SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ỨNG DỤNG CNTT VÀO CÔNG
TÁC CHĂM SÓC, GIÁO DỤC
TRẺ MẦM NON MỤC LỤC
Trang
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
2
2. Mục đích nghiên cứu 5
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 6
1. Cơ sở lý luận 6
2. Thực trạng ứng dụng CNTT trong nhà trường hiện nay 6
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
TT Danh mục Diễn giải
CNTT Công nghệ thông tin
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CT Chỉ thị
BCT Bộ Chính trị
PowerPoint. Tuy nhiên so với nhu cầu thực tế hiện nay, việc ứng dụng CNTT trong
Giáo dục Mầm non còn rất hạn chế. Chúng ta cần phải nhanh chóng nâng cao chất
lượng chăm sóc giáo dục, nghiệp vụ giảng dạy, nghiệp vụ quản lý, chúng ta không
nên từ chối những gì có sẵn mà lĩnh vực CNTT đem lại. Chúng ta nên biết cách tận
dụng nó, biến nó thành công cụ hiệu quả cho công việc của mình, mục đích của mình.
Hơn nữa, đối với Giáo dục Mầm non, CNTT còn có tác dụng mạnh mẽ làm thay đổi
nội dung, phương pháp dạy và học.
Giáo dục Mầm non là bậc học khó nhất về mặt khoa học giáo dục trong tất cả các
bậc học. Đây là bậc học mà độ tuổi của các cháu còn nhỏ, nhân cách, tâm hồn, thể
chất của các cháu đang hình thành phát triển. Người giáo viên Mầm non là nhân tố
quan trọng trong việc xây dựng bậc Mầm non trở thành bậc học nền tảng của hệ
thống Giáo dục quốc dân, tạo điều kiện cơ bản để nâng cao dân trí và trang bị những
kiến thức ban đầu hết sức trọng yếu để phát triển toàn diện nhân cách con người Việt
Nam tương lai. Để làm tốt trọng trách này người giáo viên mầm non trong thời đại
CNH – HĐH không chỉ cần có sự hiểu biết đầy đủ về đặc điểm tâm sinh lý của trẻ,
nắm vững mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục trẻ ở từng độ tuổi, mà còn phải
có kiến thức về CNTT, phải tích cực ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động
chăm sóc, giáo dục trẻ. Nhưng làm thế nào để ứng dụng CNTT có hiệu quả, đó là vấn
đề mà bất cứ người cán bộ quản lý hay giáo viên đều đặt ra phải khi đưa CNTT vào
các hoạt động của trẻ.
Xuất phát từ thực tế việc ứng dụng CNTT trong Giáo dục mầm non hiện nay, mặc dù
đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn bộc lộ những hạn chế. Chính vì vậy là một Phó Hiệu
trưởng của trường Mầm non, nên tôi chọn đề tài“ Nâng cao hiệu quả ứng dụng
CNTT vào công tác chăm sóc, giáo dục trẻ Mầm non ”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Tiếp tục phát huy kết quả đạt được ở những năm trước để giúp đỡ cán bộ giáo
viên nhà trường làm việc nhanh, hiệu quả trong công tác thực hiện nhiệm vụ chăm
sóc, giáo dục trẻ. Tạo điều kiện cho cán bộ giáo viên có cơ hội học tập nâng cao trình
độ chuyên môn, trình độ tin học.
Mỗi tuần dành 4 giờ để trực tiếp quan sát các hoạt động của giáo viên và học
sinh trong trường.
Thời gian nghiên cứu trong 2 năm học 2011-2012 và 2012-2013.
PHẦN II: NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về việc nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT
vào công tác chăm sóc, giáo dục trẻ Mầm non:
1. Cơ sở lý luận về việc ứng dụng CNTT vào đổi mới công tác quản lý, chăm sóc,
giáo dục trẻ Mầm non.
Ngày nay, CNTT được ứng dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã
hội. Ứng dụng CNTT là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển KT- XH, là
phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các
nước đi trước, tạo khả năng thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, đã
và đang tạo đà cho những thay đổi cơ bản trong công tác quản lý và giảng dạy ở tất cả
các cấp học.
*Những chủ trương của Đảng về ứng dụng CNTT trong giáo dục đào tạo:
Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị nêu rõ
+ Ứng dụng CNTT là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế
xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so
với các nước đi trước.
+ Phát triển nguồn nhân lực CNTT là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối
với việc ứng dụng và phát triển CNTT trong đó có nội dung: “Đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học,
ngành học”.
Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 1/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc
phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm
2015 và định hướng đến năm 2020 cũng đặt ra mục tiêu: Đẩy mạnh ứng dụng CNTT
trong giảng dạy và trong quản lý giáo dục ở tất cả các cấp học. Đến năm 2020, toàn
bộ học sinh các cơ sở giáo dục phổ thông và các cơ sở giáo dục khác được học ứng
2. Cơ sở thực tiễn về vấn đề ứng dụng CNTT ở trường Mầm non:
Trong thực tế hiện nay, CNTT không còn là điều mới mẻ với mọi người. Đội
ngũ cán bộ, giáo viên Mầm non đa số đã biết sử dụng thành thạo hoặc đơn giản là
cũng biết sử dụng máy vi tính. Các bậc phụ huynh học sinh đã có những hiểu biết về
tầm quan trọng của việc cho trẻ làm quen với máy vi tính. CNTT phát triển đã mở ra
những hướng đi mới cho ngành giáo dục. Sử dụng CNTT như một công cụ lao động
trí tuệ, giúp lãnh đạo các nhà trường nâng cao chất lượng quản lí nhà trường như:
Quản lí hồ sơ, quản lý chất lượng, kế hoạch hoạt động của giáo viên và học sinh, soạn
thảo, quản lý các văn bản chỉ đạo các báo cáo của nhà trường. Triển khai các phần
mềm ứng dụng vào công tác giáo dục và giảng dạy.
Việc ứng dụng CNTT trong nhà trường sẽ góp phần hiện đại hoá giáo dục và
đào tạo, có ý nghĩa rất lớn trong việc đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức giảng
dạy, học tập. Công nghệ thông tin phát triển mạnh kéo theo sự phát triển của hàng
loạt các phần mềm giáo dục và có rất nhiều những phần mềm hữu ích cho người giáo
viên mầm non như PowerPoint, Flash, Photoshop, Converter, Kispix, Kidsmat, E-
learning…Các phần mềm này rất tiện ích và trở thành một công cụ đắc lực hỗ trợ cho
việc thiết kế giáo án điện tử và giảng dạy trên máy tính, máy chiếu, bảng tương tác
cũng như trên các thiết bị hỗ trợ khác như Tivi, đầu Video vừa tiết kiệm được thời
gian cho người giáo viên mầm non, vừa tiết kiệm được chi phí cho nhà trường mà
vẫn nâng cao được tính sinh động, hiệu quả của giờ dạy. Nếu trước đây giáo viên
mầm non phải rất vất vả để có thể tìm kiếm những hình ảnh, biểu tượng, đồ dùng
phục vụ bài giảng thì hiện nay với ứng dụng CNTT giáo viên có thể sử dụng internet
để chủ động khai thác tài nguyên giáo dục phong phú, chủ động quay phim, chụp ảnh
làm tư liệu cho bài giảng điện tử. Chỉ cần vài cái "click chuột" là hình ảnh những con
vật ngộ nghĩnh, những bông hoa đủ màu sắc, những hàng chữ biết đi và những con số
biết nhảy theo nhạc hiện ngay ra với hiệu ứng của những âm thanh sống động ngay
lập tức thu hút được sự chú ý và kích thích hứng thú của học sinh. Đây có thể coi là
một phương pháp ưu việt vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, vừa thực
hiện được nguyên lý giáo dục của Vưgotxki “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”
2005. Năm 2004 nhà trường được xây dựng một khu trung tâm với 6 phòng học và
các phòng chức năng và đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn Quốc
gia QĐ số: 4827 ngày 26/8/2004. Khuôn viên nhà trường được đặt ở trung tâm của
xã, cao ráo, thuận tiện cho việc đến trường của học sinh trong toàn xã. Hàng năm tỷ
lệ huy động trẻ ra lớp đạt từ 94- 97%. Năm học 2012 - 2013 nhà trường có 19 lớp với
tổng số 523 học sinh. Trong đó có 6 lớp 5 tuổi với 179 cháu; 6 lớp 4 tuổi với 190
cháu; 5 lớp 3 tuổi với 134 cháu và 1 nhóm trẻ với 20 cháu.
Trường có 4 tổ chuyên môn và 1 tổ văn phòng, với 37 cán bộ, giáo viên, nhân
viên, trong đó 3 biên chế; 22 hợp đồng dài hạn; 12 hợp đồng ngắn hạn theo năm học.
Trình độ chuyên môn: 100% CB và GV đạt chuẩn và trên chuẩn.
- Chi bộ Đảng: Thành lập năm 2004, hiện có 12 Đảng viên đạt tỷ lệ 45%.
- Công đoàn: Có 37 đoàn viên.
- Chi đoàn thanh niên có 18 đoàn viên.
*Cơ sở vật chất:
- Tổng diện tích nhà trường: 5.035m
2
- Số phòng học: 16; phòng chức năng: 05
- Đồ chơi ngoài trời: 20 loại ở 03 sân chơi.
- Hàng năm được đầu tư đủ thiết bị, đồ dùng đồ chơi cho các nhóm, lớp, có 23 máy
tính, 10 máy in, 3 máy chiếu đa năng.
- Cảnh quan, môi trường sư phạm luôn được chăm lo xây dựng đảm bảo Xanh - Sạch
- Đẹp.
Từ điều kiện cơ sở vật chất và đội ngũ như vậy đã ảnh hưởng lớn đến việc ứng
dụng CNTT vào công tác chăm sóc, giáo dục trẻ, chất lượng toàn diện của nhà
trường.
2. Thực trạng việc ứng dụng CNTT của trường Mầm non Tề Lỗ.
2.1. Những trở ngại ứng dụng CNTT vào các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ:
- Kinh phí đầu tư các thiết bị CNTT nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy ứng dụng
Năm học 2011 - 2012 đã có 14 máy tính đặt ở các phòng, tỷ lệ học sinh và giáo
viên được sử dụng máy tính tăng lên. Tuy vậy số máy vi tính, máy in, các phần mềm
ứng dụng vẫn còn thiếu chưa đáp ứng được với yêu cầu.
2.3. Trình độ giáo viên:
Năm học
TS
CB
GV
Trình độ chuyên môn
Trình độ tin học
Đạt
chuẩn
Chưa
đạt
chuẩn
Trên
chuẩn
Có
chứng
chỉ tin
học
Chưa
có
15 0 8 20 4 19 5
2012-2013
26
5 0 21 26 0 24 2
*Tổng hợp số liệu thống kê:
- Trình độ chuyên môn: Năm học 2012 - 2013 trường có 23 giáo viên và 3 cán
bộ quản lý có trình độ THSP trở lên đạt 100%. Trong đó có 18 đồng chí có trình độ
đại học, 3 đồng chí có trình độ CĐSP.
Bình quân giáo viên trên lớp: 1,2 giáo viên ( thiếu so với định biên).
Chất lượng chuyên môn:
+ Giáo viên giỏi cấp tỉnh: 4/23 đồng chí = 17 %.
+ Giáo viên giỏi cấp huyện: 7/23đồng chí = 30 %
+ Giáo viên giỏi cấp trường: 12/23 đồng chí = 52%.
Trình độ tin học: Năm học 2012-2013 100% cán bộ giáo viên có chứng chỉ tin
học B, cơ bản đã biết sử dụng máy vi tính, biết soạn thảo văn bản đơn giản. Trong đó
có 15 CBGV biết soạn giảng và ứng dụng các phần mềm hỗ trợ dạy học vào chăm
sóc giáo dục trẻ một cách linh hoạt sáng tạo; 9 GV mới chỉ gọi biết soạn giảng còn
việc ứng dụng thì thụ động, chưa sáng tạo; 2 GV chưa biết soạn giảng và ứng dụng
các phần mềm hỗ trợ dạy học.
* Điểm mạnh của thực trạng đội ngũ:
Với 100% số giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo, 100% có
chứng chỉ tin học do vậy chất lượng tương đối đồng đều. Một số giáo viên có trình độ
chuyên môn, kỹ năng sư phạm, sử dụng thành thạo máy vi tính có khả năng sáng tạo
khi ứng dụng CNTT vào chăm sóc giáo dục trẻ. Hầu hết giáo viên đều nhiệt tình, gắn
bó với nghề, có tinh thần trách nhiệm, chấp hành kỷ luật chuyên môn tốt, có ý thức
vươn lên trong công tác.
chiếu đa năng đồng thời vận động phụ huynh ủng hộ kinh phí để mua mua máy in, ti
vi, đầu video tạo điều kiện để giáo viên có đủ các điều kiện về cơ sở vật chất,
phương tiện để ứng dụng CNTT.
2. Nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên
Đẩy mạnh tuyên truyền cho giáo viên thấy rõ hiệu quả và yêu cầu mang tính tất
yếu của ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp giảng dạy thông qua việc triển
khai các văn bản chỉ đạo của Bộ, ngành về ứng dụng CNTT trong dạy học; thông qua
các buổi sinh hoạt chuyên môn tổ khối, hội thảo chuyên đề; thông qua dự giờ thăm
lớp và qua việc triển khai các cuộc thi có ứng dụng CNTT do ngành tổ chức.
Phát động sâu rộng thành phong trào và đề ra yêu cầu cụ thể mỗi tuần mỗi giáo
viên có ít nhất 1 giáo án ứng dụng CNTT để chính họ qua áp dụng thấy được hiệu
quả và sự cần thiết của việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy. Trong đó xác định mục
tiêu của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là: Nâng cao chất lượng
học sinh, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao, trẻ được khuyến
khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, hình thành cho trẻ những kỹ
năng tiếp cận tri thức một cách chủ động khoa học.
3. Bồi dưỡng, trang bị những kiến thức tin học cơ bản nhất về công nghệ thông tin
cho cán bộ, giáo viên trong nhà trường:
Mặc dù ứng dụng CNTT vào các hoạt động còn mới mẻ với Giáo dục Mầm
non, chưa thực sự phổ biến nhưng bước đầu đã tạo ra một không khí học tập và làm
việc khác hẳn cách học và cách giảng dạy truyền thống. Bởi vì việc giáo viên sử dụng
máy vi tính để để làm phương tiện giảng dạy sẻ giúp cô giáo đỡ vất vả bởi vì chỉ cần
“click” chuột. Thực ra muốn “click” chuột để bài học thực sự hiệu quả sinh động thu
hút được trẻ thì người dạy cũng phải chịu bỏ nhiều công sức tìm hiểu và làm quen với
cách soạn và giảng bài mới này. Cụ thể người thầy cần phải:
- Có kiến thức hiểu biết về sử dụng máy tính.
- Biết sử dụng phần mềm trình diễn PowerPoint.
- Biết cách truy cập Internet
- Có khả năng sử dụng được một số phần mềm chỉnh sửa ảnh, cắt phim, cắt các
hệ thống mở như trên hiện nay đang là xu hướng tất yếu của ngành CNTT, với những
ưu điểm vượt trội là:
Hoàn toàn miễn phí.
Có hệ thống dữ liệu khổng lồ vì là do cộng đồng cùng xây dựng.
Luôn được cập nhật thường xuyên, từng ngày, từng giờ.
Nhiều tư liệu cũng như bài giảng có chất lượng cao vì được chọn lọc và
tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau. Ngoài ra công ty Bạch Kim cũng luôn có một
đội ngũ kỹ thuật thường xuyên xây dựng các tư liệu mới và bài giảng mới theo yêu
cầu của giáo viên các nơi để đưa lên thư viện.
Thư viện cũng là kênh kết nối các giáo viên trên cả nước, giúp mọi người
học hỏi và chia sẻ với nhau nhiều vấn đề trong công việc của mình.
Hướng dẫn giáo viên sử dụng các phần mềm, tiện ích phục vụ cho công tác
giảng dạy học tập và quản lý giáo dục. Học sử dụng máy vi tính thực chất là học cách
sử dụng các phần mềm vi tính. Có thể phân ra 2 loại là các phần mềm phổ thông (như
soạn thảo văn bản, xử lý ảnh, bảng tính, gõ tiếng Việt, các phần mềm gửi thư điện
tử ) và các phần mềm chuyên dụng, cụ thể đối với giáo viên đó là những phần mềm
tạo bài giảng như Powerpoint, Violet, e-Learning
*) Các phần mềm phổ thông
Các phần mềm phổ thông là bắt buộc phải sử dụng thành thạo đối với tất cả mọi
người, từ cấp quản lý đến giáo viên trong nhà trường. Trong đó một số phần mềm
quan trọng có thể kể ra (chủ yếu nằm trong bộ phần mềm văn phòng Microsoft
Office)
Microsoft Word: Phần mềm soạn thảo văn bản, dùng để soạn công văn, báo
cáo, kế hoạch và tất cả các giấy tờ tài liệu khác. Giáo viên có thể dùng để soạn giáo
án vừa có thể in ra để sử dụng, lưu trữ trên máy tính hoặc chia sẻ trên mạng Internet.
Microsoft Excel: Phần mềm tạo bảng tính để xây dựng các kế hoạch, các chi phí
tài chính, hoặc lưu trữ và thông kê số liệu học sinh. Excel mạnh ở điểm là có thể đưa
vào những phương pháp tính toán, thống kê tùy ý một cách rất dễ dàng.
Adobe Photoshop: Là phần mềm xử lý ảnh thông dụng nhất, với rất nhiều tính
độ lớn trên màn hình, lúc này GV chắc hẳn có một bài giảng chất lượng, các cháu sẽ
có một tiết học thoải mái và sôi động.
4. Tổ chức ứng dụng CNTT vào các hoạt động giáo dục:
a. Cho trẻ làm quen với máy tính:
GV tạo điều kiện cho trẻ làm quen với máy tính vào các giờ hoạt động góc, giờ
đón trả trẻ. Cho trẻ chơi tự do trên máy tính, tự khám phá các trò chơi trong phần
mềm Kidsmart theo hứng thú và khả năng của mình. GV hướng dẫn trẻ các thao tác
và định hướng các nội dung theo chủ đề.
Giáo viên hướng dẫn cho trẻ chơi những trò chơi trên trang socnhi.com nhằm
nâng cao khả năng tư duy, ghi nhớ có chủ định của trẻ.
b. Ứng dụng CNTT vào hoạt động chung:
Khi giáo viên đã có một số kiến thức tin học cơ bản, đã nắm bắt được chương
trình và kế hoạch thực hiện, nhà trường khuyến khích giáo viên sử dụng máy tính đưa
các hình ảnh, tư liệu, kết hợp âm thanh sinh động ứng dụng vào các hoạt động hàng
ngày sao cho phù hợp nhất là trong các hoạt động chung.
Chúng tôi lựa chọn các trò chơi từ Kidsmart, sáng tạo các trò chơi phù hợp với
chủ đề để đưa vào bài dạy. Để có thể lựa chọn các trò chơi phù hợp,GV phải tự khảo
sát các trò chơi, tìm hiểu ý nghĩa, mục đích trò chơi gốc của chương trình Kidsmart từ
đó có thể khai thác, tích hợp vào hoạt động chung tạo cơ hội cho trẻ khám phá nâng
cao chất lượng các giờ hoạt động.
VD: Ở lĩnh vực phát triển nhận thức với các hoạt động cho trẻ làm quen với tập hợp
số lượng, và số đếm cô có thể cho trẻ chơi các trò chơi "Con số của tôi", " Tạo một
con côn trùng" trong ngôi nhà toán học của Millie giúp trẻ rèn kỹ năng đếm, thêm
bớt, nhận biết các chữ số
Nhà trường còn phát động phong trào sáng tạo cùng Kidsmart: GV dựa vào ý
tưởng của các trò chơi trong chương trình Kidsmart để sáng tạo ra các trò chơi mới
cho trẻ hoạt động nhằm củng cố, ôn luyện các kiến thức mà trẻ đã được cung cấp theo
từng chủ đề, từng nội dung giáo dục trong tuần, trong ngày và tạo ra những đồ chơi
đồ dùng, những học liệu mở để trẻ có được nhiều cơ hội trải nghiệm, hình thành kỹ
năng phân loại, phán đoán, tư duy logic, khái quát hoá sự vật hiện tượng.
mong muốn. Với tiết làm quen chữ cái b, d, đ, khi cho trẻ tìm hiểu về cấu tạo chữ cô cho
từng nét chữ xuất hiện sẽ tăng sự chú ý của trẻ và trẻ sẽ ghi nhớ chữ cái đó sâu hơn.
Hay khi cho trẻ chơi một trò chơi với chữ cái nếu chỉ cho trẻ tìm thẻ chữ và phát âm
chữ cái trẻ sẽ nhàm chán mà không tập trung vào yêu cầu của cô. Nếu giáo viên biết
thiết kế một trò chơi trên máy tính, trẻ được tự mình “Click chuột” rồi phát âm chữ
cái tìm được trẻ sẽ vô cùng thích thú. Tôi đã thiết kế trò chơi “ Bánh xe quay” như
trên hình minh họa phía dưới. Tôi chọn hiệu ứng xoay tròn cho bánh xe, khi trẻ
“click” vào hình mũi tên, hình tròn có các chữ cái sẽ quay, khi “ Bánh xe” dừng,
mũi tên chỉ vào chữ cái nào trẻ sẽ phát âm chữ cái đó.
Với hoạt động làm quen với tác phẩm văn học trong giờ kể chuyện, ngoài việc cô kể
bằng các đồ dùng minh họa trực quan khác. Giáo viên có thể tự chỉnh sửa các tranh,
ghép ảnh cho phù hợp với nội dung câu chuyện, chèn các hình ảnh họa cho câu
chuyện vào Powerpoint, chọn các hiệu ứng cho các nhân vật… để trình chiếu.
c. Ứng dụng CNTT vào các hoạt động khác:
Ngoài việc tổ chức cho giáo viên ứng dụng CNTT vào các hoạt động chung,
nhà trường còn ứng dụng vào các hoạt động khác trong nhà trường như: Quản lý trẻ,
các loại số liệu thông kê về số lượng trẻ, tình hình sức khỏe, chất lượng các đợt khảo
sát; quản lý giáo viên; quản lý việc thu chi trong nhà trường đều được các bộ phận
làm trên Execl nên việc thông kê số liệu được nhanh chóng, chính xác hơn. Số liệu
được lưu trữ và trao đổi giữa các bộ phận bằng hộp thư điện tử nên việc bị mất dữ
liệu ít xẩy ra.
Sử dụng phần mềm Nutrikids để quản lý khẩu phần ăn của trẻ hàng ngày. Với
phần mềm này cho phép giáo viên nuôi dưỡng lập thực đơn và lưu thực đơn theo
tuần. Tính toán khẩu phần ăn cho trẻ hàng ngày sao cho cân đối các chất dinh dưỡng
Số máy in 3 6 8 13
Số máy chiếu 1 2 2 3
Số bảng thông minh 0 1 1 1
Số phần mềm ứng
dụng
10 14 16 23
Số tivi 10 14 14 19
Số đầu video 10 14 14 19
Nhìn vào bảng tổng hợp đã thấy về cơ sở vật chất của nhà trường đã được nâng
lên rõ rệt. Điều đó thể hiện sự quan tâm của các cấp lãnh đạo các bậc phụ huynh học
sinh về việc đầu tư cơ sở vật chất cho nhà trường để đáp ứng nhu cầu dạy và học của
giáo viên và học sinh. Điều đó cũng thể hiện sự tham mưu, và công tác xã hội hóa
giáo dục có hiệu quả của Cán bộ Giáo viên nhà trường, góp phần đẩy mạnh ứng dụng
CNTT trong chăm sóc, giáo dục trẻ.
2. Về đội ngũ giáo viên:
Nhận thức về việc ứng dụng CNTT trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ là
điều tất yếu, trình độ tin học được nâng lên, cán bộ giáo viên nhà trường đã có những
ứng dụng mạnh mẽ, thiết thực trong công tác soạn giảng; sử dụng phần mềm trong
soạn giảng.
Đã thiết kế được nhiều trò chơi, câu chuyện hoàn chỉnh, tích lũy được nhiều kinh
nghiệm cũng như các nguồn tài liệu mở để làm tư liệu xây dựng bài giảng. Qua hội
thi thiết kế bài giảng trên phần mềm e-Learning của Phòng Giáo dục & Đào tạo Yên
Lạc nhà trường có 2 giáo án được chọn dự thi cấp tỉnh.
Năm học 2009-2010 2010-2011 2011-2012
2012-2013
Số cán bộ, giáo viên có địa
chỉ email
10 13 20 26
chuột thành thạo và
biết chuyển TC theo
yêu cầu
80% 85% 85% 95%
Tỷ lệ trẻ biết trao đổi
với bạn khi chơi
50% 70% 85% 90%
Tỷ lệ trẻ có sáng tạo
khi tạo sản phẩm trên
máy tính
30% 45% 60% 75%
Phần III. KẾT LUẬN
1. Kết luận:
Trong số các nguồn tài nguyên, tài nguyên quý nhất là thông tin, nó không mất
đi mà càng nhiều người sử dụng lại càng giàu lên. Vì thế, người làm giáo dục nên
hướng đến những mặt tốt mà CNTT mang lại. Với xu thế phát triển của công nghệ
internet hiện nay, phát triển CNTT chính là thúc đẩy chúng ta phải đổi mới giáo dục.
Nếu có người thầy giỏi cộng với sự hỗ trợ của CNTT, thì hiệu quả trong giảng dạy sẽ
rất cao. Sự đổi mới phải được thực hiện toàn diện từ việc quản lý đến phương pháp.
Từ đó mới hy vọng sẽ thay đổi bộ mặt CNTT trong giáo dục.
Ứng dụng CNTT vào đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục trẻ mầm non là điều
tất yếu, sau thời gian nghiên cứu và tổ chức thực hiện một số giải pháp nâng cao hiệu
quả ứng dụng CNTT trong các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ tôi khẳng định về
việc ứng dụng CNTT trong GDMN là vô cùng hữu ích, nó giúp cho giáo viên đổi
mới nội dung, phương pháp, hình thức dạy học, trọng tâm là phương pháp dạy học
lấy trẻ là trung tâm. Qua đó giúp GV linh hoạt hơn trong việc lựa chọn nội dung
trong mỗi chủ đề phù hợp với chủ đề, phù hợp với sự phát triển và hứng thú của trẻ.
Giúp giáo viên đỡ tốn thời gian để chuẩn bị đồ dùng dạy học, bài giảng sau thiết kế
được lưu giữ trên máy tính, USB, lưu giữ trên mạng nên khó có thể bị mất. GV có thể
và các cấp lãnh đạo.
Tề Lỗ, ngày 15 tháng 04 năm 2013
Người viết