SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NĂM HỌC ĐỔI MỚI QUẢN LÝ VÀ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
I - Phần mở đầu
I.1. Lý do chọn đề tài:
Năm học 2009- 2010 với chủ đề: “Năm học đổi mới quản lý và nâng cao
chất lượng giáo dục”. Với nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành là tiếp tục thực
hiện các cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh”; “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo
dục”; “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”; “Xây
chưa có những dấu hiệu về một sự thay đổi theo hướng tích cực. Vấn đề này đã
được cảnh báo từ lâu và gần đây lại được dư luận quan tâm thông qua các
phương tiện thông tin đại chúng. Trong văn kiện hội nghị lần thứ IX Ban chấp
hành TW khóa X cũng đã đánh giá một trong những mặt hạn chế yếu kém
trong lĩnh vực giáo dục như sau: “Trong sự nghiệp giáo dục toàn diện dạy làm
người và dạy nghề là yếu kém nhất, giáo dục về lý tưởng sống, phẩm chất đạo
đức yếu. Học sinh thiếu hiểu biết về truyền thống văn hóa, lịch sử dân tộc của
Đảng về quyền lợi nghĩa vụ công dân, chất lượng giáo dục còn buông lỏng,
nhất là giáo dục đạo đức lối sống của học sinh, sinh viên có nhiều biểu hiện rất
đáng lo ngại”.
Qua đó ta thấy rằng vấn đề xuống cấp trong đạo đức của học sinh, sinh viên
đã đến lúc báo động. Nói như tiến sĩ tâm lý học Vũ Kim Thanh: “Nếu không có
sự quan tâm đúng mức chúng ta sẽ mất cả một thế hệ”. Như vậy việc giáo dục
đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề “Nóng” không chỉ
của ngành giáo dục mà còn là của toàn xã hội.
Bản thân tôi là một giáo viên đang trực tiếp làm công việc “Trồng người”
tôi không thể thờ ơ trước một vấn đề mang tính xã hội như vậy. Chính vì thế
năm học 2009- 2010 này tôi tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu đề tài:
“Giáo dục tình cảm đạo đức học sinh thông qua bộ môn Ngữ Văn”
Một vấn đề không phải là mới trong mục tiêu, phương pháp giáo dục nhưng
nó cũng không bao giờ cũ đối với mỗi người giáo viên dạy văn.
I.2. Mục đích nghiên cứu đề tài: có dấu hiệu gia tăng. Đi sâu vào chuyên đề giáo dục đạo đức học sinh thông
qua giảng dạy bộ môn mình phụ trách là tôi muốn đưa ra một số biện pháp mà
bản thân tôi đã làm, trường THCS Tràng An đã làm để đóng góp một phần nhỏ
bé của mình vào việc thực hiện mục tiêu của ngành giáo dục là đào tạo các em
trở thành con người toàn diện. Qua việc thực hiện đề tài này tôi nhận thấy có
nhiều kết quả khả quan, vấn đề đạo đức của học sinh trường THCS Tràng An
có những biến chuyển rõ rệt. Tôi thiết nghĩ nếu giáo viên chúng ta ai cũng có
nhận thức đúng đắn và kết hợp một cách có hiệu quả trong các môn học của
mình và các hoạt động trong nhà trường thì hiệu quả giáo dục đạo đức học sinh
của trường THCS Tràng An chắc chắn sẽ tốt hơn rất nhiều.
II. Phần nội dung:
II.1. Chương I: Tổng quan của vấn đề:
Chúng ta vẫn biết rằng đạo đức là một hình thái xã hội bao gồm những
nguyên tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi
cho phù hợp với lợi ích hạnh phúc của mình, sự tiến bộ của xã hội trong mối
quan hệ con người với con người, con người với tự nhiên. Giáo dục đạo đức là
quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp nhân cách
mỗi học sinh được phát triển đúng đắn, giúp học sinh có những hành vi ứng xử
đúng mực trong các mối quan hệ của cá nhân với xã hội. Trong tất cả các mặt
giáo dục thì giáo dục đạo đức giữ một vị trí hết sức quan trọng vì Hồ Chủ Tịch
cũng đã nêu “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức, đức là đạo
đức cách mạng đó là cái gốc rất quan trọng, nếu không có đạo đức cách mạng
thì có tài cũng vô dụng”.
Như vậy vấn đề thứ nhất tôi đặt ra trong đề tài này là: giáo viên phải nhận
thức rõ trong nhà trường THCS giáo dục đạo đức là mặt giáo dục phải được đặc
biệt coi trọng vì nếu công tác này được coi trọng thì chất lượng toàn diện sẽ
được nâng lên vì đạo đức có mối quan hệ mật thiết với các mặt giáo dục khác,
thiếu nhân cách đã và đang từng bước làm tổn hại đạo đức truyền thống của thế
hệ trẻ chúng ta. Vì vậy việc giáo dục đạo đức học sinh thông qua các môn học
trong nhà trường là hết sức cần thiết và cấp bách. Người giáo viên lên lớp ngoài
nhiệm vụ là hướng dẫn các em tiếp nhận kiến thức văn hóa mà còn phải hình
thành cho các em những khái niệm về nhân cách đạo đức. Vì xưa nay trong
việc đào tạo con người, văn chương vẫn được sử dụng như một công cụ đắc
hiệu. Không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của văn chương trong việc xây
dựng và giữ gìn đạo đức xã hội, đúng như vai trò xã hội- nhân văn của nó. Nếu
nói người giáo viên là những kỹ sư tâm hồn thì điều đó đúng nhất đối với các
thầy cô giáo dạy văn. Vì văn học chính là bộ môn dễ gây xúc động vui buồn,
tác động nhiều nhất đến thế giới nội tâm của con người. Hơn nữa việc bồi đắp
tâm hồn dân tộc cho thế hệ trẻ lại càng cần thiết trong xu thế hội nhập thế giới
hiện nay để họ không tự đánh mất mình mà phát huy đầy đủ năng lực nội sinh
của dân tộc trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tuy vậy trên thực tế giảng dạy, nhiều giáo viên còn coi nhẹ điều này mà họ
cho rằng dạy đạo đức trong nhà trường là việc của giáo viên chủ nhiệm và giáo
viên giảng dạy bộ môn giáo dục công dân. Trong mục tiêu bài dạy có mục giáo
dục tình cảm, thái độ cho học sinh thế nhưng khi lên lớp giáo viên lại chỉ lo làm
sao truyền thụ được hết được đầy đủ kiến thức sách giáo khoa là tốt lắm rồi, mà
không chú ý đến việc giáo dục tình cảm thái độ cho học sinh. Nói về sự xuống
cấp của đạo đức học sinh có nhiều nguyên nhân, gia đình thì chỉ quan tâm đến
việc con học được mấy điểm chứ đâu có quan tâm đến việc con chơi thế nào?
chơi với ai? còn nhà trường thì chú trọng nhiều đến dạy kiến thức hơn là dạy
đạo đức. Chính vì vậy mới dẫn đến tình trạng học sinh thiếu tinh thần ý thức
trong học tập, lười học các giờ học nói tự do, nói leo cô giáo, về nói dối cha
mẹ. Kỹ năng ứng xử trong giao tiếp hạn chế, tình trạng học sinh nói trống
không với thầy cô, với bố mẹ không phải là ít. Trong cuộc sống thì tỏ ra ích kỷ,
cảm thụ văn học. Sự đánh giá nhìn nhận của các em đã có ý thức. Dựa vào đặc
điểm tâm lý này mà người giáo viên văn phải biết tạo hứng thú học, học sinh có
thích học bộ môn thì mới nói đến chuyện bồi dưỡng cho các em tình cảm, thái
độ sau giờ học được. Vì thế trong giờ hiểu văn bản bước đầu tiên tôi muốn tạo
hứng thú cho giờ học văn bằng cách dẫn dắt vào bài một cách hấp dẫn. Vào bài
mới là tạo tâm thế ban đầu, tạo không khí cho một giờ học văn, học sinh có
cảm giác tò mò muốn khám phá trước khi đến với một tác phẩm văn học. Việc
làm này có thể có giáo viên còn coi nhẹ, vào giờ văn sau khâu kiểm tra bài cũ,
giáo viên bị ức chế do học sinh không học bài, không soạn bài rồi thầy cô quát
mắng học sinh. Sau đó vào bài mới bằng một nhan đề trên bảng, như vậy thì
làm sao tâm hồn các em có thể rung động với cái hay, cái đẹp của văn chương.
Cho nên khâu kiểm tra bài cũ trong môn văn cũng nên nhẹ nhàng, thoải mái
không nên lạm dụng, ôm đồm bắt học sinh phải trả lời những câu hỏi quá khó
hoặc quá vụn vặt. Lời giới thiệu bài nhẹ nhàng, hấp dẫn của giáo viên ngay từ
giây phút đầu tiên đã đưa các em vào không khí văn chương.
Ví dụ: Dạy bài “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải- Ngữ văn 9 tập II. Tôi
vào bài như sau:
“ Mùa xuân- khoảnh khắc thiên nhiên tươi đẹp khởi đầu một năm. Mùa
xuân đã từng là đề tài khơi nguồn cảm xúc biết bao thi nhân, chúng ta đã từng
được chiêm ngưỡng một bức tranh xuân tuyệt đẹp qua ngôn ngữ thơ ca của thi
hào Nguyễn Du, xuân của đất trời- xuân của lòng người. Mỗi người có một
cảm xúc riêng khi mùa xuân về. Vậy nhà thơ Thanh Hải đã cảm nhận như thế
nào về mùa xuân qua nhan đề “Mùa xuân nho nhỏ” ấy. Hôm nay cô cùng các
em sẽ tìm hiểu ”
Hay khi dạy bài “Mây và sóng” tôi giới thiệu như sau:
“Tình cảm gia đình và đặc biệt là tình mẫu tử có lẽ là một trong những tình
cảm thiêng liêng nhất và đó cũng là nguồn thi cảm không bao giờ cũ, không
văn chương, sự tồn tại của âm thanh ngôn từ vô cùng quan trọng. Ví dụ khi dạy
một bài thơ trữ tình nếu giáo viên luyện cho học sinh đọc ngân vang lên bằng
âm điệu tiết tấu, bằng cái vỏ âm thanh của ngôn từ thì sẽ góp phần tạo nên
những rung động sâu xa, những cảm xúc thẩm mỹ trong tâm hồn học sinh. Như
vậy là chúng ta đã góp phần giáo dục, giáo dưỡng tâm hồn, tình cảm học sinh
qua giờ văn học.
Nhìn chung thì việc dạy học văn ở trường phổ thông có hai mục đích chính.
+ Thứ nhất: Nhằm giúp học sinh lĩnh hội kiến thức văn chương như tất cả
các môn học khác.
+ Thứ hai: Nhằm giúp học sinh cảm thụ tác phẩm văn chương tạo điều kiện
giáo dục những phẩm chất tốt đẹp cho các em. Giúp các em hiểu một cách sâu
sắc những giá trị phong phú của văn chương quá khứ và hiện tại.
Chính vì vậy mà vấn đề thứ ba là phải kết hợp giáo dục tình cảm, thái độ
cho học sinh thông qua hoạt động tìm hiểu văn bản. Nói đến văn chương là nói
đến cái đẹp, cái đẹp của văn chương không chỉ thể hiện ở mặt ngôn từ mà nó
còn chìm sâu vào những tầng lớp của văn bản, của thế giới hình tượng. Chính
vì vậy người giáo viên dạy văn phải biết gợi mở ra những điều bí ẩn đằng sau
những câu chữ lặng yên trên trang giấy để chúng lên tiếng đối thoại với từng
học sinh. Người giáo viên phải làm sao cho học sinh cảm thụ cái đẹp văn
chương và cái chất văn ấy thấm dần, thấm sâu vào cuộc đời học sinh để các em
cùng phô diễn cái đẹp ấy trên những bài văn viết và trong lời nói thường ngày.
Muốn làm được điều này người giáo viên phải biết thiết kế trong trang giáo án
của mình một hệ thống câu hỏi phù hợp. Hệ thống câu hỏi trong một bài học
văn rất đa dạng và phong phú, nhưng có thể quy thành 2 loại như sau:
- Các câu hỏi nhằm tìm hiểu tác phẩm có tính chất nghiên cứu văn học
- Các câu hỏi nhằm khơi ngợi hoạt động tự bộc lộ và đồng sáng tạo của học
sinh.
Sử dụng hệ thống câu hỏi phát huy tính tích cực sáng tạo của học trò để
đúng đặc trưng phương pháp bộ môn khiến cho người học văn thật nhẹ nhàng
một mảnh tâm hồn, một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của
người cháu ở nơi xa. Bằng một hệ thống ngôn từ, nghệ thuật ẩn dụ đặc sắc,
người giáo viên văn đã phả vào tâm hồn học sinh tình cảm đẹp đẽ và thấm đẫm
của bà đối với cháu và cháu đối với Bà trong lúc hiện thực xã hội còn có những
hiện tượng tiêu cực: Con chửi lại cha, cháu cãi lại bà thì vấn đề gắn với giáo
dục đạo đức học sinh qua giờ Ngữ văn là rất cần thiết, làm sao để qua một giờ
học văn giáo viên góp phần tích cực thực hiện mục tiêu đào tạo của trường phổ
thông cơ sở là bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, xây dựng nhân cách con người
mới cho học sinh, giáo dục cho các em tình yêu quê hương đất nước và tinh
thần quốc tế vô sản, tư tưởng làm chủ tập thể, thái độ lao động XHCN và
những đức tính tốt đẹp khác như lòng nhân ái, tinh thần dũng cảm, ý thức chủ
động sáng tạo trong cuộc sống. Bằng giọng thơ hay, bằng câu hỏi gợi sự nhận
xét tinh túy về cách nhìn, cách nghe và sự gợi cảm, làm thế nào để các em có
thể tự hình dung được trong tâm trí mình cả thiên nhiên và cuộc sống có thực
có mơ, gần hay xa, xưa hay nay để cho tâm hồn được mở rộng hơn, say sưa
hơn và chính nhờ đó mà biết yêu thích, sống hồn nhiên và rung động hơn. Các
em có thể cảm nhận được cả mùi hương ổi chín nồng nàn ở chốn thôn quê, gần
gũi và quen thuộc đang phả vào làn gió se se lạnh đầu mùa hay một làn sương
mỏng manh duyên dáng đang giăng mắc nhẹ nhàng nơi đầu thôn ngõ xóm
trong bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh- Văn 9. Từ chỗ các em được chiêm
ngưỡng một khúc giao mùa nhẹ nhàng thơ mộng mà cũng thầm thì triết lý. Các
em sẽ thấy được vẻ đẹp của thiên nhiên thật là hấp dẫn, nếu con người ta biết
rung động trước vẻ đẹp của nó.
Có thể nói sau khi học xong một bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” hay “Sang
thu” có những em học sinh biết dậy sớm để ngắm một cảnh bình minh đẹp,
quan sát một giọt sương long lanh, một tia nắng hay lắng nghe một tiếng chim
hót, biết yêu thương ông bà, cha mẹ, anh chị em, quê hương, làng xóm thì
khắc nghiệt một mình nơi đảo hoang trong thời gian dài. Anh đã tự chế tạo ra
những trang phục và trang bị những kỳ cục (dẫn chứng) trông anh giống như
một vị chúa đảo-> bộc lộ một con người có nghị lực, sống lạc quan trong mọi
hoàn cảnh.
III. Bài mới:
Tục ngữ Việt Nam có câu: “Con có cha như nhà có nóc”. Cái nóc của ngôi
nhà sẽ che chắn cho suốt cuộc đời mỗi đứa con. Nhưng nếu vì một lý do nào đó
mà đứa con mất đi “Lá chắn” của mình thì chúng sẽ ra sao? Đoạn trích “Bố của
Xi- Mông” mà hôm nay chúng ta học sẽ giúp cho các em hiểu hơn về tình
người, tình đời trong cuộc sống của mỗi con người.
Hoạt động của giáo viên và học sinh
Nội dung bài giảng
Hoạt động 1:
Giáo viên trực quan chân dung tác giả trên
máy chiếu
?Hãy nêu tóm tắt những hiểu biết của em về
I. Giới thiệu tác giả- tác phẩm:
1. Tác giả:
- Guy đơ Môpa Xăng (1850-
1893)
tác giả Môpa xăng
Giáo viên giới thiệu thêm: (Môpa xăng là
một nhà văn hiện thực vĩ đại của nước pháp
thế kỷ XIX. Ông sinh trong một gia đình quý
tộc sa sút. Từ bé đã phải sống trong một bi
kịch gia đình, năm 11 tuổi trở đi chỉ được
sống với mẹ, lớn lên học luật, khi chiến
2. Tác phẩm:
- Văn bản trích trong truyện
ngắn cùng tên
3. Đọc, hiểu chú thích:
a. Đọc, tóm tắt
b. Chú thích SGK
c. Từ khó: SGK
? Em hiểu gì về nhân vật Xi- Mông qua lời
II. Phân tích văn bản:
1. Kết cấu bố cục:
- Thể loại: Truyện ngắn - Bố cục: 4 đoạn
- ý nghĩa: Muốn chết
- Hành động: Bỏ nhà ra bờ sông
? Thế nhưng tại sao khi ra bờ sông em lại từ
bỏ ý định tự tử?
- Cảnh tượng ở bờ sông rất đẹp và hấp dẫn
em
? Cảnh tượng đó được nhà văn miêu tả như
thế nào?
? Cảnh tượng ở bờ sông đã tác động như thế
a. Nhân vật Xi- Mông:
* Tâm trạng của em khi ở bờ
sông:
nào đến tâm trạng của Xi- Mông? - Từ chỗ muốn chết ? Đặc biệt chi tiết Xi- Mông đuổi bắt chú
nhái rồi bật cười một mình nhớ tới trò
chơi… cho ta thấy Xi- Mông là một đứa bé
như thế nào?
- Rất trẻ con, ngây thơ, yêu thiên nhiên yêu
cuộc sống khóc đấy cười đấy hồn nhiên đáng
yêu.
? Thế nhưng tại sao khi nghĩ về nhà về mẹ
thì em lại thấy buồn và lại khóc?
- Nỗi đau đớn lại trỗi dậy trong em
? Hãy tìm những chi tiết miêu tả tâm trạng
đau đớn của em?
- Khóc, người rung lên, những cơn nức nở
dồn dập xốn xang-> khóc hoài, nói đứt
quãng.
? Qua tất cả những từ ngữ miêu tả đó thể
hiện tâm trạng của Xi- Mông lúc đó như thế
nào?
? Vì sao có thể nói nỗi đau không có bố là
nỗi đau tinh thần lớn nhất của Xi- Mông?
- Chỉ vì bị chế giễu không có bố-> muốn
chết
- Thiên nhiên đẹp hấp dẫn-> nghĩ không có
nở cùng với những câu nói đứt quãng của
em.
- Giáo viên bình: Thế mới biết tình cảm gia
đình là thiêng liêng bất diệt nếu em bé trong
bài “Mây và sóng” của TaGo sẵn sàng từ
chối mọi sự cám dỗ của thiên nhiên để được
ở nhà với mẹ còn Xi- Mông thì dù thiên
nhiên có đẹp đẽ hấp dẫn đến đâu, dù em có
phải chịu sự đau đớn về thể xác em không
nguôi ngoai được nỗi đau không có bố.
Đúng là chỉ khi nào ta bị thiếu đi một thứ gì
đó thì ta mới thấy nó quý giá vô cùng.
? Các em có nhận xét gì về nghệ thuật miêu
tả của tác giả? (thảo luận nhóm)
- Miêu tả chi tiết tâm trạng của nhân vật qua
cảnh tượng thiên nhiên, qua những tiếng nức
nở của nhân vật.
? Theo em thì cách miêu tả này có phù hợp
với tâm lý trẻ thơ không? vì sao?
- Trẻ em ngây thơ, tình cảm hời hợt dễ quên,
buồn chỉ biết khóc.
? Vì sao tác giả Môpa xăng lại hiểu rõ nỗi
? Nếu trong lớp hoặc trong trường ta có một
bạn rơi vào hoàn cảnh như Xi- Mông thì em
sẽ xử xự với bạn như thế nào?
Thế còn cậu bé Xi- Mông trong câu chuyện,
trong lúc em phải chịu về nỗi đau tinh thần,
trong lúc em đang tuyệt vọng như vậy liệu
có ai giải thoát cho em không? và tâm trạng
của Xi- Mông sẽ như thế nào nếu như em có
một ông bố?
- Một em đọc tiếp “Bỗng một bàn tay”-> “bỏ
đi rất nhanh”
? Sự việc gì đã xảy ra với Xi- Mông trong
lúc em đang đau đớn và tuyệt vọng?
- Gặp bác Phi- líp
? Xi- Mông tỏ thái độ như thế nào khi em
* Tâm trạng của Xi- Mông khi
gặp bác Phi- líp:
- Không trả lời gì hết
? Những hành động đó chứng tỏ Xi- Mông
có thái độ như thế nào?
- Hãnh diện, tự hào có một người bố
? Em có nhận xét gì về tâm trạng về tinh
thần của Xi- Mông khi có bác Phi- líp nhận
làm bố?
- Học sinh nghiên cứu đoạn 3
? Chị Blăng sốt được giới thiệu như thế nào?
b. Nhân vật B lăng sốt:
Chị là người phụ nữ đức hạnh bị
lừa dối.
c. Nhân vật bác Phi- líp:
- Phi- líp là một người lao động lương thiện,
yêu nghề khỏe mạnh, nhân hậu, yêu trẻ.
? Vì sao bác lại an ủi và đưa Xi- Mông về
- Một người lao động khỏe
mạnh lương thiện có trái tim
nhân hậu.
III. Tổng kết:
1. Nội dung:
Cò- Ngữ Văn 9- tập II”, tôi có cho một bài tập về nhà với yêu cầu như sau:
“Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về hai câu thơ được đúc rút như một quy
luật:
Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con”.
Em Thu Hằng học sinh lớp 9B đã cảm nhận như sau:
“Mỗi đứa trẻ dù đã khôn lớn trưởng thành, vững vàng trong cuộc sống
vẫn luôn là đứa con bé bỏng cần sự ôm ấp che chở từ tình yêu thương ấm áp
của người mẹ. Để trên mỗi bước đường đời khi vấp ngã họ có thể trở về với
vòng tay mẹ bao dung, tìm lại mối giao hòa và điểm tựa vững chắc nơi suối
nguồn tình cảm Dù con đã lớn khôn nhưng mẹ lúc nào cũng là chiếc bóng âm
thầm bên đời con trên vạn ngả, bởi con là tất cả vui buồn của lòng mẹ yêu
thương. Vậy nên:
“Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời lòng mẹ vẫn thương con.””
Hay một dẫn chứng khác: Sau khi học xong bài thơ “Mây và sóng” của nhà
thơ Ta-Go (Ngữ văn 9- tập II) tôi ra một bài tập về nhà như sau:
“Em suy nghĩ gì về tình mẫu tử sau khi học xong bài thơ “Mây và sóng”. Hãy
bày tỏ suy nghĩ đó của em bằng 1 đoạn văn.”
Thật bất ngờ em Thái Hà học sinh lớp 9C lại cho cả lớp nghe một bài thơ
viết về mẹ như sau:
Nếu mẹ là
Nếu mẹ bỗng hóa thành vầng trăng
Thì con xin được làm suối mát
Suối chan hòa trong ánh trăng bát ngát
thương bố quá. Chỉ vì lo lấy tiền cho chúng em ăn học mà ngày nào bố em
cũng phải đi rừng như thế. Em vội chạy vào nhà rót cho bố em một cốc nước
vối nguội mời bố uống rồi lấy chiếc quạt nan quạt cho bố. Sau khi nghe bố kể
em mới biết hôm nay bố về muộn là do cái xe đạp của bố bị bục săm. Những
dòng nước mắt của em cứ chảy dài, em thương bố nhiều lắm…”.
Lời văn bộ bạch chân thành của em học sinh đó khiến lòng tôi bồi hồi xúc
động. Tình thương yêu người cha của một em học sinh vùng nông thôn còn
nhiều khó khăn thiếu thốn nó là như vậy đấy. Có phải đâu là một cốc nước
chanh đá mát lạnh hay một làn gió mát của chiếc quạt điện mà đó chỉ là một
cốc nước vối nguội trong một chiếc bình sứ ta vẫn thường gặp ở những vùng
nông thôn dân dã…lời kể rất thật của em đã bộc lộ được lòng yêu thương mẹ
cha, biết cảm thông với nỗi vất vả của cha mẹ. Phải chăng chính tình thương
yêu cha mẹ đã khơi nguồn cảm xúc để các em có thể cho ra đời những đoạn
văn, bài thơ mộc mạc, chân thành đến như vậy.
Thứ hai: Giáo dục tình cảm đạo đức học sinh qua giờ tập làm văn
Thực tế cho thấy không ít học sinh hiện nay rất yếu kém về văn hóa giao
tiếp, nhiều đồng chí giáo viên đã từng phàn nàn về chuyện học sinh nói leo một
cách hồn nhiên hay ngang nhiên nói chuyện riêng trong giờ học, rồi chuyện học
sinh nói tục, chửi thề, xưng hô không đúng trong giao tiếp. Đặc biệt điểm yếu
dễ nhận ra của học sinh phổ thông ở vùng nông thôn là rất rụt rè, lúng túng
trong giao tiếp do tâm lý e ngại hoặc khi đứng trước tập thể không biết nói như
thế nào. Bước vào một môi trường văn hóa là nhà trường nhưng đa số học sinh
vẫn mang theo tâm lý và lối ứng xử hồn nhiên thường ngày. Tôi thiết nghĩ là
người làm công tác giáo dục đặc biệt là giáo viên Ngữ Văn cần chú trọng giáo
dục văn hóa, giao tiếp ứng xử cho học sinh. Chính vì vậy tôi đặc biệt chú ý uốn
nắn cho các em từ cách trả lời phải nói thành câu, tránh cách nói cộc lốc. Đặc