Báo cáo nghiên cứu,
đánh giá
Thực trạng về quản lý khai
thác sử dụng tài nguyên
khoáng sản Việt Nam 1
TỔNG HỘI ĐỊA CHẤT
VIỆT NAM
LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC
Luật Đất đai… và chưa phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Thực hiện chức năng tư vấn phản biện theo Quyết định 22/2001/QĐ-TTg, Liên
hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Viện Tư vấn phát
triển (CODE) và Tổng hội địa chất Việt Nam đã triển khai chương trình nghiên cứu thực
tiễn và hội thảo với chủ đề “Tài nguyên khoáng sản và phát triển bền vững ở Việt Nam”.
Hy vọng kết quả nghiên cứu này sẽ góp thêm những luận cứ khoa học, phân tích thực
tiễn về ngành khai thác khoáng sản cho các cơ quan quản lý Nhà nước và Quốc hội, đặc
biệt trong bối cảnh Luật khoáng sản sửa đổi, bổ sung. 2
II. PHƯƠNG PHÁP TRIỂN KHAI
1. Các phương pháp sử dụng
Để có được kết quả đánh giá này, các cơ quan tổ chức đã triển khai thực hiện các
phương pháp sau đây
(1). Tập hợp và phân tích số liệu, tài liệu thứ cấp: Thu thập số liệu thống kê, các nghiên
cứu, phân tích đánh giá liên quan đến hoạt động khoáng sản ở Việt Nam thời gian
qua. Nghiên cứu tham khảo chính sách và kinh nghiệm về khai thác khoáng sản một
số nước và sáng kiến về khai thác khoáng sản bền vững trên thế giới…
(2). Nghiên cứu thực địa:
- Điều tra nghiên cứu thực trạng khai thác sa khoáng Titan ở một số tỉnh ven biển
miền Trung như Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam,
Bình định, Bình Thuận;
- Điều tra nghiên cứu thực trạng quản lý và khai thác than ở Quảng Ninh;
- Điều tra nghiên cứu chương trình bô xít Tây Nguyên và nghiên cứu điểm tại các
dự án thí điểm bô xít ở Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân cơ (Đăk Nông);
- Phối hợp với Liên hiệp hội KH&KT địa phương nghiên cứu thực trạng khai thác
khoáng sản tại Yên Bái, Hoà Bình và một mỏ khai thác khoáng sản ở vùng Tây
Bắc.
(3). Giao cho Hội khoa học và công nghệ mỏ thực hiện đề tài tư vấn, phản biện cho Luật
Hồng) nhưng trữ lượng đã được thăm dò đến nay là rất nhỏ. Các số liệu về trữ
lượng/tài nguyên than theo các báo cáo trước đây chưa chính xác nhưng khi
công bố tạo ra ảo giác là Việt Nam có rất nhiều than. Theo số liệu của Tổ chức
năng lượng quốc tế, trong tổng số khoảng 929 tỷ tấn trữ lượng than tin cậy của
thế giới tính đến tháng 1/2006, Việt Nam chỉ được gộp trong số các nước còn
lại của châu Á không nằm trong khối OECD với tổng trữ lượng chung chỉ có
9,7 tỷ tấn;
(ii) Nhóm khoáng sản không kim loại và vật liệu xây dựng: có nhiều và có thể đáp
ứng và phần lớn chỉ để phục vụ cho xây dựng và phát triển đất nước;
(iii) Nhóm các loại khoáng sản kim loại quý hiếm: mà thế giới đang rất cần như
vàng, bạc, đồng, chì, kẽm, thiếc… nhu cầu thế giới cần rất nhiều nhưng trữ
lượng của Việt Nam lại ít và chỉ khai thác mấy chục năm nữa sẽ cạn kiệt. Việt
Nam chưa phát hiện được kim cương; các loại đá quý như ruby, saphia,
peridot tuy có nhưng chưa rõ trữ lượng.
- Một số loại khoáng sản có trữ lượng đáng kể như bô xít, đất hiếm, ilmenit… nhưng
chủ yếu vẫn đang ở dạng tiềm năng dự báo. Ngoài ra, Thế giới cũng có rất nhiều các
loại khoáng sản này và nhu cầu tiêu dùng trên Thế giới đối với các loại khoáng sản
này là không cao và hiện tại gần như bão hòa, chẳng hạn:
¾ Tài nguyên bô xít được đánh giá khá dồi dào nhưng chất lượng thấp và có nhiều
thách thức, bất lợi lớn khi khai thác tài nguyên này như vốn đầu tư cao, nguồn
nước và đặc biệt là vấn đề môi trường.
¾ Về đất hiếm, với tình hình tài nguyên và cung cầu đất hiếm ở trên thế giới và
trong nước, không nên đánh giá quá cao và hy vọng quá nhiều vào nguồn quặng
đất hiếm của Việt Nam đóng góp lớn cho phát triển kinh tế của đất nước.
¾ Về quặng titan, theo thông báo của Bộ TN&MT năm 2009, TNKS Titan trong
cồn cát đỏ ở tỉnh Bình Thuận dự báo khoảng 130 triệu tấn, báo cáo gần đây
4
khoảng 500 - 600 triệu tấn và có thể còn lớn hơn. Nhưng hiện chưa có đủ tài liệu
địa chất để khắc họa chính xác bề mặt địa hình lót đáy của trầm tích cát đỏ
Phần lớn các quy hoạch, chiến lước về khoáng sản mới chỉ được xây dựng, phê
duyệt từ 2006 – 2008. Đến tháng 9/2009 mới chỉ có ba Chiến lược, 13 Quy hoạch
khoáng sản (theo loại khoáng sản hoặc nhóm khoáng sản và đã đề cập đến 39 loại
khoáng sản khác nhau) được lập và được phê duyệt và có 47/64 tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương đã hoàn thành quy hoạch khoáng sản tại địa phương. Việc khoanh
định các vùng hạn chế, vùng cấm hoạt động khoáng sản, vùng dự trữ khoáng sản lại
5
chưa được các địa phương chú trọng. Việc lập quy hoạch triển khai chậm, thiếu các cơ
sở dữ liệu vững chắc về trữ lượng, thị trường và không phù hợp với như cầu thực tế
nên nhiều quy hoạch mới ban hành nhưng đã bất cập ngay với thực tế, phải điều
chỉnh bổ sung như than, bô xít…
2.3. Công tác cấp phép hoạt động khoáng sản
Việc chuyển đổi cơ chế kinh tế từ bao cấp sang thị trường đã làm xuất hiện nhiều
thành phần kinh tế tham gia hoạt động khoáng sản như các doanh nghiệp nhà nước, hợp
tác xã, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty liên doanh có vốn nước ngoài…, đặc
biệt là tình trạng khai thác trái phép “khai thác thổ phỉ” diễn ra ở nhiều nơi, nhất là đối
với các mỏ đá quý, khai thác vàng, ilmenit ở Miền trung, khai thác than ở Quảng Ninh,
khai thác cát, sỏi… Số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoáng sản
tăng lên khá nhanh, tăng trung bình 21,7%/năm. Sự gia tăng lực lượng tham gia hoạt
động khoáng sản đồng nghĩa với sự gia tăng nhanh chóng về số lượng giấy phép được
cấp hoạt động khoáng sản, đặc biệt ở các địa phương. Trong vòng 12 năm từ 1996 đến
năm 2008, Bộ Công nghiệp và Bộ TN&MT cấp 928 giấy phép hoạt động khoáng sản.
Trong khi đó chỉ trong vòng 3 năm, từ tháng 10/2005 đến tháng 8/2008, UBND các
tỉnh, thành phố đã cấp 3.495 giấy phép khai thác. Tình trạng cấp phép hoạt động không
theo quy hoạch, cấp phép tràn lan chia nhỏ để cấp vẫn diễn ra ở nhiều nơi, có trường hợp
cấp phép cho cả các tổ chức cá nhân không đủ năng lực theo quy định hay khai thác
chưa có hồ sơ thiết kế mỏ… Một số khoáng sản có trữ lượng lớn, phân bố liên tục đã bị
cắt thành nhiều khoảnh để cấp phép hoạt động khoáng sản. Đặc biệt nạn khai thác không
tích… dẫn đến việc phát triển không cân đối, tiêu tốn nhiều tiền bạc, năng lượng,
hiệu quả không cao, sản phẩm dư thừa không tiêu thụ hết.
3. Kết quả quản lý và sử dụng tài nguyên khoáng sản Việt Nam
3.1. Đóng góp kinh tế của ngành khai khoáng vào phát triển đất nước
Thời gian qua, ngành công nghiệp khai thác khoáng sản ở Việt Nam mặc dù chưa
phát triển mạnh nhưng đã có đóng góp đáng kể cho ngân sách quốc gia, tạo điều kiện
cho các ngành công nghiệp, ngành kinh tế khác phát triển và góp phần vào sự phát triển
của các địa phương nơi khai thác. Đóng góp của ngành khai khoáng chiếm 4,81% thu
thập quốc dân (GDP) năm 1995 đã tăng lên khoảng 9,65% - 10,59% trong giai đoạn từ
năm 2000 đến nay. Bên cạnh việc đóng góp nguồn thu cho nền kinh tế, ngành công
nghiệp khai khoáng cũng là một trong những ngành tạo nhiều việc làm cho xã hội. Năm
2008 tổng lao động trong ngành khai khoáng khoảng 431,2 nghìn người, chiếm 0,96%
tổng số lao động đang làm việc của cả nước.
Những đóng góp ban đầu của ngành khai thác khoáng sản cho phát triển đất nước
là đáng ghi nhận. Tuy nhiên, ngành khai thác khoáng sản đã bộc lộ một số nhược điểm
sau:
3.2. Hiệu quả kinh tế chưa tương xứng với vốn đầu tư
Đầu tư của xã hội cho ngành khai khoáng thường chiếm vị trí cao so với tổng tổng
tư cho các ngành kinh tế và lĩnh vực khác nhưng hiệu quả đóng góp vào tăng trưởng
GDP (tỷ số giữa đóng góp vào GDP của ngành khai khoáng/tổng đầu tư cho khai
khoáng) không cao, thấp hơn một số ngành kinh tế và lĩnh vực khác. Cụ thể là tổng vốn
đầu tư cho ngành khai khoáng từ năm 2005 đến 2008 đứng vị trí thứ 5/18 ngành và
lĩnh vực, nhưng hiệu quả đóng góp cho nền kinh tế chỉ đứng thứ đứng thứ 8 so với
các ngành kinh tế và lĩnh vực khác. Tỷ số giữa đóng góp GDP
ngành
/Đầu tư
ngành
một số
ngành năm 2008 như sau:
trình khai thác còn rất cao, đặc biệt là ở các mỏ hầm lò, các mỏ địa phương quản lý. Tổn
thất trong khai thác than hầm lò là 40%-60%; khai thác apatit 26% - 43%; quặng kim
loại 15%-30%; vật liệu xây dựng 15%-20%; và dầu khí là 50%-60%. Tổn thất trong khai
thác than tại Quảng Ninh theo số liệu báo cáo của TKV vào khoảng 7,3 – 7,7% đối với
khai thác lộ thiên và khoảng 28 – 31% trong khai thác hầm lò. Do năng lực có hạn, khai
thác phần lớn là thủ công, nên đa số các mỏ nhỏ hiện nay chỉ lấy được những phần giàu
nhất, bỏ đi toàn bộ các quặng nghèo và khoáng sản đi cùng, dẫn đến không thể tận thu
được. Tổn thất trong chế biến khoáng sản cũng rất cao. Chẳng hạn trong khai thác vàng,
độ thu hồi quặng vàng trong chế biến (tổng thu hồi) hiện chỉ đạt khoảng 30%-40% và
không chỉ mất mát mà còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Ngoài ra một vấn
7
8
đề đã và đang diễn ra phức tạp không những làm thất thoát TNKS quốc gia mà còn gây
mất trật tự trị an xã hội đó là tình trạng khai thác xuất khẩu trái phép khoáng sản. Điển
hình là tình trạng khai thác, vận chuyển xuất khẩu than trái phép diễn ở Quảng Ninh,
quặng titan (năm 2007 xuất lậu quặng titan khoảng trên 100 nghìn tấn, năm 2008 trên
200 nghìn tấn)…
Các sản phẩm sau khai thác, chế biến còn nghèo nàn, phần lớn dạng thô, chất
lượng thấp, có giá trị thương mại không cao và chủ yếu để xuất khẩu như dầu thô (xuất
gần 100%), than (hơn 50%) và xuất phần lớn các loại quặng. Vấn đề là xuất khẩu sản
phẩm thô nhưng giá trị xuất khẩu lại không đủ để nhập khẩu sản phẩm khoáng sản qua
chế biến phục vụ cho các ngành công nghiệp khác và nền kinh tế (bảng sau).
Kết quả xuất - nhập khẩu sản phẩm khoáng sản năm 2009
Đơn vị tính: Số lượng: Nghìn tấn, giá trị: triệu USD
Xuất khẩu Nhập khẩu
Stt Sản phẩm khoáng sản Số lượng Giá trị Số lượng Giá trị
1
Than đá 25.139,0 1.326,0
chỉ đạt từ 28 – 30% (thấp hơn so với các nước phát triển khoảng 10%); hiệu suất các lò
hơi công nghiệp đạt khoảng 60% (thấp hơn trung bình thế giới khoảng 20%)…
3.4. Quản lý kém và để lại nhiều hậu quả về môi trường khó khắc phục
9
- Lập ĐTM, ĐMC chưa đầy đủ và mang tính hình thức: Các hoạt động khoáng sản
thường gây ra sự biến đổi môi trường ở mức độ cao và có tác động tiêu cực đến môi
trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo. Với tính chất đặc thù này
nên các dự án liên quan đến khai thác, chế biến khoáng sản đều phải có báo cáo đánh
giá tác động môi trường (ĐTM) hoặc cam kết bảo vệ môi trường theo quy định của
Luật BVMT. Hầu hết các dự án khai thác chế biến khoáng sản đều đã thực hiện lập
ĐTM nhưng chậm hoặc không lập ĐTM bổ sung khi mở rộng quy mô khai thác.
Nhiều Quy hoạch khoáng sản kể cả cấp Trung ương (như quy hoạch thăm dò khai
thác, chế biến bô xít, titan, crom, mangan…) và các quy hoạch cấp địa phương chưa
lập báo cáo môi trường chiến lược (ĐMC). Việc lập báo cáo ĐTM ở một số dự án
khoáng sản chưa đảm bảo chất lượng để tổ chức thực hiện, báo cáo ĐTM được lập
chỉ mang tính hình thức, hợp lý hoá hồ sơ là chính.
- Việc tổ chức trển khai ký quỹ phục hồi môi trường thực hiện không đáng kể: Việc ký
quỹ phục hồi môi trường nhiều nơi chưa triển khai thực hiện được. Nhiều vùng đã kết
thúc khai thác nhưng chưa thực hiện việc đóng cửa mỏ, phục hồi môi trường. Ở một
số điểm điều tra, cơ quan quản lí cho rằng địa phương gặp rất nhiều khó khăn để
quản lý giám sát việc sử dụng quỹ để phục hồi môi trường sau khai thác của các
doanh nghiệp, nhất là trong trường hợp doanh nghiệp không thực hiện phục hồi môi
trường, địa phương không quản lý trực tiếp nguồn vốn này nên rất khó thuê tư vấn
thực hiện theo quy định. Sau khi ban hành quyết định 71/2008/QĐ-TTg quy định về
lập dự án cải tạo phục hồi môi trường làm cơ sở cho việc ký quỹ nhưng nhiều địa
phương vẫn chưa triển khai được.
- Chưa quản lý tốt chất thải độc hại: Theo qui định của Luật Môi trường, chỉ có các tổ
chức, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép và mã số mới
lượng chất rắn lơ lửng (TSS) vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,7 – 2,4 lần, cá biệt có
nơi vượt hơn 8 lần… Nước thải mỏ phần lớn chưa qua xử lý (trước năm 2009 các
công ty than của TKV ở Quảng Ninh mới chỉ có 1 đơn vị có hệ thống xử lý nước
thải mỏ) và thải trực tiếp ra hệ thống sông suối gây ô nhiễm nguồn nước, bồi lấp
sông suối Kết quả kiểm tra hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn một số
tỉnh cho thấy, tại tất cả các khâu sản xuất của dây chuyền công nghệ khai thác và
chế biến đều gây ra hàm lượng bụi vượt tiêu chuẩn cho phép phép từ 30 đến 100
lần; riêng tỷ lệ hạt bụi chiếm từ 41,6 - 83,3 mg/m
3
không khí và có hàm lượng
SiO
2
từ 3% - 12%, đặc biệt ở các mỏ than, mỏ đá. Đối với chất thải rắn và chất
thải nguy hại, khai thác 1 tấn than bằng công nghệ lộ thiên thải ra khoảng 4 – 6
m
3
đất đá thải, cá biệt có lên đến 7 – 8 m
3
; khai thác hầm lò thải khoảng 2 m
3
/tấn
than; tuyển than thải 0,3 m
3
/tấn than (Theo báo cáo của TKV, khối lượng bốc đất
đá khai thác than tại Quảng Ninh hàng năm khoảng 200 - 216 triệu m
3
). Vị trí các
bãi thải hầu hết đều tập trung ở các khu vực đầu nguồn sống suối, một số bãi thải
lớn tập trung lân cận khu dân cư… hầu hết chưa được cải tạo ảnh hưởng đến cảnh
quan khu vực, sạt lở gây bồi lấp sông suối và tiềm ẩn nguy cơ tai biến môi trường.
tác hại tới hoa màu, ruộng vườn, nhà cửa, vào mùa mưa lũ thường gây ra lũ bùn
đá… có nguy cơ gây sự cố môi trường gây thiệt hại tới môi trường kinh tế và môi
trường xã hội. Tại Quảng Ninh, hiện tượng xói mòn rửa trôi, xói mòn rãnh và
trượt lở đất xảy ra rất phổ biến trên các khai trường khai thác than hay trên các
tuyến đường vận chuyển và đặc biệt thường xảy ra ở các bãi đổ thải. Trên thực tế
đã xảy ra sự cố vỡ đập Khe Rè, lũ tích luỹ làm hỏng đường 337, làm thay đổi bờ
sông, bờ biển gây bồi lắng, ô nhiễm nguồn nước sông, nước biển Vịnh Hạ
Long…
¾ Ảnh hưởng đến tài nguyên và ngành kinh tế khác
: Công nghiệp khai thác khoáng
sản ở Việt Nam hiện nay đã chiếm dụng một khu vực đất đai rộng lớn với hơn 41
nghìn ha (Kiểm kê đất đai 2005). Hoạt động khoáng sản đã gây ra tranh chấp tài
nguyên (đất, rừng, nguồn nước…) và phải lựa chọn sự đánh đổi với phát triển các
ngành kinh tế khác như nuôi trồng thủy sản; nông nghiệp; lâm nghiệp; du lịch;
bảo tồn di tích văn hoá, lịch sử và cảnh quan môi trường; xây dựng công trình
kinh tế xã hội… Hoạt động khai thác khoáng đã phá huỷ hàng nghìn ha rừng nhiệt
đới có tính đa dạng sinh học cao; đất đai, thổ nhưỡng bị biến dạng… môi trường
đất đai, nguồn nước ở vùng khai thác bị suy thoái, ô nhiễm nghiêm trọng. Nhiều
vùng khoáng sản bị đào, khai thác trái phép không được hoàn thổ đã gây hậu quả
xấu đến môi trường nước, môi trường đất, gây ảnh hưởng đến việc canh tác nông
nghiệp của nhân dân trong vùng, làm cho mùa màng bị giảm năng suất.
- Quản lý, thực hiện và giám sát BVMT yếu kém: Một số tổ chức, cá nhân chưa nghiêm
túc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường trong khai thác, chế biến khoáng
sản. Một số đơn vị đã lập báo cáo ĐTM nhưng chưa thực hiện đúng các nội dung của
báo cáo như: (i) Không thực hiện các biện pháp BVMT; (ii) Thiếu trách nhiệm về
giảm thiểu bụi, tiếng ồn, xử lý nước thải… kể cả khi cộng đồng và địa phương phản
ánh; (iii) Khai thác khoáng sản chưa có quy hoạch bãi thải và hệ thống xử lý nước
thải; (iv) Chưa thực hiện được phục hồi môi trường cũng như (v) Chưa thực hiện đầy
đủ việc quan trắc và báo cáo môi trường định kỳ… Ở nhiều vùng khai thác khoáng
cũng là nơi thường xảy ra nhiều tai nạn lao động và còn ở mức nghiêm trọng, đặc
biệt là trong khai thác than và khai thác vật liệu xây dựng. Những năm 90 của thế kỷ
trước, nhiều tai nạn nghiêm trọng và tai biến môi trường đã xảy ra trong khai thác
khoáng sản ở nhiều nơi như ở Cao Bàng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Nghệ An… Liên
tiếp trong các năm gần đây nhiều sự cố về tai nạn nghiêm trọng đã xảy ra như khai
thác đá ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Kiên Giang… sự cố sập hầm lò ở mỏ than Mông
Dương hay ở Khe Tam (Công ty than Hạ Long)… làm nhiều lao động bị thiệt
mạng…
- Sinh kế cộng đồng vùng khai khoáng không ổn định: Đa số cộng đồng dân cư ở các
vùng có mỏ khoáng sản đều sống dựa vào nguồn thu chính từ nông lâm nghiệp như
trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản Việc thu hồi đất cho hoạt
13
động khoáng sản đồng nghĩa với mất đất sản xuất và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế
của người dân. Hoạt động khai khoáng tuy có tạo thêm việc làm và tạo điều kiện phát
triển thêm các dịch vụ kèm theo nhưng cũng không đảm bảo được việc làm cho cộng
đồng địa phương. Mặt khác những tác động bất lợi từ hoạt động khai khoáng đến
nguồn nước (ô nhiễm, suy giảm…), đất sản xuất (ô nhiễm, bị đất đá, bùn cát… xâm
lấn) có tác động không nhỏ đến năng suất cây trồng, vật nuôi. Việc đền bù, bồi
thường thiệt hại mới chỉ đáp ứng phần nào nhu cầu trước mắt mà chưa đảm bảo ổn
định sinh kế lâu dài cho người dân. Phần lớn khai trường sau khai thác chưa được cải
tạo phục hồi môi trường hiệu quả nên các địa phương chưa giao lại cho người dân
nhận khoán bảo vệ.
- Mâu thuẫn, xung đột và tệ nạn xã hội gia tăng: Một khi lợi ích từ khai thác tài
nguyên khoáng không được chia sẻ hợp lý giữa doanh nghiệp, nhà nước và cộng
đồng chắc chắn sẽ nảy sinh mâu thuẫn và xung đột xã hội. Từ phân chia nguồn lợi
không công bằng và những bức xúc về môi trường, chế độ đền bù… đã làm nảy sinh
nhiều mâu thuẫn, xung đột ở nhiều địa phương vùng khai khoáng. Nhiều nơi các mâu
thuẫn này đã trở nên gay gắt, điển hình như ở các vùng khai thác vàng, đá quí, khai
thác than ở Quảng Ninh, khai thác titan ở các tỉnh ven biển Miền Trung Bên cạnh
nhau nhưng cũng chưa quy định chi tiết và đầy đủ và lại cần hệ thống văn bản
dưới Luật khác để bổ sung thực hiện. Hệ thống văn bản dưới luật lại chậm ban
hành, ban hành không đồng bộ, chắp vá, thậm chí mâu thuẫn lẫn nhau.
2.3. LKS chưa bao quát và cân đối được toàn bộ các hoạt động khoáng sản. Nhiều nội
dung quan trọng có ý nghĩa quyết định tới hiệu quả của hoạt động khoáng sản như
(i) Quy hoạch hoạt động khoáng sản; (ii) Đầu tư khai thác và chế biến; (iii)
BVMT trong hoạt động khoáng sản; (iv) Bảo vệ quyền lợi nhân dân vùng có
khoáng sản khai thác - chế biến; (v) Nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học
công nghệ trong lĩnh vực khoáng sản; (vi) Vận chuyển và tiêu thụ các sản phẩm
khoáng sản; (vii) Sự tham gia của các đối tác nước ngoài … chưa có vị trí và nội
dung cân xứng trong LKS. Chẳng hạn lĩnh vực BVMT trong hoạt động khoáng
sản chỉ được quy định tại điều 16, hay việc bảo vệ quyền lợi người dân nơi có
khoáng sản khai thác chỉ được quy định tại điều 7. Vì vậy khi thực hiện lại phải
ban hành văn bản đi kèm nhưng ban hành không đồng thời nên rất khó thực hiện
trong thực tế;
2.4. Chưa có chính sách đảm bảo việc sử dụng nguyên liệu khoáng sản một cách hợp
lý, tiết kiệm. Một số văn bản dưới luật ban hành không hợp lý có tác dụng ngược
lại với mục tiêu của LKS như chính sách duy trì giá nội địa thấp, chính sách thuế
tài nguyên, chính sách BVMT, chính sách hạn chế xuất khẩu sản phẩm thô…
3. Những bất cập trong quy định chính sách
3.1. Quyền sở hữu TNKS: Luật khoáng sản khẳng định tài nguyên khoáng sản thuộc
sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý. Tuy nhiên hình thức sở hữu
toàn dân thể hiện chưa đầy đủ trong các giai đoạn của hoạt động khoáng sản. Do
những quy định chưa đầy đủ về quyền sở hữu, quyền của nhà nước, quyền của tổ
chức, cá nhân được thăm dò khai thác nên dẫn đến tình trạng công tác quản lý
khai thác sử dụng chồng chéo, kém hiệu quả;
3.2. Một số quy định có mâu thuẫn và không rõ ràng với các luật liên quan và liên Bộ:
Có những quy định dẫn đến việc phê duyệt chồng chéo của các Bộ và ngành khác
nhau trong quá trình xin giấy phép đầu tư (Luật đầu tư), giấy phép hoạt động
đây là những nguyên nhân chủ yếu làm giảm hiệu lực và tính thực thi của LKS.
4.2. Yếu kém và tồn tại trong tổ chức thực hiện
1. Bất cập, tồn tại trong công tác quản lý nhà nước
1.1. Về quản lý vĩ mô, công tác quản lý khai thác TNKS, đặc biệt là ở cấp địa phương
còn mang nặng tính lợi ích kinh tế, tăng trưởng GDP và tư tưởng nhiệm kỳ, chưa
thực sự chú trọng yếu tố phát triển bền vững. Quản lý nhà nước về khoáng sản
chưa có tổ chức thống nhất đủ thẩm quyền để điều phối các bên liên quan trong
hoạt động quản lý bảo vệ và khai thác khoáng sản. Đến khi có vấn đề xảy ra mới
phối hợp giải quyết nhưng trách nhiệm không thuộc về ai;
1.2. Việc quản lý chồng chéo, gián đoạn (giữa Bộ TN&MT, Bộ Công Thương, Bộ
Xây dựng, Bộ NN&PTNT, chính quyền địa phương các cấp) tạo kẽ hở buông
lỏng quản lý nhà nước về bảo vệ tài nguyên và bảo vệ môi trường trong hoạt động
khoáng sản để các tổ chức, cá nhân lợi dụng khai thác, không kiểm soát được sản
16
lượng khai thác, xuất khẩu; không tuân thủ quy trình kỹ thuật và bảo vệ môi
trường;
1.3. Tiến độ lập, thẩm định và phê duyệt các chiến lược, các quy hoạch khoáng sản
triển khai chậm và chưa đáp ứng yêu cầu thực tế. Xây dựng chiến lược, qui hoạch
và kế hoạch phát triển khoáng sản còn chủ quan, vì lợi ích cá nhân cục bộ và địa
phương; thiếu cơ sở khoa học và kinh tế; thiếu tính khả thi. Quy hoạch khoáng
sản cấp Trung ương chưa có sự thống nhất với quy hoạch khoáng sản cấp địa
phương.
1.4. Quản lý cấp phép hoạt động khoáng sản chưa chặt chẽ: Tình trạng khai thác diễn
ra ồ ạt thời gian qua liên quan chủ yếu đến việc cấp phép tràn lan kể cả ở cấp
Trương ương và UBND các tỉnh. Cơ chế xin – cho vẫn tồn tại ngay trong hoạt
động quản lý hành chính về cấp phép hoạt động khoáng sản. Tình trạng cấp phép
khai thác không theo quy hoạch, cấp phép vượt quá quy hoạch và chồng chéo với
quy hoạch các ngành kinh tế khác diễn ra khá phổ biến. Việc cấp phép thiếu đồng
bộ cả về thời gian và công suất giữa giấy phép khai thác và giấy phép chế biến
dự án đầu tư và ĐTM;
2.3 Một số tổ chức, cá nhân sau khi được cấp phép khai thác đã thuê hoặc liên kết với
các đơn vị khác khai thác (kể cả TKV cũng thực hiện thuê thầu khai thác). Chủ
giấy phép khai thác chỉ quan tâm kiểm tra, giám sát khối lượng sản phẩm, mà ít
chú trọng việc các đơn vị khai thác thuê có tuân thủ pháp luật hay không. Các đơn
vị khai thác thuê chỉ quan tâm vào khối lượng khai thác, khai thác chỗ thuận lợi
như vùng quặng giàu, thuận tiện vận chuyển… Vì vậy những trường hợp thuê
hoặc liên kết khai thác thường gây thất thoát, lãng phí tài nguyên quốc gia, huỷ
hoại cảnh quan và môi trường;
2.4. Hầu hết các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản chưa có hoặc chưa chuẩn bị
đầy đủ quy trình và kế hoạch cải tạo phục hồi môi trường. Do vậy việc cải tạo và
phục hồi môi trường thực hiện được không đáng kể, mới chỉ mang tính cải tạo lại
mặt bằng, trồng cây lâm nghiệp nhưng tỷ lệ cây sống thấp và phát triển kém, chưa
thực hiện đúng nghĩa phục hồi môi trường;
3. Bất cập, tồn tại từ cộng đồng và các tổ chức xã hội vùng khai khoáng
3.1. Nhận thức, hiểu biết của cộng đồng về pháp luật còn thấp, đặc biệt là các vấn đề
liên quan đến BVMT, quyền lợi người dân vùng có khai thác khoáng sản, dân chủ
ở xã phường, thị trấn… Vì vậy khi có vấn đề bức xúc người dân chỉ biết phản ánh
lên chính quyền địa phương (trực tiếp là UBND xã, phường), trong khi họ có
quyền được biết thông tin về môi trường, quyền được yêu cầu giải trình - đối
thoại với các bên quản lý và gây ra tác động bất lợi, cũng như được hưởng quyền
lợi vùng khai thác khoáng sản…
3.2. Cộng đồng và các tổ chức xã hội trong hệ thống Mặt trận tổ quốc Việt Nam tại
vùng mỏ ít được tham gia giám sát hoặc chưa thực hiện đầy đủ vai trò giám sát
việc thi hành pháp luật về khoáng sản (điều 4 Luật Khoáng sản)…
5. Kết luận và kiến nghị
5.1. Kết luận
Khai thác TNKS ở Việt Nam thời gian qua đã góp phần đáng kể vào phát triển đất
vàng, lương thực hay ngoại tệ) thì TNKS chỉ được khai thác sử dụng khi cần thiết. Do
vậy trước khi quyết định khai thác cần phải lượng hoá được tổng các chi phí khai thác,
chế biến trên quan điểm hiệu quả sinh thái, đó là sản xuất ra nhiều sản phẩm và có giá
trị cao nhưng sử dụng tài nguyên ít nhất.
Về tổng thể, Trước hết cần giải quyết và hạn chế mâu thuẫn chồng chéo giữa Luật
khoáng sản và các Luật liên quan khác. Thứ hai, cần đổi mới tổ chức quản lý nhà nước
và làm rõ ranh giới trách nhiệm/thẩm quyền của các bên liên quan. Thứ ba, trên cơ sở
quy định của Luật khoáng sản và Luật dầu khí, cần xây dựng chính sách quốc gia hoặc
chiến lược quốc gia về quản lý sử dụng tài nguyên khoáng sản làm cơ sở cho việc xây
dựng chiến lược, quy hoạch quản lý đối với từng loại khoáng sản một cách hợp lý, có
hiệu quả phù hợp với từng thời kỳ.
2. Kiến nghị về quản lý khai thác sử dụng TNKS
2.1. Sở hữu tài nguyên khoáng sản
: Về nguyên tắc, việc xác định quyền sở hữu toàn dân
về khoáng sản do nhà nước đại diện là phù hợp với Hiến pháp Việt Nam và xu thế
chung của thế giới. Vấn đề là việc thể hiện quyền sở hữu đó như thế nào để đảm bảo
19
quyền và lợi ích các bên. Bởi vì một tổ chức khai thác khoáng sản được cấp phép
khai thác, nhưng họ không phải chủ sở hữu thì họ sẽ không khai thác tiết kiệm và
không tận thu hết khoáng sản ở vùng nghèo quặng và khó khăn. Vì vậy, nên thể hiện
vấn đề sở hữu theo các giai đoạn: (i) Trước khi cấp phép thăm dò thì khu vực mỏ
thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước làm đại diện thống nhất quản lý; (ii) Sau khi cấp
phép khai thác cho tổ chức kinh tế thì mỏ thuộc sở hữu của tổ chức đó trong thời hạn
cấp phép. Tuy nhiên thủ tục cấp phép phải được thực hiện trên cơ sở định giá TNKS
làm căn cứ để đấu giá cấp phép khai thác. Đối với một số khoáng sản có tính chiến
lược, vùng lãnh thổ đặc thù cần có những quy định riêng;
2.2. Quản lý nhà nước về khoáng sản
:
2.3. Quản lý cấp phép hoạt động khoáng sản
:
(i) Thực hiện định giá tài nguyên và tổ chức đầu thầu khai thác khoáng sản. Việc đấu
20
giá thăm dò – khai thác khoáng sản cần phải chuẩn bị đủ điều kiện về định giá tài
nguyên và cơ chế quản lý. Hạn chế tối đa (hoặc bỏ hẳn) việc phân cấp và cấp
giấy phép khai thác khoáng sản tràn lan ở cấp tỉnh như thời gian vừa qua.
(ii) Cần bổ sung các điều kiện, các cam kết về chế biến trước khi cấp giấy phép khai
thác. Thực tế cho thấy vốn đầu tư cho khai thác không lớn, nhưng việc chế biến
đòi hỏi vốn lớn, công nghệ hiện đại. Vì vậy dẫn đến việc khai thác tràn lan, không
thực hiện được mục đích chế biến sâu;
(iii) Để nâng cao trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong các giai đoạn; đồng thời
giảm thiểu thời gian và chi phí của cá nhân, tổ chức khi phải xin thêm giấy phép;
cần gộp giấy phép khảo sát và thăm dò, gộp giấy phép khai thác và giấy phép chế
biến. Đối với tổ chức, cá nhân không thực hiện hoạt động khai thác nhưng có nhu
cầu thực hiện hoạt động chế biến khoán sản thì phải xin giấy phép chế biến. Đồng
thời để đơn giản thủ tục có thể nghiên cứu gộp giấy phép đầu tư – giấp phép
khoáng sản làm một giấy với các thủ tục hiện nay trong luật khoáng sản.
2.4. Sử dụng tài nguyên khoáng sản tiết kiệm, hiệu quả
:
(i) Xây dựng chiến lược, quy hoạch và chính sách phát triển từng loại khoáng sản đảm
bảo tính đồng bộ từ khâu thăm dò, khai thác đến chế biến phù hợp với nhu cầu
nền kinh tế và chấm dứt xuất khẩu sản phẩm thô;
(ii) Có chính sách tăng cường đầu tư chế biến sâu; chính sách buộc các ngành, các cơ
sở sản xuất trong nước sử dụng nguyên liệu khoáng sản tiết kiệm và đạt hiệu quả
cao nhất; đồng thời cần có qui định về chế biến quặng nhập khẩu;
(iii) Xây dựng các trung tâm dự trữ khoáng sản: Khi chưa có các nhà máy chế biến
sâu và phải khai thác tận thu để thực hiện các dự án khác theo quy hoạch (xây
dựng khu kinh tế, khu công nghiệp…) cần khuyến khích xây dựng các trung tâm
mưu cho UBND các cấp về sử dụng phí BVMT…
4. Kiến nghị về bảo vệ quyền lợi nhân dân vùng có khoáng sản khai thác
4.1. Cũng như vấn đề BVMT, vấn đề bảo vệ quyền lợi nhân dân vùng có khoáng sản
khai thác cũng cần có quy định cụ thể ngay trong Luật khoáng sản để Quốc hội
xem xét quyết định và đảm bảo tính hiệu lực ngay sau khi ban hành Luật khoáng
sản. Những nội dung chính cần đề cập là (i) Quy định trách nhiệm và quyền lợi
của cộng đồng địa phương trong hoạt động khoáng sản trên địa bàn; (ii) Quy định
quyền của cộng đồng tham gia ý kiến, giám sát thực hiện các giải pháp BVMT và
thực hiện phương án hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội từ nguồn thu hoạt động
khoáng sản; (iii) Quy định chế độ khuyến khích và bắt buộc các tổ chức, cá nhân
hoạt động khoáng sản tham gia hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển
kinh tế xã hội cho địa phương và cộng đồng;…
4.2. Phân định rõ lợi ích của cộng đồng địa phương được hưởng bao nhiêu phần trăm
trong nguồn thu từ hoạt động khoáng sản để hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương.
4.3. Phương án sử dụng nguồn kinh phí trích từ nguồn thu hoạt động khoáng sản để
hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội địa phương cần xây dựng theo quy mô xã (nếu
khai thác, chế biến trên 1 xã), quy mô huyện (nếu khai thác, chế biến liên xã), quy
mô tỉnh (nếu khai thác, chế biến liên huyện);
5. Kiến nghị về chính sách tài chính
5.1. Phí BVMT: Cách tính phí BVMT cần xét đến các yếu tố ảnh hưởng đến môi
trường như phương pháp khai thác, chế biến (lộ thiên, hầm lò, phương pháp
tuyển, công nghệ chế biến), đặc điểm tự nhiên, vùng miền, mức độ gây ô nhiễm
đến môi trường của từng loại khoáng sản…
22
5.2. Thuế tài nguyên cần thay đổi cách tính thuế phù hợp: Tính theo trữ lượng có thể
khai thác được, xét đến lợi thế về điều kiện khai thác mỏ và lợi thế thị trường tiêu
thụ…
EITI từ Châu Phi, Châu Á, Châu Âu, Mỹ La-tinh, Trung Đông, đến các nước
thuộc Liên bang Xô Viết cũ. Các nước ASEAN có Indonesia tham gia từ 4/2010.
Với vai trò của ngành khai thác khoáng sản trong phát triển đất nước, Việt Nam
cần cân nhắc để tham gia vào sáng kiến Quốc tế này.