Ministry of Agriculture & Rural Development
Báo cáo tiến độ của dự án CARD
004/05VIE
Phát triển chăn nuôi lợn bền vững quy mô
nông hộ tại một số tỉnh miền Trung Việt Nam
MS 12 : Đánh giá dự án
1. Thông tin về các đối tác:
Tên dự án
Phát triển chăn nuôi lợn bền vững quy mô nong hộ
tại một số tỉnh miền Trung Việt Nam
Các đối tác tham gia phía Việt
Nam
Viện chăn nuôi Quốc gia (NIAH); Trường Đại học Nông
Lâm Huế (HUAF); Viện Thú Y Quốc Gia (NIVR)
Trưởng đại diện dự án phía Việt
Nam
TS. Nguyễn Quế Côi
Các đối tác tham gia phía
Australia
The University of Queensland/Victorian Department of
Bảng 1: Tham gia dự án và các cơ hội về nghề nghiệp trong tương lai của các cán bộ
trẻ phía Việt Nam
TT Tên Cơ quan
công tác
Chuyên
môn
1 Hoang Nghia Duyet
- Tham gia phase 1 và 3 điều tra, đóng góp chính trong việc
chuyển giao các kỹ thuật tới các nông hộ nhỏ ở tỉnh Thừa Thiên
Huế về vấn đề chuồng trại, hộp ủ ấm, thiết kế và thực hiện các mô
hình chăn nuôi thâm canh. Ngoài ra, Dr. Duyet vẫn còn đang tham
gia giảng dạy và các công việc nghiên cứu khác tại HÙA. Dr.
Duyêt đã xây dựng và thực hiện 1 đề cương nghiên cứu năm 2009
đế đánh giá hiệu quả của nhi
ệt độ chuồng nuôi tới khả năng sản
xuất của lợn Móng Cái. Dự án này sẽ được tiếp tục thực hiện vào
năm 2010.
HUAF Chăn nuôi
về chăn nuôi lợn Móng Cái và đang khuyến khích, động viên anh
Biên tham gia dự tuyển cho 1 khóa đào tạo PhD như 1 phần của
dự án. Anh Biên đã thành công trong việc nộp hồ sơ xin 1 dự án
nghiên cứu nhỏ và sẽ tiếp tục nghiên cứu về cách s
ử dụng EM như
1 loại VSV có lợi, thay thế kháng sinh, giúp cho việc phòng tiêu
NIAH Chăn nuôi
chảy ở lợn, đồng thời cũng kích thích tăng trọng ở lợn Móng Cái.
4 Nguyen Nguyet Cam
- Sau khóa tập huấn tại Australia, chị Cầm đã có 1 thời gian nghỉ
sinh con, và bởi vậy đã không thể tham gia vào dự án trong suốt
thời gian 2007-2008. Sau đó, đã quay trở lại làm việc vào năm
2009 và dưới sự hướng dẫn của TS. Duyên, đã tham gia trong việc
thành lập các câu lạc bộ nông dân ở tỉnh Quảng Trị. Chị Cầm giữ
1 vai trò quan trọng trong việc dịch các hướng dẫn sử dụng cáh
dùng kháng sinh, thuốc đ
iều trị ký sinh trùng cho các câu lạc bộ
nông dân ở cả 2 vùng và đóng vai trò như 1 kỹ thuật viên thú ý
trong việc hướng dẫn sử dụng thuốc ở các hộ chăn nuôi.
NIAH Thú Y
5 Nguyen Xuan Huyen và Au Xuan Tuan-cả hai BSTY này đều đã
tham gia các đợt điều tra đầu tiên tại tỉnh Bình Định. Dưới sự
hướng dẫn của TS. Thuy, cả 2 BSTY này chịu trách nhiệm về việc
sản xuất vacxin E. coli cho dự án, xác định nguyên nhân gây bệnh
tiêu chảy của các lợn trước cai sữa nuôi tại các trại mô hình,
hướng dẫn các kỹ thuật môt khám để xác định nguyên nhân chết,
cách sử dụng thuốc để điều trị các bệnh
ở lợn. Anh Huyên, hiện tại
đang tham gia 1 khóa tập huấn ngắn hạn tại Nhật và anh Tuấn,
cũng đã thành công trong việc nộp hồ sơ xin 1 dự án nghiên cứu
chọn bởi mỗi cơ quan nghiên cứu để tiếp tục nhận được các lợi ích từ việc tập huấn trình
độ cao mang lại. Mức độ thành thạo của các cán bộ khoa học phía Việt nam – những
người đã được tham gia tập huấn tại Australia là rất tốt (như đã đươc đánh giá bởi Dr.
Tony Fahy và Dr. Colin Cargill vào 2007/2008, xem MS7), và mục đích là nhằm làm cho
các thú y viên đóng một vai trò quyết định trong việc tiếp tục tập huấn cho nông dân sau
này, còn các cán bộ khoa học sẽ chỉ giữ vai trò là quan sát viên/giúp đỡ viên, hơn là các
hướng dẫn viên. Các nhà khoa học, phía Australia, sau đó sẽ định kỳ tiến hành đánh giá lại
các tiến độ và xác định các khiếm khuyết làm ảnh hưởng đến toàn bộ tiến trình. Tuy nhiên,
ý tưởng này đã bị sớm dùng lại do không có động cơ và môi trường cho các thú y viên
phát triển các kỹ năng của họ. Các chuyến công tác ngắn hạn của các nhà khoa học phía
Australia cũng đã thấ
y không thành công do các tiến triển về công việc được quan sát thấy
rất ít giữa các chuyến thăm và các nhà khoa học phía Australia cũng đã nhận ra rằng họ đã
nhìn thấy cùng một vấn đề tại cùng một trại đó. Lúc đó, chúng tôi đã quyết định chuyển
hướng sang để cho người nông dân tự đưa ra các sáng kiến trong việc tập huấn, tức là xây
dựng nên một số trại mô hình, từ đó nông dân sẽ có thể tr
ực tiếp hướng dẫn cho nông dân,
đồng thời chúng tôi cũng đã tiến hành tuyển thêm 1 bác sĩ thú y đang chuẩn bị tốt nghiệp
(Ms. Tarni Cooper) – người có rất nhiều say mê về an toàn thực phẩm ở các cộng đồng
đang phát triển – sau đó đã làm việc trực tiếp với các nhà khoa học trẻ phía Việt Nam (đặc
biệt là Mr. Phuong và Biên). Chị Tarni cũng đa ở Việt Nam từ 10-12 tuần trong khoảng
thời gian tháng 11-tháng 2 năm 2007/2008, 2008/2009 và 2009/1010. Những thay
đổi
trong cách thực hiện này đã ngay lập tức có hiệu quả đối với cả 2 tỉnh, đặc biệt là rõ nét
hơn khi các câu lạc bộ nông dân được thành lập (do Dr. Duyên là người đưa ra sáng kiến
này) và các tiến bộ rõ rệt đã được nhìn thấy với việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, dựa trên
các chiến lược can thiệp mà chúng tôi đã phát hiện ra từ cuộc điều tra về các trang trại.
Một ví d
ụ là tỉnh Quảng Trị, mới đầu đã chậm trễ hơn rất nhiều so với Thùa Thiên Huế
trong việc áp dụng mô hình CIP, nhưng ngay sau khi tiến hành giới thiệu và đưa vào sử
gia vào dự án năm 2008 và đã thực hiện các chuyến công tác tới Việt Nam vào năm 2008,
2009 và 2010. Báo cáo của ông từ chuyến công tác gần đây nh
ất (phụ lục 2: Báo cáo về
chuyến công tác của Dr. Kit Parke) đã trình bày chi tiết về các tiển triển đáng kể mà ông
đã quan sát thấy tại các trại mô hình trong vòng 3 năm qua, cũng như là các tiến triển rất
đáng khích lệ ở các trại mới tham gia vào dự án, và đã thu lợi từ việc trao đổi học hỏi với
các nông hộ trong dự án. Lòng tin của nông dân với các cán bộ trong dự án đã được minh
chứng rõ rệt. Thể hiện bằng việc sau khi Dr. Trott giới thiệu cho nông dân cách sử dụng
Dectomax để phòng bệnh ghẻ vào tháng 10/11 năm 2009, bệnh ghẻ đã thực sự đã không
còn được quan sát thấy ở các trại mô hình. Tuy nhiên, một vài khía cạnh khác như
kế
hoạch triển khai thử nghiệm vacxin E. coli tại các trại mô hình và các chẩn đoán chính xác
về bệnh tiêu chảy của lợn theo mẹ ở các tỉnh miền Trung Việt Nam đã chưa được thực
hiện tốt như kế hoạch đã được lập ra trước đó trong chuyến công tác của Dr. Trott. Nhưng,
điều đang lưu ý là trong suốt 6 tháng qua, các cán bộ của dự án đã tập trung rất nhiều nỗ
lực và công sức cho việc xây dựng một bộ đĩa DVD dùng cho mục đích tập huấn, có lẽ
đây cũng sẽ là công cụ tập huấn quan trọng nhất cho toàn bộ dự án. Bởi vậy, một trong kế
hoạch về việc xây dựng các đề cương khởi nghiệp là tiếp tục tiến hành xác định các
nguyên nhân chính gây tiêu chảy cho lợn con theo mẹ tại các nông hộ thuộc Thừa Thiên
Huế vào năm 2010 (đề tài s
ẽ được thực hiện bởi những cán bộ trẻ và nhiệt tình). Như một
công cụ khuyến nông, bộ đĩa DVD đã thể hiện các ưu điểm vượt trội, có tác động rõ rệt tới
các kỹ thuật chăn nuôi và phòng bệnh tại các trại, và chính những cán bộ trẻ phía Việt
Nam đã có những đóng góp rất tích cực cho việc tạo dựng bộ đĩa DVD này. Dr. Parke, sau
đó cũng đã ti
ến hành tư vấn, đóng góp thêm cho các chương của chương trình tập huấn
video này để đảm bảo cho các nội dung được trình bày là chính xác và được thể hiện một
cách tốt nhất. Bộ đĩa DVD đã đóng vai trò chuyển tải các thông tin tập huấn trực tiếp tới
người nông dân và ngay lập tức, đã tạo được cả lòng tin và độ tự tin của họ. Trong giai
c tính toán số lựn bán/nái/năm, từ đó có thể tính toán thu nhập trực tiếp từ
các con số này)
Tại Australia, những người chăn nuôi lợn đang có xu hướng hướng tới để đạt được 25 lợn
nái cai sữa/nái/năm, nhưng giá trị trung bình thực của năm 2005 là 21 (Australian Pork
Limited), trong khi đó, ở Đan Mạch (nước dẫn đầu thế giới về chăn nuôi lợn) thì con số
trung bình này là 30. Con số 10 lợn con cai sữa/nái/năm thường được xem như là “điểm
tới ngưỡng” nếu giá lợn vẫn giữ ở một mức trung bình giữa mức thấp và cao. Một phân
tích về các theo dõi đối với các trại mô hình tốt nhât ở mỗi tỉnh đã chứng tỏ rằng một vài
tr
ại đã dễ dàng đạt được qua ngưỡng đó. Các trại tốt nhất của chúng tôi (5 trại thuộc Huế
và 10 trại thuộc Quảng Trị) đã đạt được các con số có thể so sánh được với tiêu chuẩn
quốc tế và chắc chắn là ngang bằng với mức độ chăn nuôi trung bình tại Australia (với giá
thành chăn nuôi rẻ hơn đáng kể). Chi tiết cụ thể hơn được báo cáo trong điều tra c
ủa dự án
được trình bày dưới đây.
Bảng 2: Số liệu thu được đối với các trại mô hình ở tỉnh Thừa Thiên Huế đã được
chọn lợn cho các sáng kiến về nâng cấp cơ sở hạ tầng vào giai đoạn kết thúc dự án
(Chú ý: nếu trại đã được điều tra trước đây, ngày điều tra được chỉ ra trong cột 1)
Total number of pigs
Nông hộ
(Ngày)
Làng
Xã
Số lợn
7
4
8
1
6
51
42
10
20
Nguyen Van
Lap
36
ND
20
Tran Trong
Quan
15/12/07
23/03/10
Khuon Pho Quang Tho
5
7
3
0
Trung bình 8.4
ND ND 20.8 ND: Không có khả năng xác định tại thời điểm điều tra
Bảng 3: Theo dõi về mức sản xuất đối với các trại mô hình tại tỉnh Quảng Trị đã
được chọn lợn cho các sáng kiến về nâng cấp cơ sở hạ tầng vào giai đoạn kết thúc dự
án
Tổng số lợn
Mã số chủ hộ
1169 Nguyễn Hiến Phu Hung Hai Phu 6 1 27 18
1192 Nguyễn Binh Phu Hung Hai Phu 7 1 10 17
1269
Nguyễn Thể Phu Hung Hai Phu 5 70 18
1275
Lê Thị Thính
Thuong
Xa Hai Thuong 6 1 20 16
1076 Phan Đình Tráng
Thuong
Xa Hai Thuong 6 3 10 17
1270 Trần Lương Cương
Thuong
Xa Hai Thuong 20 100 18
AVERAGE 5.6* 2.1* 30* 18
* Số liệu trung bình không bao gồm đàn của hộ ông Tran Luong Cuong do đàn này gần
đây đã tăng lên tới 20 nái.
Các bài báo poster và báo cáo tại Hội nghị Quốc tế: Các kết quả của dự án đã được báo
cáo tại 2 hội nghị quốc tế với sự tham dự của các nhà khoa học/những người làm công tác
nghiên cứu: Hội nghị Bệnh lợn Quốc tế tại Đan mạch năm 2006 (Dr Do Ngoc Thuy, Dr
Cuu Huu Phu – tham gia hộ
Danh sách những người đã tham dự hội nghị bao gồm:
- Trường
Đại học Nông Lâm Huế (HUAF)
1. Nguyen Quang Linh
2. Ho Ngoc Phuong
3. Ngo Huu Toan
4. Ha Thi Hue
5. Hoang Nghia Duyet
- Viện Chăn nuôi (NIAH)
6. Ta Thi Bich Duyen
7. Nguyen Que Coi
8. Dang Hoang Bien
9. Nguyen Nguyet Cam
- Viện Thú Y (NIVR)
10. Cu Huu Phu
11. Au Xuan Tuan
12. Nguyen Xuan Huyen
13. Do Ngoc Thuy
Hội nghị có tiêu đề “Chăn nuôi và vai trò của các nông hộ chăn nuôi nhỏ trong nền kinh tế
toàn cầu”, có hơn 800 người tham dự, bao gồm các nhà khoa học, các chủ trang trại và
sinh viên từ gần 40 nước trên toàn thế giới. Các nhà khoa học từ dự án CARD-004/05VIE
đã trình bày tổng cộng 6 poster (Dr. Colin Cargill đã không thể tham dự như dự định).
• Báo cáo cuối cùng về việc thành lập và bảo tồn vùng giống ven biển miền Trung
Cho dù là MS 10 đã được chấp thuận, chúng tôi vẫn yêu cầu các kết quả này (bằng
báo cáo) sẽ được thay thế bằng 1 bộ đĩa DVD có thể dùng cho công tác tập huấn và
sử dụng nó trong chính các câu lạc bộ nông dân (như đã được nêu ra trước đó là sẽ
được nộp bởi Ms. Tarni Cooper cùng với báo cáo tiến độ MS13 trong chuyến công
2).
Trong khi đó, tình hình thực trạng ở Quảng Trị lại hoàn toàn khác. Một điều tra cuối cùng
bao gồm các trại đối chứng, trại thực nghiệm và trại được chọn lựa làm trại mô hình
đã
được kết thúc vào tháng 12 năm 2009. Ngoài một danh sách các can thiệp được ưu tiên ở
mức độ cao đã được nộp cùng với mỗi theo dõi dạng điện tử. So sánh với các trại đối
chứng, các trại dự án có số lượng lớn lợn nái (2.8-3.6 so với 1.8), các con con cũng nhiều
hơn, thu nhập cũng ổn định hơn từ việc bán lợn. Đối với các trại đối chứng, gần như là
không thể thu thập được các số liệu chính xác, ngoại trừ việc quan sát số lượng lợn ở mỗi
lứa tuổi vào thời điểm điều tra, không có các theo dõi hay ghi chép nào được thực hiện đối
với các trại đối chứng và các câu hỏi đối với chủ nông hộ về số lượng lợn được bán là
thường không chính xác. Các trại đối chứng chỉ có thể đáp ứng được 1-2 trong số 15 tiêu
chí v
ề chăn nuôi, trong khi các trại của dự án và trại mô hình, có trung bình là 9.2/15 đối
với các trại dự án và 9.3/15 đối với các trại mô hình. Cũng rất khó để có thể thu được ấn
tượng, chỉ bằng việc so sánh các dữ liệu giữa trại thực nghiệm và trại đối chứng về những
nâng cấp hay cải tiến đã được thực hiện. Các lợn nái được cho ăn không đầy đủ với bệnh
ghẻ
mãn tính đã không đẻ tốt, cần phải được thay thế, trong khi các lợn Móng Cái cao sản
khỏe mạnh có tỷ lệ thụ thai, tỷ lệ sinh và tỷ lệ cai sữa cao. Ngoài ra, việc lắp đặt thêm các
hệ thống biogas phục vụ cho các việc nấu nướng, ủ với giun đất, loại bỏ chất thải, thực
hành mô hình chăn nuôi kết hợp, nâng cao kiến thức và các kỹ năng chung thông qua việc
trở thành 1 thành viên tích cực của câu l
ạc bộ nông dân, tạo ra rất nhiều lợi ích trìu tượng
khác nữa.