không sinh
trưởng thẳng để tạo thành bụi.
Những cây/giống không mong muốn được ghép cải tạo được đánh dấu trong
tháng 11- 12 trước thu hoạch. Cùng lúc ấy những cây đạt năng suất cao, không sâu
bệnh với các đặc tính của quả mong muốn được đánh dấu, có thể được sử dụng làm
chồi ghép.
2.2.3.2. Cưa gốc ghép
Việc cưa gốc ghép của những cây không mong muốn thông thường được
thực hiện trong tháng 3 - 4, sau khi tưới hoặc phun nước cho nở hoa. Những cây
được cưa bằng một cái cưa tay ở độ cao cách mặt đất 30 cm tạo một vết cắt xiên. Bột
Bordeux được chuẩn bị bằng cách hoà tan 100 g Sulphat đồng và 100 g vôi bột trong
một lít nước được quét lên bề mặt vết cắt để ngăn ngừa sự tấn công của nấm làm thối

Cưa tay, kéo cắt cành và dao ghép. Cưa tay được sử dụng để cưa gốc ghép.
Kéo cắt cành được dùng để loại bỏ các chồi vượt không cần thiết mọc từ gốc đã cưa
và dao ghép được dùng để tạo nêm ở chồi ghép và vết chẻ trên gốc ghép. Ngoài ra có
một số vật liệu khác như dây nilon, túi nilon dùng để cột và che phủ lên cây sau
ghép.
+ Khử trùng dao ghép
Trước khi dùng dao ghép cần được khử trùng bằng cồn. Vì quá trình ghép
được thực hiện trong mùa mưa, cây và cành mang rất nhiều bào tử nấm có thể ảnh
hưởng đến bề mặt vết cắt của chồi và gốc ghép nếu không tuân thủ biện pháp giữ vệ
sinh.
+ Tạo nêm và vết chẻ
19
Có 2 loại gỗ được sử dụng cho ghép ngoài đồng đối với cà phê, đó là chồi
ghép có gỗ mềm và gỗ nửa cứng. Chồi lấy từ cây non khoẻ mạnh cho kết quả ghép
tốt hơn cây già. Chồi vượt > 6 tháng tuổi có màu nâu không thích hợp cho ghép vì
cho tỉ lệ thành công thấp. Chồi vượt được cắt thành những đoạn cành có 1 đốt, có 2
cành ngang ở nách lá, giữ lại một diện tích là còn một nửa hay 1/3. Dạng khác của
chồi ghép là chồi đỉnh có diện tích lá giảm đi 1/2 hay 1/3 kích thước. Chồi ghép nửa
cứng cho tỉ lệ ghép tốt hơn trong mùa mưa.
Sau khi tạo hình ở cổ rễ, những chồi mới nảy nở và sẵn sàng cho ghép trong
tháng 6 - 7. Chỉ giữ lại 2 chồi khoẻ ở vị trí giữa của gốc ghép còn những chồi khác
được vặt đi.
Để tạo một vết chẻ trên gốc ghép, chọn 2 chồi khoẻ trên cây cưa được cắt
ngang phía dưới của đốt đầu tiên ở độ cao 5-10 cm và chẻ một đường dọc từ trên
xuống ở giữa gốc ghép. ở Kenya, sự để lại lá hoặc ngay cả cặp cành ngang trên chồi
gốc ghép phía dưới vết ghép giúp tăng cao tỉ lệ ghép thành công (Cramer, 1957).
Một chồi vượt nửa cứng, khoẻ mạnh có đường kính bằng cây bút chì được thu
từ cây được đánh dấu là xuất sắc và một cành giâm có một đốt được chuẩn bị làm
chồi ghép. Để tạo nêm người ta dùng một dao sắc tạo hai vết cắt xiên ở phần thấp
hơn của cành giâm một đốt. Lá được cắt đi để lại 1/2-1/3 diện tích lá nhằm ngăn

phần đốt của chồi ghép, trong đó một chồi mọc nhanh hơn và một chồi mọc chậm.
Chồi mọc khoẻ được giữ lại, chồi yếu hơn được vặt đi. Sức sống và khả năng phát
chồi mới phụ thuộc vào kích thước và tuổi của gốc ghép cũng như mùa ghép.
+ Những yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của việc ghép
- Sự tương hợp, dạng cây, nhiệt độ, ẩm độ, điều kiện Oxy, sự hành thạo của
người ghép,kỹ thuật ghép, sức khoẻ của gốc ghép và chồi ghép, tuổi của chồi ghép
và gốc ghép, tình trạng sinh lý và sinh hóa, đặc điểm thực vật của gốc ghép và chồi
ghép
+ Tính tương hợp (compatibility) là khả năng của hai cây khác nhau, được
ghép chung, tạo ra được sự tiếp hợp thành công tốt và về sau phát triển tốt thành một
cây hỗn hợp hoàn chỉnh. Dĩ nhiên, hiện tượng ngược lại thì gọi là tính không hợp
21
(incompatibility), giữa một tiếp hợp ghép hợp với không hợp không có ranh giới rõ
rệt. Một mặt, gốc và chồi ghép của những cây quan hệ gần dễ dàng kết hợp và mọc
thành một cây. Mặt khác, gốc và chồi của hai cây không có quan hệ ghép chung thì
hầu như hoàn toàn không kết hợp. Nhiều phối hợp ghép nằm giữa hai thái cực này,
trong đó thoạt đầu chúng có tiếp hợp, thành công thấy rõ, nhưng dần dần bộc lộ
những triệu chứng suy thoái theo thời gian, do tiếp hợp bị hư hỏng hoặc xuất hiện
kiểu sinh trưởng bất thường.
+ Triệu chứng của sự ghép không tương hợp.
Sự tiếp hợp không tốt nơi ghép do sự không hợp thường luôn có đi kèm với
một số triệu chứng bên ngoài. Dưới đây là các triệu chứng đi kèm với các tổ hợp
ghép không phù hợp:
- Không thành lập được sự hợp nhất trong khi ghép.
- Tỉ lệ ghép thành công thấp.
- Cây ghép chết ngay cả sau khi sự hợp nhất đã xảy ra.
- Lá vàng và rụng trong giai đoạn chưa thành thục.
- Triệu chứng thiếu dinh dưỡng.
- Sinh trưởng tốt hay xấu ở phía trên và dưới vết ghép.
- Tạo những khối u (sưng phồng quá mức) ở vết ghép.

buộc chặt lại với nhau. Sẽ tạo ra các tế bào nhu mô mới nhờ các tế bào vùng tượng
tầng của cả hai mảnh sinh sôi nhiều, hình thành mô sẹo. Một số tế bào nhu mô mới
tạo ra phân hóa thành các tế bào tượng tầng, các tế bào tượng tầng sau đó tạo ra
mạch libe và mạch gỗ.
Giữa hai mảnh chẻ, nếu người ta chèn vào một mảnh thân thứ 3 đã rời khỏi
cây mẹ và được cắt sao cho phần lớn các tế bào tượng tầng có thể được đặt dính khít
với tế bào tượng tầng của hai mảnh chẻ kia, thì sự sinh sôi của các tế bào nhu mô ở
tất cả các vùng tượng tầng sẽ nhanh chóng làm vết thương lành hoàn toàn và mảnh
23
cây rời từ bên ngoài chèn vào được nối hoàn toàn giữa hai mảnh chẻ ban đầu. Tiếp
hợp ghép chính là một vết thương được lành, với một mảnh mô lạ từ bên ngoài đưa
vào gắn chặt qua vết thương đã lành.
Tuy nhiên, mảnh mô được thêm vào, là phần chồi ghép, sẽ không tiếp tục sinh
trưởng thành công, trừ khi sự nối mạch dẫn có xảy ra để cho chồi ghép có thể lấy
được nước và dinh dưỡng khoáng. Ngoài ra, chồi ghép phải có vùng phân sinh ngọn
- 1 mầm - để chồi tiếp tục sinh trưởng, và sau cùng cung cấp chất quang hợp cho hệ
rễ.
Trong quá trình lành vết ghép, các bộ phận ghép trước đó được chuẩn bị và
lắp đặt dính chặt với nhau, bản thân chúng không tự vận động hoặc tự sinh trưởng
chung. Sự tiếp hợp chỉ hoàn tất nhờ các tế bào phát triển sau khi thực hiện công đoạn
ghép thực sự.
Ngoài ra, xin nhấn mạnh: trong tiếp hợp ghép không xảy ra sự trộn lẫn của vật
chất bên trong tế bào (nghĩa là hòa lẫn vật chất bên trong tế bào hay nguyên sinh
chất). Các tế bào do gốc ghép và chồi ghép tạo ra đều duy trì đặc điểm riêng của gốc
và chồi.
Xem xét chi tiết hơn các bước có liên quan tới lành vết ghép chúng ta có thể
nói rằng điểm đầu tiên liệt kê dưới đây là một bước sơ bộ nhưng lại là quan trọng và
là bước mà người nhân giống có thể kiểm soát.
- Tạo sự tiếp xúc chặt cho phần lớn vùng tượng tầng của gốc và chồi ghép trong
điều kiện môi trường phù hợp.

ghép được tạo ra trong vùng này có thể đan vào nhau. Các lớp tượng tầng của gốc và
chồi ghép hơi chồng lên bảo đảm cho sẹo đan vào nhau. Chính trong vùng tượng
tầng sự tạo sẹo xảy ra mạnh nhất. Hai tượng tầng không khớp nhau có thể làm chậm
tiếp hợp, nếu hoàn toàn không khớp nhau thì tiếp hợp không xảy ra. Khi nghiên cứu
ghép cây 1 lá mầm, nhận thấy tượng tầng không nhất thiết cần phải có để tiếp hợp
thành công, mà miễn là có bất kể mô phân sinh nào có thể tạo sẹo và dẫn tới hình
thành chỗ tiếp hợp giữa gốc và chồi.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status