Quy trình sản xuất giống tôm sú - Pdf 15

MỤC LỤC
Lời nói đầu:
Sơ lược về lòch sử phát triển của nghề nuôi tôm:
Chương I: Một số đặc điểm sinh học cơ bản của tôm sú:
Chương II: Một số yêu cầu kỹ thuật chọn vò trí, thiết kế và xây dựng trại sản xuất giống:
Chương III: Một số biện pháp xử lý nước phục vụ cho trại tôm giống:
Chương IV: Kỹ thuật nuôi vỗ tôm bố mẹ cho đẻ:
Chương V: Kỹ thuật nuôi tảo làm thức ăn cho ấu trùng tôm:
Chương VI: Kỹ thuật sử dụng trứng Artemia làm thức ăn cho ấu trùng tôm:
Chương VII: Kỹ thuật nuôi ấu trùng:
Chương VIII: Quản lí bệnh trong trại tôm giống:
Chương IX: Đánh giá chất lượng giống tôm sú:
Chương X: Quy trình thực hành kỹ thuật sản xuất tôm sú giống:
Chương XI: Các loại thức ăn – hóa chất, thuốc kháng sinh thường dùng trong sản xuất tôm
giống:
LỜI MỞ ĐẦU
Để đáp ứng nhu cầu của các trại sản xuất tôm giống trong cả nước.Trung tâm Nghiên Cứu
Nuôi Trồng Thủy Sản – Đại Học Thủy Sản mở lớp đào tạo kỹ thuật viên kỹ thuật sản xuất
giống tôm sú (Penaeus monodon).
Đối tượng đào tạo là các học viên có trình độ văn hóa phổ thông, đã và sẽ tham gia các
trại sản xuất tôm giống.
Tài liệu này tóm tắt những kiến thức cơ bản ban đầu giúp cho các học viên có điều kiện
để tiến hành tốt việc thực hành.
Phần đặc điểm sinh học giúp các học viên hiểu biết về sinh học về mùa sinh sản tôm mẹ
và ấu trùng tôm.
Phần nuôi tảo, Artemia sẽ giúp học viên nắm vững một số đặc điểm sinh học của các đối
tượng được sử dụng để làm thức ăn tươi sống cho ấu trùng tôm và phương pháp nuôi sinh khối
trong các trại sản xuất tôm giống.
Phần nuôi vỗ tôm bố mẹ giúp học viên hiểu được cơ chế phát dục, các điều kiện cần
thiết cho quá trình nuôi vỗ tôm bố mẹ, cho đẻ.
Phần chăm sóc ương ấu trùng nuôi tôm giúp học viên hiểu được yêu cầu của ấu trùng ở

Thái Lan
Cũng từ đây trên thế giới đã sản xuất thành công với nhiều đối tượng tôm he khác, gần 20
loài thuộc giống Penaeus và 7 loài thuộc giống Metapenaeus.
Ngày nay trên thế giới việc sản xuất tôm nhân tạo đã phát triển đến quy mô hiện đại và
tồn tại nhiều quy trình khác nhau thể hiện tính phong phú, đa dạng phù hợp với điều kiện tự
nhiên, tình hình nguồn lợi khu vực. Sự phát triển không ngừng của nghề nuôi tôm và điều
kiện trang thiết bò của từng đòa phương, khu vực, quốc gia riêng biệt làm sản lượng tôm giống
thu được từ sinh sản nhân tạo ở các nước không ngừng tăng lên, hàng năm cung cấp một số
lượng giống lớn cho người nuôi tôm thòt. Nhưng tại hội thảo quốc tế về tổ chức nuôi tôm tại
Nakisia tháng 6-1990 cho rằng “nghề nuôi tôm (chủ yếu là tôm sú) tuy đã phát triển rộng
khắp nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của con người”.
II)VIỆT NAM
Ở Việt Nam nuôi tôm là nghề truyền thống có từ lâu đời nhưng thực chất của nó là
nuôi nước lợ, trong đó có nuôi tôm với hình thức nuôi quảng canh cổ truyền và bán thâm
canh, con giống tự nhiên. Còn nuôi thâm canh và công nghiệp có quy mô thì chỉ mới phát
triển khoảng 6-7 năm gần đây, khi mà sản xuất tôm bột đang đạt đến số lượng thương phẩm.
Theo tổng kết của Hội thảo khoa học về nuôi tôm lần thứ nhất vào năm 1987 ở nước
ta: Từ năm 1971 trạm nghiên cứu nuôi trồng thủy sản nước lợ (Viện nghiên cứu) và trường Đại
2
học Thủy Sản đã cho đẻ tôm he P.merguiensis (tôm bạc, tôm thẻ) và tôm Metapenaeus ensis
(tôm rảo, tôm đất) tại Quý Kim - Bãi Cháy. Nhưng ấu trùng chỉ phát triển đến giai đoạn Zoae
ít con chuyển đến giai đoạn Mysis thì cũng chết. Đến năm 1974 với sự giúp đỡ của chuyên
gia Nhật Bản Macno Kasumi Trạm đã cho sản xuất 65.000 Postlarvae P.oriensis ở các bể
10m
3
; 1,5 triệu Postlarvae P.merguiensis ở bể 200m
3
theo kiểu Nhật.
Cùng với sự nghiên cứu cho tôm đẻ, trạm đã thành công trong nghiên cứu nuôi luân
trùng Brachionus làm thức ăn cho ấu trùng tôm. Sự thành công của nghiên cứu gây thức ăn

trại được xây dựng rất lớn và nhiều với quy trình ngày một hoàn thiện hơn, nhưng vẫn không
đáp ứng đủ nhu cầu về giống cho con người nuôi. Vì vậy để nghề nuôi tôm phát triển mạnh
việc nghiên cứu học tập nâng cao kỹ thuật hoàn thiện hơn quy trình sản xuất để nâng cao
năng suất, chất lượng tôm giống. Việc cần thiết là phải đầu tư nhiều hơn nữa vào nghề nuôi
tôm.
3
Chương I: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CƠ BẢN CỦA TÔM SÚ(Penaeus monodon)
MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA TÔM SÚ
(Penaeus monodon, Fabricius 1789)
1. Vò trí phân loại:
Tôm sú/ tôm giang/ tôm cỏ thuộc lớp giáp xác bộ mười chân, họ tôm he. Tôm sú có tên
khoa học là Penaeus monodon, Fabricius 1789.
2.Hình thái:
Trên cơ thể tôm sú có vệt sọc màu xám đậm, hơi xanh hoặc nâu đỏ, tôm có chủy dài
hơi cong, có 7-8 gai trên chùy (Hình 1 và 2).
3. Phân bố:
Tôm sú phân bố chủ yếu ở các vùng ven biển Châu Á Thái Bình Dương, từ phía nam
Nhật Bản xuống phía Bắc Úc Châu, từ phía đông Phi châu sang Indonêsia. Ở Việt Nam tôm sú
có nhiều ở các vùng biển miền Trung.
4. Tính ăn của tôm sú:
Tôm sú thiên về ăn các động vật nhỏ như giun, nhuyễn thể, cá, côn trùng, trong ruột
tôm còn tìm thấy các mảnh thực vật, bùn cát.
Ấu trùng Zoae ăn thực vật phù du. Ấu trùng Mysis chủ yếu ăn động vật phù du. Hậu ấu
trùng Postlarvae ăn tạp thiên về động vật.
5. Sinh trưởng của tôm sú:
Khi ương trong ao sau 25-30 ngày, tôm sú đạt kích cỡ 2-3 cm. Khi nuôi trong ao, sau 4
tháng, tôm sú có thể đạt kích cỡ trung bình 25 - 40g/ con.
Tôm sú lột xác nhiều lần và có tính chu kỳ để lớn.
6. Cơ quan sinh sản của tôm sú:
*Tôm đực:

Tôm sú ở vùng biển miền Trung, mùa đẻ rộ của tôm sú từ tháng 2 đến tháng 5 và từ
tháng 7 đến tháng 9. Ở các thủy vực miền Nam, mùa đẻ của tôm sú có thay đổi chút ít, tùy
thuộc vào điều kiện thời tiết trong hàng năm.
10. Khả năng đẻ trứng của tôm sú:
Tôm sú tự nhiên ở vùng biển Khánh Hòa có thể từ 300.000 đến 1.000.000 trứng.
* Đẻ trứng: tôm thường đẻ trứng ở các bãi xa bờ, nứơc sâu, nước trong sạch, có độ mặn
cao, trên 30‰

.
11. Qúa trình phát triển của tôm sú:
* Phát triển phôi
Trứng tôm sú hình cầu, màu vàng xanh, đường kính trung bình 0,30 mm. Thời gian để
phôi phát triển qua giai đoạn 2 tế bào, giai đoạn phát triển của phôi nang và thời điểm xuất
hiện Nauplius trong trứng là 0,5: 1,5: 8 giờ tính từ sau khi đẻ. (hình 6).
* Ấu trùng
Ấu trùng tôm lột xác nhiều lần và phát triển qua các giai đoạn Nauplius, Zoae, Mysis
(hình 7).
Giai đoạn Nauplius:
Ấu trùng Nauplius (N) biến thái qua giai đoạn phụ. Nauplius mới nở có hình quả lê, sau
biến đổi dần và trở nên dài ra. (Hình 7) Nauplius sống phù du, trôi nổi ở tầng trên. Đặc điểm
chủ yếu của các giai đoạn Nauplius như sau:
Nauplius 1 (N1): Ấu trùng mới có hình quả lê có chiều dài trung bình 0,33 mm. Công
thức gai đuôi là 1+1.
Nauplius 2 (N2): Ấu trùng có chiều dài trung bình 0,34 mm. Công thức gai đuôi là 1+1.
Trên các gai ở phần phụ có các lông.
Nauplius 3 (N3): Ấu trùng có chiều dài trung bình 0,38 mm. Công thức gai đuôi 3+3.
Cơ thể trở nên thon hơn.
Nauplius 4 (N4): Ấu trùng có chiều dài trung bình 0,42 mm. Cơ thể trở nên dài hơn,
đặc biệt phần đuôi. Công thức gai đuôi 3+3.
Nauplius 5 (N5): Ấu trùng có chiều dài trung bình 0,47 mm. Công thức gai đuôi 5+5

Post-larvae có hình dạng giống như tôm trưởng thành, chân bơi phân thành 3 đốt.
Post-larvae lột xác nhiều lần để trở thành tôm con. Tuổi Post-larvae được tính theo
ngày kể từ ngày biến thành Post-larvae đầu tiên. Post-larvae có đời sống ở đáy.
* Tôm con: Rất giống tôm trưởng thành.
* Tôm trưởng thành: Ở giai đoạn này tôm bắt đầu phát dục mạnh mẽ.
* Tôm thành thục: Tôm có kích thướt lớn hơn so với tôm trưởng thành, hoàn toàn chín
sinh dục, di cư xa bờ, có khi tới vùng biển sâu 160 m để đẻ.
12. Vòng đời của tôm sú:
Theo Motoh (1981), vòng đời của tôm sú được trình bày trong hình 8.
13. Một số yêu cầu sinh thái của tôm sú:
Hình vẽ 8 cho thấy có yêu cầu về độ mặn khác nhau tùy thuộc từng giai đoạn phát
triển, tôm thường phân bố tự nhiên ở các thủy vực có độ mặn 10-30 ‰.
Một số yếu tố môi trường phù hợp đối với tôm sú:
- Độ mặn của nước: 20-30 ‰
6
- Nhiệt độ nước: 25-30
0
C
- pH: 7,5-8,5
- Lượng oxy hòa tan: 3-5 mg/l
Đối với ấu trùng và hậu ấu trùng, các yếu tố môi trường thích hợp là:
- Độ mặn của nước: 30-33 ‰
- Nhiệt độ nước: 29-31
0
C
- pH: 7,5-8,5
- Lượng oxy hòa tan: > 5 mg/l
- NH
4
+

việc xử lý nước có nguồn gốc từ mạch ngầm mặc dù các tiêu chuẩn thủy lý, hóa cũng ổn đònh
nhưng vẫn có một chỉ tiêu các chất vô sinh hòa tan vượt quá ngưỡng cho phép so với yêu cầu
của trại sản xuất. Do đó muốn sử dụng được đòi hỏi phải qua công đoạn xử lý phức tạp hơn,
thể tích các loại bể lắng, cấp phải tăng lên gấp 3 lần so với bình thường, tăng giá thành sản
xuất. Mặc dù vậy khi sử dụng nước ngầm với quy trình xử lý nước tốt sẽ thuận lợi hơn về mặc
sản xuất ổn đònh lâu dài.
7
Vì vậy để lựa chọn được vò trí xây dựng trại sản xuất cần phải qua điều tra, khảo sát,
tốt nhất nguồn nước phải đảm bảo các chỉ tiêu sau:
- Độ mặn của nước: > 28 ‰
- Nhiệt độ nước: 25-31
0
C
- pH: 7,5-8,5
- Kim loại nặng: < 0,01 mg/l
- NH
4
+
-N: < 0,1 mg/l
- NO
2
-N: < 0,01mg/l
- H
2
S: < 0,1 mg/l
1.2.2 Nước ngọt:
Mặc dù không có yếu tố quyết đònh trong sản xuất nhưng có được nguồn nứơc ngọt tốt
sẽ thuận lợi hơn cho vấn đề vệ sinh trại sau mỗi đợt sản xuất, cho sinh hoạt, cho thuần hóa độ
mặn khi cần thiết. Do đó nguồn nước ngọt sử dụng có thể là nước máy, nước giếng, nước
ngầm tốt.

15
/ năm. Vì vậy
trong phạm vi tư liệu này chúng tôi chỉ giới thiệu về thiết kế cho 01 đơn nguyên trại sản xuất
tôm giống từ công đoạn nuôi vỗ tôm bố mẹ đến PL
15
có công suất từ 10-15 triệu PL
15
/ năm
8
đang phổ biến rộng rãi được kiểm chứng thực tế có hiệu quả cao trong nhiều năm thực
nghiệm.
2.1 Sơ đồ trại sản xuất tôm giống công suất từ 10-15 triệu PL
15
/năm:
2.2 Công trình xây dựng cơ bản:
- Yêu cầu công trình xây trát kín, chống thấm.
STT Hạng mục Cấu trúc Thể tích ĐVT SL
1 Bể lắng nước Có mái che 30m
3
Bể 02
2 Bể xử lý, cấp nước Có mái che 27m
3
Bể 03
3 Bể nuôi tôm bố mẹ Có mái che 12m
3
Bể 02
4 Bể cho đẻ Có mái che 1,8m
3
Bể 06
5 Bể nuôi tảo Mái che lấy ánh sáng 1,8m

tinh
- Hóa chất các loại
*Chú thích:
1. Bể lắng (A
1,2
) =(3,7 x 3,7 x 2,2m) =30m
3
2. Bể cấp nước (B
1,2,3
) =(3,7 x 3,6 x 2,0m) =27m
3
3. Bể nuôi vỗ tôm bố mẹ (C
1,2
) =(3,0 x 3,0 x 0,8m) =07m
3
4. Bể cho đẻ (D
1,2,3,4,5,6
) =(1,5 x 1,5 x 0,8m) =1,8m
3
5. Bể lọc cát (E
1,2
) =(1,2 x 1,2 x 1,5m) =02m
3
6. Bể nuôi tảo (F
1,2,3
) =(1,5 x 1,5 x 0,8m) =1,8m
3
7. Bể ương ấu trùng (G
1,2, 12
) =(2,0 x 2,6 x 1,1m) =5,5m

2
O → MnO
2
+ 3Fe(OH)
3
↓+ KHCO
3
+ 5H
2
CO
3
1mg Fe
2+
/ liter ≈ 0,94mg KMnO
4
(2) 3H
2
S + KMnO
4
→ S + MnO + 3H
2
O
1mg H
2
S/ liter ≈ 6,19mg KMnO
4
/ liter
Thông thường lượng thuốc tím cần dùng để xử lý nguồn nước biển từ Vũng Tàu đến Cà
Mau từ 0,5-2 mg/ lít.
Nước biển sau khi dùng thuốc tím để xử lý sẽ có màu tím hồng nhưng nhanh chóng

3
.H
2
O → Na
2
S
2
O
6
+ NaCl + 10H
2
O
* Cách kiểm tra Cl
2
tự do dư thừa trong nước:
Lấy 10-20 ml nước đã xử lý Chlorin nhỏ 1-2 giọt thuốc thử Orthotolidin 1% nếu nước
xuất hiện màu vàng là còn dư Cl
2
, nếu nước không màu chứng tỏ đã không còn dư Cl
2
.
* Theo kinh nghiệm, sau 24 h xử lý Chlorin, người ta dùng một lượng Thiosulphat tương
đương với lượng Chlorin đã sử dụng để khử lượng Cl
2
dư thừa trong nước.
2. Lọc cơ học:
Nước trong bể lắng đã được loại bỏ chất hữu cơ, khử trùng sẽ được lọc qua bể cát.
10
Thông thường bể lọc cát có thể tích 2m
3

C.
- Phương pháp kín:
Tôm chứa trong những túi nhựa (loại túi chuyên dùng 40 x 60 x 60 cm) có chứa oxy.
Thời gian vận chuyển không quá 14 tiếng.
Nhiệt độ ổn đònh trong suốt quá trình vận chuyển không vượt quá 30
0
C.
4. Kỹ thuật nuôi tôm phát dục:
4.1 Xử lý:
Tôm bố mẹ vận chuyển về trại được xử lý trước khi đưa vào bể nuôi để loại trừ mầm
bệnh và tránh lây lan về sau.
Hóa chất thường dùng để xử lý bao gồm trong các loại sau:
Formalin 25-50 ppm
11
Treaflan 0,5-1 ppm
KMnO
4
2-3 ppm
Malachite green 3-5 ppm
Thời gian xử lý thường từ 15-30 phút.
Trong quá trình nuôi vỗ, đònh kỳ 3-4 ngày xử lý tôm 1 lần để loại mầm bệnh bám trên
vỏ.
Khi chọn tôm, chuẩn bò cho đẻ phải được xử lý để tránh gây bệnh cho ấu trùng.
4.2 Cắt mắt:
4.2.1 Nguyên lý:
Ở giáp xác mười chân (Decapoda), tiếp giáp giữa cầu mắt và cuống mắt của chúng có
cơ quan X và tuyến sinus tiết ra MIH (Molt Inhibiting Hocmone) ức chế lột xác và GIH (Gonad
Inhibiting Hocmone) ức chế thành thục sinh dục.
Cơ quan Y nằm ở gốc chân hàm lớn, sản xuất Ecdysone (Hocmone lột xác)
Trong điều kiện bình thường MIH kìm hăm lột xác và GIH kiềm hăm thành thục sinh

Phối hợp nhiều loại thức ăn trong khẩu phần để đảm bảo dinh dưỡng cũng như phù
hợp tính ăn của từng cá thể.
Loại thức ăn: Thức ăn tổng hợp, mực ống, hàu, nghêu, trai, giun biển, ốc càng và thòt
bò.
12
Ngày cho ăn 3 lần: 8 giờ sáng, 7 h chiều và 23 giờ đêm.
Lượng cho ăn hàng ngày bằng 10-15% tổng trọng lượng đàn tôm mẹ trong thời kỳ phát
dục. Bằng 3-5% tổng trọng lượng cơ thể tôm mẹ trong giai đoạn lột xác.
4.3.4 Thay nước: Hàng ngày thay nước 2 lần, mỗi lần 100%, đảm bảo nguồn
nứơc nuôi được sạch. Cân bằng độ mặn và nhiệt độ giữa nước cấp và nước trong bể nuôi.
4.3.5 Cho đẻ: Kiểm tra tôm mẹ hàng ngày vào 7h tối, nếu phát hiện tôm mang
trứng ở giai đoạn III, IV thì chuyển ngay tôm mẹ sang bể cho đẻ.
Thời gian đẻ của cá thể đầu và cuối trong cùng 1 bể không quá 2 tiếng.
Mật độ trứng khoảng 1.000.000 trứng/ m
3
.
Tôm thường đẻ vào ban đêm, khoảng 8 giờ tối – 3h sáng. Tôm sú chuẩn bò đẻ, màu sắc
sậm lại sau đó bơi lên mặt nước nghiên mình và đẻ trứng. Khi tôm đẻ 3 đôi chân sau chụm lại
duỗi về sau, cơ cử động nhòp nhàng giúp quá trình đẻ trứng và phóng tinh. Các đôi chân bơi
cử động mạnh giúp tôm mẹ bơi về phía trứơc cho trứng thụ tinh và phân tán ra. Quá trình đẻ
có thể liên tục hoặc gián đoạn.(Xem hình số 4: Các giai đoạn phát triển của buồng trứng ở
phần sinh học)
* Đánh giá chất lượng đẻ:
Tốt Xấu
Mùi tanh ít Mùi tanh
Bọt ít và nhỏ Bọt nhiều và có nhớt
Trứng rời Trứng vón
Có màng thụ tinh Ít màng thụ tinh
Sau 30 phút có phân cắt 2 tế bào Sau 30 phút có đa số trứng không phân cắt, trứng vỡ
nhiều.

Đôi khi kéo dài do sự thích hợp với môi trường sinh dưỡng mới của tảo kém và có tế
bào có thể chết.
1.2 Pha tăng trưởng:
Đặc trưng bởi sự phân chia tế bào liên tục theo công thức X x 2
n
(X là số tế bào tham
gia sinh sản X ≥ 1), n số lần sinh sản (n ≥ 1).
1.3 Pha dừng:
Đặc trưng bởi sự cân bằng giữa sự sinh tăng trưởng của tế bào mới và tế bào bò chết đi.
1.4 Pha chết:
Đây là kết quả của sự triệt tiêu hết chất dinh dưỡng đến mức không thể duy trì sự phát
triển hoặc cũng có thể do chất thải trong quá trình sống.
Tảo khuê có thể sinh sản theo 2 cách:
- Phân chia tế bào.
- Hình thành bào tử.
2. Kỹ thuật nuôi cấy:
2.1 Trang thiết bò:
- Vợt các loại (vợt thu, vợt lọc)
- Lưới thu.
- Dây thu Ф 21 hoặc 27.
- Dây khí, đá bọt.
- Bể gây giữ giống (bình thủy tinh, hoặc hình tam giác).
- Bể sinh khối (từ 1-3m
3
/ bể).
- Hóa chất các loại.
2.2 Môi trường nuôi cấy:
Dùng môi trường Walne để giữ và nuôi sinh khối tảo khuê
Các dung dòch theo thứ tự sau:
* Dung dòch 1 (tăng trưởng)

2,1 gr
CoCl
2
.6H
2
O 2.0 gr
Hòa tan trong 100 ml nước ngọt
* Dung dòch 3 (vitamin)
B
1
200 mg
B
12
100 mg
Hòa tan trong 100 ml nước ngọt
* Dung dòch 4 (dung dòch tăng thêm)
KNO
3
100 gr
Hòa tan trong 1 lít nước ngọt
* Dung dòch 5 (môi trường Silicat)
Na
2
SiO
3
.5H
2
O 20 gr (hoặc 67ml)
Hòa tan trong 1 lít nước ngọt
Các môi trường trên khi dùng trong cuôi cấy thì dùng mỗi loại loại dung dòch (1,3,4,5)

nuôi sinh khối.
2.5 Kỹ thuật nuôi sinh khối:
Trong các trại sản xuất tôm giống, người ta thường bắt đầu nuôi sinh khối tảo khi ấu
trùng Nauplius (N) ở giai đoạn N
3
hoặc N
4
. Việc nuôi sinh khối được tiến hành theo các bước
sau:
- Vệ sinh kỹ bể nuôi bằng xà phòng sau đó rửa lại bằng nước biển đã xử lý.
- Bơm nước biển đã xử lý vào bể.
- Cấp khí (24h/ 24h).
- Cấp tảo giống (giống đang lưu giữ) đang ở pha tăng trưởng với mật độ 50.000-70.000
tb/ ml.
- Cấp các muối dinh dưỡng (bón phân) theo thứ tự các dung dòch đã pha sẵn (chú ý
dung dòch 5 thường kết tủa với nước mặn, vì vậy đối với dung dòch này ta phải pha thêm nước
ngọt). Vào những ngày trời râm có thể tăng dung dòch 5 lên gấp nhiều lần.
- Khi tảo trong bể nuôi sinh khối đạt mật độ khoảng 500.000-600.000 tb/ ml hoặc bằng
mắt thường ta thấy tảo có màu nâu đậm là có thể tiến hành thu sinh khối.
* Cách thu: dùng dây nhựa Ф 21 hoặc lớn hơn tùy theo dòng chảy, một đầu được buộc
túi lưới thu (kích thướt mắt lưới từ 15-20 μm) đầu kia cho vào bể nước hút nhẹ, nước tảo sẽ
chảy ra liên tục trong khoảng thời gian 15-30 phút, các tế bào tảo được giữ lại, sau đó tháo túi
ra và chuyển sinh khối tảo này vào xô, cứ thế lại tiếp tục thu cho đến khi nước trong bể nuôi
tảo còn 1/4 – 1/5 thì có thể kết thúc.
Chương VI: KỸ THUẬT SỬ DỤNG TRỨNG ARTEMIA LÀM THỨC ĂN CHO ẤU TRÙNG
TÔM
PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRỨNG BÀO XÁC ARTEMIA LÀM THỨC ĂN CHO ẤU TRÙNG
TÔM
1. Giơí thiệu:
16

chlorin, lớp màng ngoại bì và lớp màng phôi.
Lớp chlorin cứng, màu nâu nhạc đến nâu đen. Lớp này có vai trò bảo vệ phôi khỏi bò
tác động cơ học và phóng xạ. Khi bò oxy hóa bởi thuốc tẩy, lớp này sẽ bò phá hủy.
Lớp màng ngoại bì có tác dụng phôi không bò các phân tử lớn hơn CO
2
xâm nhập vào.
Màng phôi là một lớp trong suốt cánh biệt với phôi bởi màng nội bì. Màng này sẽ biến
thành màng nở trong quá trình trứng nở .
Phôi là một phôi vò đồng nhất. Phôi sẽ ngừng trao đổi chất khi hàm lượng nước trong
trứng dưới 10%. Khi hàm lượng nước trên 10% phôi sẽ bắt đầu hoạt động và trong điều kiện
có Oxy sẽ làm phá vỡ hệ Enzym chuyên biệt trong trứng bào xác.
2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường lên sự trao đổi chất:
17
- Nhiệt độ: Trứng bào xác (chứa nước 2-5‰) có khả năng chòu đựng biên độ nhiệt độ
rộng từ -21 đến 60
0
C trong thời gian ngắn có thể chòu được 60-90
0
C. Đối với trứng đã trương
nước, khả năng chòu nhiệt có khác nhau:
* Dưới -18
0
C và trên +40
0
C: Trứng ngừng trao đổi chất.
* Trong phạm vi -18
0
C và trên +40
0
C: Khả năng sống không bò ảnh hưởng.

trao đổi chất. Tốt nhất nên giữ nhiệt độ ổn đònh trong thời gian cho nở.
* Độ mặn: Độ mặn 5-35‰ sẽ cho tỷ lệ nở và hiệu suất cao hơn. Ấu trùng cũng chứa
nhiều năng lượng hơn.
* pH: Thích hợp 8-8,5. Nếu bổ sung thêm NaHCO
3
vào môi trường để đảm bảo pH
không dưới 8.
* Oxy: Hàm lượng Oxy ≥ 2 mg/ l. Do đó nên điều chỉnh tốc độ sục khí cho thích hợp.
* Mật độ ấp trứng: Mật độ ấp trứng không nên quá 5 gr/ l.
* Ánh sáng: Cường độ chiếu sáng trên mặt nước 2.000 lux thì thích hợp nhất.
3.3 Phương pháp ấp trứng (hình 4)
- Dụng cụ:
- Bể ấp có hình chóp trong suốt hoặc mờ. Thể tích 200-1000 lít.
- Hệ thống sục khí.
- Đèn chiếu sáng.
- Sàng lưới 125μm
18
- Xô, chậu, ca,
- Hóa chất Clorin (thuốc tẩy).
- Tính lượng bào xác cần thiết.
Số lượng AT tôm x Số lượng Artemia cần cho 1 AT tôm
-Khối lượng cần ấp =
Số AT Artemia đã nở/ 1 gr trứng bào xác khô
- Khử trùng vỏ trứng: Khử trùng là biện pháp quan trọng làm giảm mầm bệnh (nấm, vi
khuẩn) cho ấu trùng tôm, làm tăng tỷ lệ nở của trứng bào xác.
Các bước tiến hành như sau:
* Ngâm lượng trứng cần ấp trong nước ngọt khoảng 1 giờ để trứng hút nước.
* Ngâm lượng trứng cần ấp vào dung dòch thuốc tẩy (Chlorine), nồng độ 200 ppm từ
20-30 phút.
* Rửa sạch nhiều lần bằng nước ngọt hoặc bằng nước biển đã lọc (trứng được chứa

Trọng lượng
khô (g)
Năng lượng (10
-
3
Toule)
San Francisco Bay, CA-USA 428 1,63 366
Macau, Brazil 447 1,74 392
19
Great Salt Lake, UT-USA 486 2,42 541
Shark Bay, Australia 458 2,47 576
Chalin lake, Canada 475 2,04 448
Tnagu, Bohai Bay, PR China 515 3,09 681
Aibi Lake, PR China 515 4,55 -
Yunchen, PR China 460 2,03 -
Lake Urmia 497 - -
Vinh Chau, Viet Nam 395 - -
Chương VII: KỸ THUẬT NUÔI ẤU TRÙNG
1. Yêu cầu chung:
Trong quy trình sản xuất tôm sú giống, kỹ thuật quản lý chăm sóc bể ương ấu trùng
đóng vai trò đặt biệt quan trọng, có ý nghóa thành công hay thất bại trong sản xuất.Vì vậy đòi
hỏi kỹ thuật viên phải nắm đầy đủ và vận dụng tốt những yêu cầu kỹ thuật của quy trình đề
ra như:
- Nắm được những đặc điểm sinh học cơ bản của tôm sú cần thiết cho sản xuất giống
(về hình thái các giai đoạn ấu trùng, điều kiện môi trường sống, tính ăn trong từng giai
đọan, ), kỹ thuật xử lý nguồn nước, kỹ thuật sản xuất thức ăn tự nhiên (tảo), kỹ thuật sản xuất
thức ăn chế biến, kỹ thuật sử dụng thức ăn tươi sống (Artemia) để thực hiện quy trình một
cách chặt chẽ và đồng bộ.
- Thành thạo các thao tác kỹ thuật trong quá trình sản xuất như: Xử lý, thuần hóa và
thả Nauplius, cách cho ăn, chăm sóc, vệ sinh thay nước, kiểm tra tình trạng sức khỏe và sự

thực hiện bằng cánh ngâm cả bao đựng cả Nauplius vào bể đến khi nhiệt độ nước trong bao
và trong bể bằng nhau. Nếu môi trường chênh lệch không lớn lắm có thể thả Nauplius vào
thùng, chậu, duy trì sục khí lấy nước trong bể nuôi thêm từ từ cho đến khi nhiệt độ cân bằng
nhau.
- Xử lý ấu trùng: Nên xử lý ấu trùng trước khi thả vào bể nuôi để ngăn ngừa mầm
bệnh. Cách xử lý tắm ấu trùng trong nước có chứa formalin nồng độ 200 - 300 ppm (200 –
300 ml formalin/ 1m
3
nước) trong thời gian 30 giây hoặc tắm bằng Iodphor nồng độ 0,1 ppm
trong 15 phút (lưu ý cách tính toán, pha nồng độ các hóa chất xử lý). Trong quá trình thuần
hóa, xử lý cần thay đổi toàn bộ nước đựng ấu trùng từ trại tôm mẹ, mọi thao tác phải được
thực hiện nhanh gọn, nhẹ nhàng, hạn chế tối đa việc đưa ấu trùng ra khỏi môi trường nước.
2.5 Quản lý bể nuôi ấu trùng:
Đòi hỏi kỹ thuật viên vận dụng lòch chăm sóc chính xác và đầu tư thời gian thích đáng
để kiểm tra, kiểm soát toàn bộ hoạt động sống và phát triển của ấu trùng, thực hiện nghiêm
ngặt các bước chăm sóc và có những điều chỉnh khi cần thiết.
2.5.1 Chăm sóc Nauplius:
Giai đoạn ấu trùng Naupllius dinh dưỡng noãn hoàn nên chưa phải cung cấp thức ăn.
Việc chăm sóc chỉ cần cấp sục khí nhẹ, đều, không để ấu trùng chìm dưới đáy bể và thường
xuyên quan sát khi thấy xuất hiện ấu trùng Zoae thì bắt đầu cho ăn.
2.5.2 Chăm sóc ấu trùng Zoae:
Ở giai đoạn này, ấu trùng có tính ăn lọc liên tục, vì vậy mật độ tảo trong bể nuôi phải
được duy trì thường xuyên (theo bảng 1), mỗi ngày cho ăn 4-5 lần tảo tươi. Tảo được cho ăn từ
giai đoạn Zoae 1 tăng dần ở cuối Zoae 1 đến Zoae 2, tăng tối đa ở Zoae 3 và giảm dần ở giai
đoạn Mysis.
Trong giai đoạn Zoae 2, Zoae 3 có thể bổ sung thêm tảo khô, thức ăn tổng hợp 2-3 lần/
ngày. Chú ý thường xuyên theo dõi trong bể ương lượng thức ăn thừa hay thiếu để điều chỉnh.
Phải xi-phông ngay mỗi khi thấy phân của ấu trùng đã vón cục chìm xuống đáy tránh gây ô
nhiễm nước nuôi trong giai đoạn này ta chỉ cần thêm nước.
2.5.3 Chăm sóc ấu trùng Mysis:

* Cách vệ sinh thay nước:
- Xiphon đáy: Giảm nhẹ sục khí, dùng ống xiphong hút ra toàn bộ đáy bể, loại bỏ hết
cặn bỏ, thức ăn dư thừa, vỏ và xác ấu trùng chết ra ngoài qua vợt hoặc ống hút hermet thu ấu
trùng còn sống thả lại lại bể nuôi.
- Thay nước: Dùng dụng cụ thay nước hút nước ra ngoài đến mức cần thay, sau đó cấp
nước mới có cùng điều kiện thủy lý, hóa vào (để tránh sự thay đổi đột ngột về môi trường).
Bảng 2: Kích thướt mắt lưới sử dụng cho dụng cụ thay nước và lượng nước cần thêm,
hoặc thay trong các giai đoạn ấu trùng.
Giai đoạn
Kích thướt mắt lưới
(μ)
Lượng nước cần thêm
Lượng nước cần
thêm(%)
Lượng nước thay
(%)
Zoae 1
Zoae 2 20
Zoae 3 20
Mysis 1 đến PL
5
500 20-30
PL
6
-PL
15
700 40-60
2.7 Phòng bệnh:
Trong quá trình nuôi ấu trùng, do mật độ ấu trùng cao, môi trường là nước nên bệnh tật
rất dễ lây lan. Do đó những biện pháp kỹ thuật đúng đắn xuyên suốt toàn bộ quy trình từ

cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng, không thể xảy ra hiện tượng sốc trong quá trình nuôi, tôm
sẽ phát triển nhanh khỏe mạnh lấn át bệnh tật.
- Phòng bệnh chủ yếu và có hiệu quả là phòng nấm và protozoae bằng hóa chất và
thuốc đối với virus và vi khuẩn còn ít hiệu quả.
Trong sản xuất giống có hai loại nấm thường gặp, có thể gây chết 100% cho ấu trùng
tôm trong 1-2 ngày sau khi nhiễm, đó là nấm Lagenidium callinectes và Sirolpidium.Thực
hiện phòng 2 loại nấm này theo bảng sau:
Giai đoạn Nồng độ (ppm) Lần cho/ ngày
Nauplius 0,01 1
Zoae 0,03 2
Mysis 0,06 2
23
PL
1
đến PL
4
0,08 2
PL
5
trở đi 0,1 2
Ghi chú: Cách pha dung dòch Treflan:
- Treflan thương phẩm là loại Triflurali Elanco 44%.
- Lấy 10 ml Trealan pha vào 1.000 ml nước cất ta có dung dòch A
- Để Treaflan 0,01 ppm, ta lấy 1 ml dung dòch A cho vào 1m
3
bể nước nuôi ấu trùng.
2. Trò bệnh:
Phải thường xuyên quan sát ấu trùng qua kính hiển vi, khi thấy xuất hiện dấu hiệu gây
bệnh, phải trò ngay mới mang lại hiệu quả.
2.1 Bệnh vi khuẩn dạng sợi (Filamentous bacteria)

Nếu phát sáng trên các con sống, đốm sáng rất nhỏ và nhiều trên phần cơ thòt của tôm
thì đó là bệnh do Vibrio harveyi và Vibrio splendidus gây nên.
Chen (1989) phân lập được trong gan tụy tạng tôm sú có 18 loài Vibrio trong đó có
Vibrio harveyi chiếm 26,9% và V. splendidus chiếm khoảng 0,5%. Hai loại này thường làm
tôm bò chết nhiều, có lúc tới 100%, chúng có thể kháng lại 24 loại thuốc kháng sinh (theo
24
Baticados và cộng sự 1991). Chỉ có một loại kháng sinh kiềm chế bớt sự phát triển của hai
loại Vibrio này.
Đối với loại bệnh này chỉ có phòng bệnh mới hiệu quả. Do bản thân các loại Vibrio
này có nguồn gốc từ nước biển nên việc phòng bệnh sẽ thông qua việc xử lý thật kỹ nguồn
nước nuôi.
2.5 Bệnh do nguyên sinh động vật (Protozoae)
Bệnh này do một số loài nguyên sinh động vật như Zoothmmium, Rpistylis, Vorticella,
Acineta chúng tấn công vào mắt mang, các phần phụ của tôm, làm cho tôm yếu kém, kén
ăn, di chuyển khó khăn rồi chết. Nguyên nhân sinh bệnh chủ yếu là do chăm sóc kém, làm
cho môi trường nuôi bò xấu, hàm lượng các chất hữu cơ trong bể cao, tạo điều kiện thuận lợi
cho nguyên sinh động vật phát triển. Điều trò bằng Chloroquin diphosphate 1,1 ppm liên tục
trong 2 ngày, hay tắm Formaline 25-30 ppm trong 15-20 phút. Để phòng trừ bệnh này phương
pháp chủ yếu vẫn là biện pháp quản lý môi trường nuôi tốt.
CHƯƠNG IX : ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯNG GIỐNG TÔM SÚ
PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯNG TÔM GIỐNG
1. Giới thiệu:
Hiện nay công nghiệp nuôi tôm sú đang được phát triển một cách nhanh chóng và trở
thành mũi nhọn kinh tế cho các vùng Duyên Hải. Là đối tượng mà nước ta và các nước khác
trên thế giới quan tâm. Tuy nhiên công việc này đã trải qua những khủng hoảng nghiêm
trọng. Đài Loan năm 1987 là một ví dụ điển hình. Trung Quốc năm 1994 sản lượng tôm chỉ
đạt 20% so với trước.
Qua nhiều năm nhiên cứu giống có chất lượng kém là một trong những nguyên nhân
gây ra những thiệt hại nghiêm trọng. Vì vậy việc kiểm soát được chất lượng giống sẽ góp
phần phát triển được công nghiệp nuôi tôm lâu dài và bền vững.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status