Hệ thống ngân hàng đại lý tại Việt Nam - Pdf 15

Hệ thống ngân hàng đại lý tại Việt Nam GVHD: Phạm Hải Nam
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO đã mang lại
cho nền kinh tế và hệ thống ngân hàng nhiều cơ hội và tiềm năng phát triển mới.
Quan hệ hợp tác trên tất cả các lĩnh vực không ngừng được đẩy mạnh, đặc biệt
trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng là một ngành nhạy cảm nhưng rất quan trọng.
Chính vì vậy, các giao dịch quốc tế luôn là đối tượng không chỉ các nhà đầu tư quan
tâm mà còn được các ngân hàng đặc biệt chú trọng. Hệ thống ngân hàng địa phương
và thế giới phát triển đã góp phần đẩy mạnh các giao dịch không bằng tiền mặt
thông qua ngân hàng nhằm cắt giảm tối đa các khoản phí hoa hồng và chi phí về
thời gian. Xét trong bối cảnh đó, một ngân hàng không thể đứng ngoài xu hướng
chung của thời đại là cùng liên minh và hợp tác. Sự hợp tác mang lại những cơ hội
giao lưu, học hỏi và nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của mình. Cùng với định
hướng phát triển xuất khẩu và hội nhập ngày càng sâu rộng vào hệ thống tài chính
toàn cầu, các ngân hàng Việt Nam cũng đang không ngừng hợp tác và liên kết với
các tổ chức nước ngoài nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và hỗ trợ các chính sách
của Chính Phủ. Một hình thức hợp tác phổ biến hiện nay của các ngân hàng Việt
Nam là việc thiết lập quan hệ ngân hàng đại lý với đối tác là các ngân hàng nước
ngoài. Quan hệ đại lý tốt sẽ giúp ngân hàng phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện
đại và tạo điều kiện để các ngân hàng Việt Nam mở rộng thị trường. Chính vì vậy,
việc xây dựng và thiết lập quan hệ đại lý với các ngân hàng trong và ngoài nước
đang trở thành định hướng phát triển của các ngân hàng thương mại hiện nay. Khóa
luận tốt nghiệp ra đời trong hoàn cảnh đó với hy vọng làm rõ tầm quan trọng của
việc thiết lập quan hệ đại lý với các ngân hàng đối tác nói chung và đề xuất các giải
pháp nhằm phát triển mạng lưới ngân hàng đại lý cho các ngân hàng thương mại
Việt Nam.
2. Hoàn cảnh nghiên cứu đề tài
Khóa luận thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế mở đang hội nhập trong giai
đoạn Việt Nam đang tiếp tục thực hiện những cam kết theo lộ trình của WTO và
SVTH: Huỳnh Minh Tuấn

2
Hệ thống ngân hàng đại lý tại Việt Nam GVHD: Phạm Hải Nam
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp và phân tích đối với các tư liệu, khái quát thành các
bảng và biểu đồ kết hợp dùng mô hình SWOT trong phân tích ưu, nhược điểm về
hoạt động ngân hàng đại lý của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
6. Bố cục đề tài:
Đề tài chia thành 3 chương chính:
Chương 1: Lý luận chung về ngân hàng đại lý và nghiệp vụ ngân hàng đại lý
Chương 2: Thực trạng phát triển quan hệ đại lý của ngân hàng Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nhằm phát triển quan hệ đại lý cho các ngân hàng Việt
Nam
SVTH: Huỳnh Minh Tuấn
3
Hệ thống ngân hàng đại lý tại Việt Nam GVHD: Phạm Hải Nam
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG ĐẠI LÝ VÀ
NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG ĐẠI LÝ
1.1. Khái niệm và đặc điểm ngân hàng đại lý
Một ngân hàng đại lý (ngân hàng đóng vai trò ngân hàng đại lý) là một
ngân hàng địa phương tại một nơi nào đó cung cấp dịch vụ cho ngân hàng khác
[12].
Như vậy: Ngân hàng đại lý là ngân hàng đóng vai trò đại lý cho một ngân
hàng khác ở nước ngoài và thay mặt cho ngân hàng này thực hiện một số dịch vụ
ngân hàng như đã thỏa thuận. Ngân hàng đại lý giữ chức năng cung cấp các dịch vụ
ngân hàng cho các khách hàng mà nó nhận làm đại lý.
Một ngân hàng có thể đóng vai trò ngân hàng đại lý cho nhiều ngân hàng,
hoặc có thể có nhiều đại lý tại các ngân hàng khác. Các giao dịch thanh toán quốc tế
được thực hiện chủ yếu bằng chuyển khoản qua ngân hàng, bù trừ lẫn nhau trên các
tài khoản mở tại các ngân hàng.
Ngân hàng đại lý có các đặc điểm sau:

nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ vấp phải rào cản pháp lý và những quy định của
nước sở tại, thiết lập quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài được xem là một
trong những phương thức đơn giản, hiệu quả và chi phí thấp khi một ngân hàng có ý
định thâm nhập thị trường mới. Chính vì vậy, phân phối dịch vụ thông qua ngân
hàng đại lý thường áp dụng đối với những ngân hàng chưa có chi nhánh. Do đó,
ngân hàng thường thông qua một ngân hàng có trụ sở tại địa điểm kinh doanh làm
đại lý về một nghiệp vụ nào đó và ngân hàng đại lý được hưởng hoa hồng như đại
lý thanh toán, đại lý chuyển tiền, sec du lịch. Đây là một trong các loại kênh phân
phối có xu thế phát triển cùng với xu thế toàn cầu hóa thị trường tài chính quốc tế.
Đồng thời, đây cũng là bước đệm để ngân hàng thăm dò và tìm hiểu văn hóa địa
phương cũng như các quy định pháp lý trước khi chính thức thâm nhập thị trường
ngoài nước.
SVTH: Huỳnh Minh Tuấn
5
Hệ thống ngân hàng đại lý tại Việt Nam GVHD: Phạm Hải Nam
1.2. Các loại tài khoản sử dụng trong hoạt động ngân hàng đại lý
1.2.1. Tài khoản Nostro
Tài khoản Nostro (Nostro theo tiếng Latin là "của chúng tôi") là tài khoản
tiền gửi không kỳ hạn "của chúng tôi" mở tại ngân hàng đại lý (chúng tôi là chủ tài
khoản, còn ngân hàng đại lý là người giữ tài khoản cho chúng tôi) [13].
Tài khoản Nostro có số dư bằng ngoại tệ nên sẽ linh hoạt trong việc thanh
toán do không phải mất thời gian và chi phí để chuyển đổi đồng tiền.
Trên phương diện Việt Nam, tài khoản Nostro là tài khoản tiền gửi giao dịch
vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam mở và duy trì tại các ngân hàng nước
ngoài.
1.2.2. Tài khoản Vostro (tài khoản Loro)
Tài khoản Vostro (hay còn gọi là tài khoản Loro – theo tiếng Latin là "của
các bạn") là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn "của quý vị" mở tại ngân hàng chúng
tôi (quý vị là chủ tài khoản, ngân hàng chúng tôi là người giữ tài khoản cho quý vị).
Tài khoản Vostro có số dư bằng nội tệ [13].

Để thực hiện thanh toán thông qua CHIPS, ngân hàng được ghi có phải có
mã CHIPS. Các ngân hàng thành viên của CHIPS tại Mỹ có mã CHIPS Participant
(CHIPS ABA) gồm 4 chữ số. Các ngân hàng ngoài nước Mỹ có tài khoản tại một
ngân hàng thành viên của CHIPS tại Mỹ hoặc các chi nhánh, phòng ban của ngân
hàng thành viên CHIPS tại Mỹ nhưng có tài khoản độc lập sẽ có CHIPS UID
(CHIPS Universal Identifier). Mỗi ngân hàng, chi nhánh, phòng ban có tài khoản
độc lập chỉ có một số CHIPS duy nhất, khi nhận được điện thanh toán chuẩn có số
CHIPS này, hệ thống CHIPS sẽ xử lý tự động và tự động ghi có vào tài khoản đó.
Hệ thống thanh toán bù trừ CHIPS là hệ thống thanh toán đồng USD lớn nhất hiện
nay, thực hiện 90% các khoản thanh toán bằng đồng USD trên toàn thế giới.
1.3.2. CHAPS - Hệ thống thanh toán bù trừ tự động tại Anh
CHAPS là một hình thức thanh toán được đưa ra bởi một số chi nhánh ngân
hàng hối đoái (các ngân hàng thanh toán của Anh Quốc) vào năm 1984. Đây là một
hình thức thanh toán liên ngân hàng trực tuyến áp dụng cho việc chuyển khoản
SVTH: Huỳnh Minh Tuấn
7
Hệ thống ngân hàng đại lý tại Việt Nam GVHD: Phạm Hải Nam
những khoản tiền có giá trị lớn và được bảo đảm nội trong một ngày. Trước năm
1984, những hình thức thanh toán kiểu như này thường được thực hiện bởi việc các
đại diện ngân hàng trực tiếp đi đến các ngân hàng khác nhau trong thành phố
London để tiến hành giao dịch. Tuy nhiên, trước sự tăng khá nhanh của lượng tiền
và số lần giao dịch, người ta nhận thấy rằng cần phải có một hệ thống thanh toán
phù hợp hơn.
Các ngân hàng và các công ty muốn tham gia CHAPS phải trở thành thành
viên của các ngân hàng thanh toán. Điều này cho phép họ kết nối hệ thống máy tính
của doanh nghiệp với hệ thống CHAPS của ngân hàng dưới hình thức gói phần
mềm Gateway và Dịch vụ PSS.
Lượng giao dịch thông qua CHAPS đã tăng lên rõ rệt kể từ khi hình thức này
được giới thiệu. Số tiền tối đã cho mỗi lần giao dịch là không hạn chế và số tiền tối
thiểu hiện nay là 5000 USD. Trung bình mỗi ngày có khoảng 16000 giao dịch được

gia tăng sự tin cậy. Ngân hàng trung ương có các phương tiện máy tính dự phòng
cho trung tâm máy tính ở Osaka. Trung tâm máy tính, với sự trợ giúp của chi nhánh
Osaka, quản lý việc vận hành của BOJ-NET để xác định bất kỳ một lỗi hệ thống
nào và tiến hành các biện pháp cần thiết nếu cần khi có vấn đề xảy ra. Ngân hàng
trung ương đồng thời sử dụng mật mã, thẻ ID, và mã hóa dữ liệu để bảo đảm an
toàn cho các thông tin trao đổi qua mạng và ngăn chặn gian lận.
1.3.4. SWIFT – Hệ thống viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu
1.3.4.1. Giới thiệu chung về SWIFT
SWIFT là Hiệp hội viễn thông liên ngân hàng và các tổ chức tài chính quốc
tế (Society for Worldwide Interbank and Finacial Telecommunication). Đây là một
hiệp hội mà thành viên là các ngân hàng và các tổ chức tài chính, mỗi ngân hàng
tham gia là một cổ đông của SWIFT. SWIFT cung cấp các dịch vụ truyền thông an
ninh và phần mềm giao diện cho các cơ quan chuyên bán buôn tài chính. SWIFT là
nhà cung cấp sự an toàn, dịch vụ chuẩn hóa và phần mềm giao diện cho các quốc
gia và lãnh thổ. Thành viên của SWIFT bao gồm các ngân hàng, nhà môi giới, nhà
quản lý đầu tư. Cộng đồng của SWIFT cũng bao gồm các công ty cũng như cơ sở
hạ tầng ngân hàng trong việc thanh toán, đảm bảo, ngân khố và thương mại.
SVTH: Huỳnh Minh Tuấn
9
Hệ thống ngân hàng đại lý tại Việt Nam GVHD: Phạm Hải Nam
Phương châm hoạt động của hiệp hội là phục vụ các ngân hàng, không phải
mục tiêu lợi nhuận. Cho đến thời điểm này SWIFT đã liên kết gần 8100 tổ chức tài
chính trên 207 quốc gia và vùng lãnh thổ. SWIFT hoạt động theo luật pháp của Bỉ
và được sở hữu bởi các thành viên là các tổ chức tài chính, ngân hàng tham gia vào
nó. Trụ sở chính của SWIFT đặt tại La Hulpe, gần thủ đô Brussels, vương quốc Bỉ
và có văn phòng tại khắp nơi trên thế giới. SWIFT được thành lập tại Brussels năm
1973 dưới sự hỗ trợ của 239 ngân hàng của 15 nước và bắt đầu thiết lập các chuẩn
chung cho giao dịch tài chính, chia sẻ hệ thống xử lý dữ liệu và mạng viễn thông
toàn cầu. Năm 1974, SWIFT đưa ra các thủ tục và quy tắc pháp lý và đến năm
1977, thông điệp đầu tiên đã được gửi đi trên mạng SWIFT. Lý do sử dụng SWIFT

- Tiêu chuẩn ISO 9362-2009 (sửa đổi bổ sung ISO 9362-1994) về cấu trúc
mã SWIFT: là tiêu chuẩn được Hệ thống tiêu chuẩn quốc tế ISO xác nhận nhằm
quy định cấu trúc chuẩn của mã SWIFT (hay còn gọi là SWIFT code, SWIFT-BIC,
BIC code, SWIFT ID)
Địa chỉ BIC có hai loại, loại 8 ký tự dùng cho các ngân hàng độc lập và loại
11 ký tự dùng cho các chi nhánh, ngoài ra không có loại nào khác.
Loại 8 ký tự:
XXXX XX XX
(Bank-code) (Country-code) (Area-code)
Ví dụ 1: Deutsche Bank là một ngân hàng quốc tế có tổng hành dinh ở thành
phố Frankfurt, nước Đức. Mã SWIFT cho chi nhánh chính của ngân hàng này là:
DEUT DE FF
Giải thích:
- DEUT nhận diện Deutsche Bank
- DE là mã nhận diện nước Đức, Deutschland trong tiếng Đức
- FF là mã nhận diện thành phố Frankfurt
Ví dụ 2: Mã SWIFT của ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)
ở Hà Nội:
SVTH: Huỳnh Minh Tuấn
11
Hệ thống ngân hàng đại lý tại Việt Nam GVHD: Phạm Hải Nam
BFTV VN VX
Giải thích:
- BFTV nhận diện Bank for Foreign Trade of Vietnam
- VN là mã nhận diện nước Việt Nam
- VX là mã nhận diện bất cứ thành phố nào ở Việt Nam
Loại 11 ký tự: là địa chỉ SWIFT thường được dành cho các chi nhánh, giống
loại 8 ký tự nhưng có thêm ba ký tự phía sau để phân biệt các chi nhánh.
XXXX XX XX XXX
Bank Country Area Branch

gồm các trường với các khuôn dạng và các tiêu chuẩn được quy định bởi tổ chức
SWIFT.
Phần kiểm tra khóa SWIFT: phần này chỉ ra kết quả kiểm tra mã SWIFT
tại sở giao dịch và ngân hàng đại lý.
- Tiêu chuẩn ISO 20022-1:2004 và ISO 20022-2:2007 quy định về các
mẫu điện và quy trình giao dịch trong giao dịch tài chính toàn cầu.
- Tiêu chuẩn ISO 13616-2003 quy định về mã tài khoản ngân hàng trong
giao dịch thanh toán quốc tế nhằm tránh những rủi ro trong quá trình sao chép và
truyền dữ liệu.
- Tiêu chuẩn ISO 10383-2003 quy định về mã nhận diện thị trường và các
giao dịch ngoại hối.
1.4. Nghiệp vụ ngân hàng đại lý
SVTH: Huỳnh Minh Tuấn
13
Hệ thống ngân hàng đại lý tại Việt Nam GVHD: Phạm Hải Nam
Nghiệp vụ ngân hàng đại lý là nghiệp vụ liên quan đến việc xử lý các giao
dịch phát sinh giữa hai ngân hàng có thiết lập quan hệ đại lý hoặc giữa ngân hàng
với khách hàng của ngân hàng đại lý đối tác. Một số nghiệp vụ ngân hàng đại lý cơ
bản [11] như sau:
1.4.1. Thanh toán bù trừ
Thanh toán bù trừ trong hoạt động ngân hàng đại lý là việc chỉ thanh toán
phần chênh lệch giữa các giao dịch mua và các giao dịch bán có cùng cặp tiền tệ
hoặc của một loại tiền tệ của nhiều cặp tiền tệ khác nhau, cùng ngày giá trị thanh
toán giữa ngân hàng với ngân hàng đại lý.
Tiền tệ được sử dụng trong thanh toán bù trừ là đồng tiền clearing tức
là đồng tiền không được chuyển đổi ra bất kỳ đồng tiền nào khác, không được
chuyển khoản sang các tài khoản khác, bên nào dư nợ sẽ phải trả bằng ngoại tệ tự
do hoặc chuyển sang tài khoản vay nợ năm sau. Tùy theo sự thỏa thuận của hai bên,
tiền tệ clearing có thể được lựa chọn là tiền tệ của một trong hai nước của hai bên
hoặc tiền tệ của nước thứ ba. Với phương thức thanh toán này có thể qui định cả hai

Tín dụng ngân hàng quốc tế thường do các ngân hàng thương mại cung
cấp nhằm tài trợ cho hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và hoạt động đầu tư
nước ngoài. Loại hình này được thực hiện dưới các hình thức phổ biến sau:
1.4.3.1. Tài trợ xuất khẩu
Bao gồm các dịch vụ cơ bản
- Bao thanh toán quốc tế: Là nghiệp vụ bao thanh toán dựa trên hợp đồng
xuất khẩu hàng hóa mà khách hàng và con nợ là những doanh nghiệp ở các nước
khác nhau mà ngân hàng của hai bên có quan hệ đại lý. Vai trò của đơn vị bao thanh
toán là thu tiền nợ nước ngoài bằng việc tiếp cận với nhà xuất khẩu tại đất nước của
mình và truy đòi lại nhà nhập khẩu hoặc ngân hàng của nhà nhập khẩu.
- Chiết khấu bộ chứng từ theo phương thức tín dụng chứng từ: Để đáp ứng
nhu cầu vốn, nhà xuất phẩu sau khi giao hàng có thể thương lượng với ngân hàng để
ngân hàng thực hiện chiếu khấu bộ chứng từ hoặc ứng trước tiền trước khi bộ chứng
từ được thanh toán. Sau đó, ngân hàng sẽ chủ động theo dõi và nhận lại tiền từ ngân
SVTH: Huỳnh Minh Tuấn
15
Hệ thống ngân hàng đại lý tại Việt Nam GVHD: Phạm Hải Nam
hàng xuất trình – lúc này đóng vai trò là ngân hàng đại lý của ngân hàng đó tại nước
nhà nhập khẩu.
- Cho vay trên cơ sở chứng từ thanh toán theo phương thức nhờ thu: Khi
ngân hàng xử lý bộ chứng từ và gửi đi nhờ thu, ngân hàng sẽ cung cấp một khoản
ứng trước theo tỷ lệ phần trăm thỏa thuận dựa trên các khoản nhờ thu tồn đọng chưa
nhận được tiền cho nhà xuất khẩu. Phương thức này tương tự hình thứ chiết khấu bộ
chứng từ theo phương thức tín dụng chứng từ. Đối với loại hình này, vì rủi ro rất
cao nên lãi xuất nợ cũng cao hơn so với các hình thức tài trợ khác, đôi khi ngân
hàng yêu cầu nhà xuất khẩu phải có tài sản đảm bảo là chứng từ gửi hàng mang lại
quyền kiểm soát hàng hóa cùng tờ hối phiếu đang trong quá trình nhờ thu.
1.4.3.2. Tài trợ nhập khẩu
Bao gồm các dịch vụ ngân hàng thương mại cho bên nhập khẩu vay bằng
việc ngân hàng chấp nhận trả tiền cho người xuất khẩu, hoặc bảo lãnh vay vốn nước

- Các điều kiện kinh doanh tổng quát: các nghiệp vụ mà các NHĐL có thể
cung cấp cho nhau và cách thực hiện các giao dịch này.
- Các điều khoản và điều kiện khác
- Danh mục ngân hàng đại lý
- Báo cáo thường niên và các văn bản thông tin khác
- Hợp đồng tín dụng (gồm thỏa thuận về hạn mức tín dụng trong thời gian
luân chuyển chứng từ qua bưu điện, hạn mức tín dụng cho việc xác nhận chứng từ,
đảm bảo cho các hối phiếu được xác nhận, tỷ lệ ký quỹ, phí thanh toán,…)
1.5.2. Công nghệ
Hoạt động ngân hàng đại lý giải quyết những giao dịch liên hàng giữa hai
hoặc nhiều ngân hàng tại những quốc gia khác nhau nên đòi hỏi một nền tảng công
nghệ tiên tiến và chuẩn xác. Mặt khác, công nghệ cũng chính là kênh truyền tải
thông tin liên lạc giữa các ngân hàng đại lý trong quá trình thực hiện và xử lý giao
dịch. Trình độ công nghệ sẽ quyết định khả năng hội nhập của các ngân hàng Việt
Nam với các ngân hàng đối tác nước ngoài. Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ của
các ngân hàng ở các mức độ khác nhau, tạo sự chênh lệch khá cao về trình độ công
nghệ ở một số ngân hàng. Nói đến công nghệ thì phải đảm bảo được hai vấn đề.
SVTH: Huỳnh Minh Tuấn
17
Hệ thống ngân hàng đại lý tại Việt Nam GVHD: Phạm Hải Nam
Một là công nghệ phải hiện đại, đảm bảo các yêu cầu quản lý nội bộ, đáp ứng các
giao dịch kinh doanh, quản trị rủi ro, quản trị thanh khoản, có khả năng kết nối
thông suốt với các ngân hàng. Hai là, phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại trên
cơ sở phải quản lý, phòng chống được rủi ro, bảo mật và an toàn trong hoạt động.
Xác định đúng tầm quan trọng của công nghệ và việc hiện đại hoá công nghệ là một
trong những điều kiện cơ bản để hướng tới việc đảm bảo các chuẩn mực quốc tế của
các NHTM Việt nam trong quá trình cạnh tranh và hội nhập. Hiện đại hoá công
nghệ ngân hàng là điều tất yếu phù hợp với tiềm lực tài chính của ngân hàng, phù
hợp với mặt bằng chung về công nghệ của đất nước, đảm bảo xu thế chung của khu
vực và quốc tế. Do đó có thể nói sự phát triển về công nghệ là điều kiện cần đối với

19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ ĐẠI LÝ
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1. Tổng quan về hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng
Sau 2 năm gia nhập WTO, hoạt động đối ngoại trong lĩnh vực ngân hàng của
Việt Nam đã góp phần thực hiện thành công chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng
hóa, đa phương hóa nhằm tăng cường vị thế và uy tín của Việt Nam nói chung và hệ
thống ngân hàng Việt Nam nói riêng trong khu vực và trên thế giới. Một số kết quả
đã đạt được như sau:
Thứ nhất, thực hiện đầy đủ và hiệu quả các cam kết gia nhập WTO
trong lĩnh vực ngân hàng
Thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ nhằm đảm bảo nền kinh
tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên WTO, NHNN đã ban
hành Chương trình hành động của NHNN thực hiện Chương trình hành động của
Chính phủ sau khi Việt Nam gia nhập WTO giai đoạn 2007 – 2012. Đến nay,
NHNN đã sửa đổi, bổ sung và ban hành mới nhiều văn bản pháp luật về tiền tệ và
hoạt động ngân hàng theo hướng minh bạch hoá chính sách, tuân thủ các nguyên tắc
thị trường và cam kết quốc tế nhằm tạo môi trường hoạt động kinh doanh ngày càng
thông thoáng, thuận lợi cho các TCTD hoạt động tại Việt Nam; trong đó NHNN đã
tích cực triển khai tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện Luật NHNN và Luật các
TCTD.
Thực hiện các cam kết gia nhập WTO liên quan đến tiếp cận thị trường và
đối xử quốc gia trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, NHNN đã triển khai các hành
động cụ thể:
- Về việc thiết lập hiện diện thương mại của các tổ chức tín dụng nước ngoài
tại Việt Nam: Hiện nay, NHNN đang hoàn tất trình Chính phủ ban hành Nghị định
thay thế Nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 về tổ chức và hoạt động của
ngân hàng thương mại; đang hoàn thiện Thông tư sửa đổi Thông tư 03/2007/TT-
NHNN hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 22/2006/NĐ-CP về tổ chức
và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân

các ngân hàng hoạt động tại Việt Nam, thông qua diễn đàn thường kỳ với Nhóm
Hệ thống ngân hàng đại lý tại Việt Nam GVHD: Phạm Hải Nam
Công tác Ngân hàng thuộc Diễn đàn Doanh nghiệp Việt nam, NHNN đã phối hợp
chặt chẽ với đại diện của cộng đồng ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam trao đổi
thẳng thắn và cởi mở về các vấn đề chính sách và kỹ thuật trong hoạt động ngân
hàng. Việc đối thoại thường xuyên đã giúp các ngân hàng hiểu rõ các chính sách,
quy định của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng, và ngược lại, giúp NHNN nắm
bắt được các mối quan tâm và đề xuất của các ngân hàng để từ đó giải quyết kịp
thời và hiệu quả những vấn đề còn tồn tại. Những vấn đề được thảo luận tích cực tại
diễn đàn này bao gồm: các quy định hướng dẫn trong lĩnh vực quản lý ngoại hối, tác
động của chính sách tiền tệ, lãi suất, tỷ giá đến hoạt động ngân hàng, phát triển cho
vay tiêu dùng…
Thứ hai, thúc đẩy hợp tác song phương và đa phương trong lĩnh vực tài
chính ngân hàng
Quan hệ hợp tác song phương giữa NHNN với NHTW các nước trên khắp
thế giới tiếp tục phát triển. Chỉ riêng năm 2008, NHNN đã ký văn bản hợp tác với
10 cơ quan quản lý ngân hàng các nước Anh, Hồng Kông, Hàn Quốc, Trung Quốc,
Nga, Đài Loan, Úc, Malaysia, Singapore và Nhật Bản. Các văn bản hợp tác này đã
tạo cơ sở giúp NHNN xây dựng được kênh thông tin trao đổi 2 chiều hữu ích với cơ
quan quản lý của các tổ chức tín dụng có hoạt động tại Việt nam.
Trong khuôn khổ triển khai thiết lập các khu vực mậu dịch tự do giữa
ASEAN với các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Úc, New Zealand và Ấn
Độ thông qua việc xây dựng các Hiệp định và Thoả thuận hợp tác kinh tế toàn diện,
NHNN đã tham gia tích cực vào các phiên đàm phán với các nước đối tác gồm Úc –
New Zealand, EU, Trung Quốc. Tại các phiên đàm phán này, NHNN đã chủ động
trao đổi với các đối tác cũng như với các nước ASEAN khác để có thể đạt được các
cam kết thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng thuận lợi nhất cho Việt Nam. Hiện nay,
Việt Nam cũng đang chuẩn bị thiết lập đàm phán Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
– Chile và xây dựng Hiệp định Đầu tư Việt Nam – Venezuela.
Trong hợp tác ASEAN+3, năm 2008 đã đánh dấu một mốc đặc biệt quan

2.2. Hoạt động ngân hàng đại lý của các ngân hàng Việt Nam
Hệ thống ngân hàng đại lý tại Việt Nam GVHD: Phạm Hải Nam
2.2.1. Mạng lưới ngân hàng đại lý của một số NHTMCP
Theo số liệu tổng hợp từ các báo cáo thường niên của các ngân hàng TMCP,
số lượng ngân hàng đại lý tính đến cuối năm 2008 của một số ngân hàng TMCP
Việt Nam như sau:
Bảng 2.2. Số lượng các NHĐL được thiết lập tại nước ngoài của một số ngân
hàng Việt Nam (tính đến 2008)
NGÂN HÀNG
SỐ LƯỢNG
NHĐL
QUỐC GIA
Vietcombank 1640 230
Eximbank 750 82
Agribank 931 132
Vietinbank 850 80
BIDV 912 -
ACB 593 80
Sacombank 756 80
Liên Việt Bank 1001 100
Ngân hàng quân đội 700 75
Nam Á 200 -
Phương Đông 251 -
VIBank 323 62
Đông Á 742 105
VP Bank 256 73
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo thường niên của các ngân hàng
Năm 2008 đánh dấu mốc 2 năm Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế
giới WTO và thực hiện các cam kết dịch vụ theo Hiệp định GATS của WTO. Nếu
so với các ngân hàng nước ngoài, số lượng ngân hàng đại lý của các ngân hàng Việt

Trích đoạn Nâng cao chất lượng dịch vụ và đa dạng hóa sản phẩm Phát triển hệ thống CNTT trong hoạt động quản lý ngân hàng Hộp 2.6 Hai phương pháp ứng dụng CNTT để phát triển các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng Hộp 2.7 Cơ hội phát triển hệ thống thanh toán phi tiền mặt CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT & KIẾN NGHỊ ĐỂ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ ĐẠI LÝ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status