tiểu luậnl tình hình triển khai qfd cho sản phẩm xe máy piaggio lx 125” trong môn quản lý chất lượng - Pdf 15



Nhóm 1– Lớp 10B QTKD 1 1
Tiểu luận

Tình hình triển khai QFD cho sản phẩm xe máy
Piaggio Lx 125” trong môn Quản lý chất lượng

Tiếp theo đó, việc chuyển thể những yêu cầu này sang dạng có thể kiểm soát
được bởi bộ phận chất lượng tại nhà máy thường gặp rất nhiều khó khăn vì có rất
nhiều yếu tố định tính trong ngôn ngữ của marketing trong khi để kiểm soát tốt tại nhà
máy thì các yếu tố cần được diễn giải theo dạng định lượng. Các khó khăn trong việc
diễn dịch này thường được thấy trong sự rối rắm hoặc trùng lắp trong việc định nghĩa
các lỗi thuộc tính (attribute) và biến số (variable). Kết quả sau cùng của các quá trình
này là bộ phận chất lượng, khối sản xuất hiểu khác với cách hiểu của bộ phận phát
triển sản phẩm và càng khác với sự hiểu biết của bộ phận marketing về các yêu cầu
của khách hàng. Nhóm 1– Lớp 10B QTKD 1 3
Vậy có giải pháp nào có thể áp dụng cho các trường hợp này không? Câu hỏi đã
được đặt ra và một câu trả lời đã dần được hình thành tại Nhật và hoàn thiện trong suốt
hơn 40 năm qua, chủ yếu tại Nhật và Mỹ. Đó chính là ma trận / trận đồ / ngôi nhà chất
lượng (house of quality – HOQ) trong triển khai chức năng chất lượng (quality
function deployment – QFD).
Với chuỗi các ma trận HOQ (thông thường là bốn) diễn giải mối quan hệ giữa
tiếng nói của khách hành từ bộ phận marketing, các mô tả sản phẩm, tiêu chuẩn thành
phẩm của bộ phận phát triển sản phẩm đến các yêu cầu về kỹ thuật, quy trình sản xuất
trong nhà máy, tiếng nói của khách hàng sẽ được diễn giải theo một cách thống nhất và
rõ ràng. Từng yêu cầu của khách hàng sẽ được thiết lập một mức độ quan trọng phù
hợp và được hiểu theo một cách giống nhau giữa các bộ phận. Hơn nữa, thông tin về
khả năng của quy trình (process capability) và mức độ thỏa mãn của khách hàng cho
từng yêu cầu cho sản phẩm cũng được thể hiện nhằm so sánh đối chiếu với các thông
tin tương tự về sản phẩm của đối thủ (thông qua một loại nghiên cứu sẽ được đề cập
trong bài viết khác về khả năng quy trình, sản phẩm của các đối thủ) để xác định mức
độ cạnh tranh.
Để đi tìm hiểu rõ hơn các công cụ và kỹ thuật khác nhau để hoạch định chất
lượng và cải tiến quá trình. Nhóm 1 sẽ giới thiệu về công cụ triển khai chức năng chất

1.1. Lịch sử hình thành Tập đoàn Piaggio ITALIA 15
1.2. Công ty TNHH Piaggio Việt Nam 16
1.3. Sản phẩm xe máy Vespa LX 125 i.e 17
II. Ứng dụng QFD đối với sản phẩm xe máy Vespa LX 125 i.e 19
2.1. Đánh giá về nhu cầu sử dụng 19
2.2. Mục tiêu nghiên cứu 21
2.3. Ngôi nhà chất lượng 21
2.3.1. Tiếng nói của khách hàng 21
2.3.2. Những đặc tính kỹ thuật 22
2.3.2. Ma trận liên quan giữa thuộc tính khách hàng và đặc tính kỹ thuật 31
2.3.3. Ma trận mái. 32
2.3.4. Đánh giá các kỹ thuật thiết kế. 32
PHẦN III. KẾT LUẬN 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Nhóm 1– Lớp 10B QTKD 1 5
PHẦN I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRIỂN KHAI CHỨC NĂNG CHẤT LƯỢNG
I. Giới thiệu về triển khai chức năng chất lượng - QFD
1.1. Khái niệm
Quality function Deployment (QFD) là một công cụ (hay phương pháp) giúp
doanh nghiệp nghiên cứu thị trường, nắm bắt được đầy đủ và chính xác nhu cầu của
người tiêu dùng (kể cả thông tin về đối thủ cạnh tranh) từ đó chuyển các yêu cầu này
thành các đặc tính cần thiết của sản phẩm, thông qua các công cụ Ma trận HOQ
(House of Quality). QFD đã được áp dụng có hiệu quả tại nhiều Công ty lớn trên thế
giới. Nó đã giúp cho Doanh nghiệp có khả năng tạo được sản phẩm phù hợp nhất với
người tiêu dùng trong khi khai thác tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp. QFD còn
giúp rút ngắn thời gian thiết kế và đưa sản phẩm ra thị trường, giảm tối đa các rủi ro
trong quá trình phát triển sản phẩm mới hoặc cải tiến sản phẩm. QFD được triển khai

cảm biến với đầy đủ yêu cầu khách hàng. Khi QFD trở nên phổ biến hơn, những người
sử dụng QFD bắt đầu nhận thấy khi kết hợp sử dụng nhiều bảng và ma trận của QFD
nó sẽ trở nên hữu ích hơn. Mãi cho đến khi American Supplier Institute phát triển và
ứng dụng sơ đồ QFD thông qua 4 giai đoạn (kết hợp 4 QFD đơn) thì QFD mới được
ứng dụng một cách phổ biến cho những khâu thiết kế mang tính chất phức tạp.
1.3. Lợi ích và hạng chế của QFD.
1.3.1. Lợi ích
Xét một cách tổng quát, lợi ích của QFD là:
- Bảo đảm nhu cầu của khách hàng được đáp ứng thông qua thiết kế và sản xuất
- Dịch chuyển nhu cầu khách hàng thành đặc tính kỹ thuật
- Liên kết nhu cầu khách hàng với thiết kế sản xuất và marketing
Hay nói một cách cụ thể hơn, khi sử dụng công cụ QFD, doanh nghiệp sẽ đạt được
những lợi ích sau:
- Cải tiến truyền thông và làm việc nhóm trong mọi khâu-marketing, thiết kế, sản
xuất, mua sắm…
- Những mục tiêu của sản phẩm được thông hiểu và giải thích đúng đắn trong suốt
quá trình sản xuất.
- Giúp những nhà quản trị cấp cao xác định nguyên nhân của sự không hài lòng của
khách hàng.
- Là công cụ hữu dụng để phân tích cạnh tranh về chất lượng sản phẩm.
- Cải thiện năng suất và chất lượng, cũng như thời gian cần thiết để phát triển sản
phẩm mới.
- Cho phép công ty mô phỏng hiệu quả những ý tưởng của thiết kế mới mà họ có
thể đưa sản phẩm mới vào thị trường sớm hơn và giành lợi thế cạnh tranh.
Kết quả phân tích QFD đã được áp dụng ở Nhật Bản trong việc triển khai các
nhân tố kiểm soát được có ảnh hưởng lớn trong việc lập kế hoạch chiến lược và quản
lý chiến lược (còn được gọi là Hoshin Kanri, Lập kế hoạch Hoshin, hay triển khai
chính sách). Kỹ thuật này về mặt nào đó gần giống mục tiêu của quản trị (MBO),
nhưng thêm một thành tố quan trọng trong quá trình thiết lập mục tiêu. Việc sử dụng
những kỹ thuật Hoshin của những Công ty Mỹ như Hewlett&Packard đã rất thành

a. Giai đoạn lập ý tưởng vị chất lượng và lập các biện pháp thi hành, được gọi
là lập ma trận hoạch định;
b. Giai đoạn lập thiết kế thực hiện được gọi là lập ma trận thiết kế;
c. Giai đoạn lập biện pháp thực thi được gọi là lập ma trận điều hành;
d. Giai đoạn thực hiện các phép kiểm tra, kiểm soát theo các tiêu chí đã đề ra để
khẳng định chất lượng hàng hoá, được gọi là lập ma trận kiểm soát. (hình 1)
Yêu cầu đặc
tính kỹ thuật

Yêu cầu
Khách hàng

Các đặc trưng
c
ấu th
ành

MT thiết kế
MT hoạch định
MT đi
ều h
ành
Nhóm 1– Lớp 10B QTKD 1 8


quan. Các đặc điểm kỹ thuật là cách thức kỹ thuật để đạt được “cái gì” của khách
hàng Nhóm 1– Lớp 10B QTKD 1 9
- Các đặc điểm kỹ thuật được sắp xếp thứ tự ưu tiên theo một qui định đòi hỏi sự
khéo léo nhưng đơn giản và có trọng số. Nhóm phát triển sẽ biết cái gì cần làm
trước
- Tác dụng cộng hưởng và thỏa hiệp của các đặc điểm kỹ thuật được xác định rõ
ràng
- Truyền thông giữa các bộ phận chức năng được khuyến khích qua quá trình xây
dựng Ngôi nhà chất lượng.
Thông qua 4 giai đoạn trên, những yêu cầu của khách hàng được chuyển tải
thành các yêu cầu về kỹ thuật, tiếp theo những yêu cầu sẽ được đưa vào những đặc
tính cấu thành sản phẩm, sau đó sẽ là các bước xử lý và các bước điều hành để tạo ra
sản phẩm cuối cùng (sản phẩm xây dựng). Với mỗi ma trận dùng để chuyển tải trong
một quá trình trung gian được gọi là “ngôi nhà chất lượng” hay là một QFD đơn.
Ngôi nhà chất lượng liên kết những thuộc tính của khách hàng với đặc tính kỹ
thuật để đảm bảo rằng những quyết định về kỹ thuật được dựa trên cơ sở của việc đáp
ứng nhu cầu khách hàng. Việc xây dựng Ngôi Nhà Chất Lượng có sáu bước căn bản
như sau:
 Nhận diện thuộc tính của khách hàng.
 Nhận diện đặc tính kỹ thuật
 Liên kết thuộc tính của khách hàng với đặc tính kỹ thuật của thiết kế.
 Đánh giá sản phẩm cạnh tranh dựa vào thuộc tính của khách hàng.
 Đánh giá các đặc tính kỹ thuật của thiết kế và mục tiêu phát triển.
 Xác định những đặc tính kỹ thuật dể triển khai trong quy trình sản xuất. Nhóm 1– Lớp 10B QTKD 1 10

tính k
ỹ thuật



Lựa chọn kỹ thuật để
phát triển


Đánh giá sản phẩm
cạnh tranh
Mức độ
quan
trọng


Các yêu cầu của
khách hàng Nhóm 1– Lớp 10B QTKD 1 11
bình thấp, có thể tập trung vào từng người, nội dung câu hỏi sâu, có thể điều tra trực
quan. Tuy nhiên, tổ chức có thể nhận được thông tin chi tiết nhưng thông tin đó không
thể đại diện cho một lượng lớn dân cư mà chỉ đại diện cho nhóm người được hỏi.
Điều tra nhóm – trực tuyến: Phương pháp này có ưu điểm chi phí trung bình, thời
gian thu thập dữ liệu ngắn. Tuy nhiên có bất lợi là không đại diện cho số đông, và chỉ
phù hợp với giới trẻ.
Phỏng vấn trực tiếp từng người: Hình thức phỏng vấn từng người thường không
đại diện cho một lượng lớn dân cư. Cũng như hình thức thảo luận nhóm, tuy nhiên,
cuộc phỏng vấn có thể cung cấp các thông tin chi tiết mà phiếu khảo sát không thể


Nhóm 1– Lớp 10B QTKD 1 12
b. Nhận diện đặc tính kỹ thuật
Phần này thể hiện các các đặc trưng kỹ thuật nó mô tả đặc tính sản phẩm của
công ty. Việc liệt kê các đặc tính kỹ thuật cần thiết để đáp ứng nhu cầu khách hàng sẻ
do nhóm thiết kế QFD xác định dựa trên những đặc trưng định lượng được mà họ nhận
thấy nó có liên quan với yêu cầu của khách hàng. Các đặc tính kỹ thuật phải được đo
lường bởi vì đầu ra sẻ được kiểm soát và so sánh với mục tiêu.
c. Liên kết thuật tính của khách hàng với đặc tính kỹ thuật của nhà thiết kế.
Đây là phần mái của ngôi nhà chất lượng, nó biểu diễn mối quan hệ từng đôi giữa
các đặc tính kỹ thuật. Những dấu hiệu khác nhau sẻ được sử dụng để biểu thị mối quan
hệ này. Những dấu hiệu giúp xác định kết quả của việc thay đổi đặc tính sản phẩm và
khả năng của người hoạch định để tập trung vào sự kết hợp giữa những đặc tính hơn là
từng đặc tính đơn lẻ.
d. Đánh giá sản phẩm cạnh tranh dựa vào thuộc tính khách hàng.
Đây là ma trận được lập nên bởi các đặc tính kỹ thuật và tiếng nói của khách
hàng. Trong bản thân ma trận, những dấu hiệu khác nhau được sử dụng để nhận diện
mức độ của mối quan hệ. Mục đích của ma trận này là cho biết những đặc tính kỹ
thuật nhắm vào những thuộc tính nào của khách hàng. Việc thiết lập có thể dựa vào
kinh nghiệm chuyên môn, từ việc thu thập thông tin khách hàng hay thử nghiệm.
Những đặc tính kỹ thuật có thể ảnh hưởng đến thuộc tính của khách hàng. Việc
thiếu mối quan hệ giữa thuộc tính của khách hàng và những đặc tính kỹ thuật sẻ dẫn
đến những thuộc tính khách hàng có thể không được đáp ứng và sản phẩm cuối cùng
sẻ khó đáp ứng được mong muốn của khách hàng. Tương tự, nếu một đặc tính kỹ thuật
không liên quan đến một thuộc tính nào của khách hàng, nó có thể dư thừa hoặc có sự
sai lệch trong việc đánh giá thuộc tính của khách hàng.
e. Đánh giá đặc tính kỹ thuật của thiết kế và mục tiêu phát triển
Bao gồm đánh giá thị trường, những điểm bán quan trọng, đánh giá cạnh tranh…
Đầu tiên là đánh giá thị trường và những điểm bán quan trọng: bước này bao gồm
việc sắp xếp tầm quan trọng của những thuộc tính khách hàng và đánh giá sản phẩm Hình 3. Ngôi nhà chất lượng cho một giai đoạn thiết kế (dựa theo sơ đồ của A.
Kusiak, San Diego, CA, 1999)
Trung bình cấp độ tiết kiệm
ngu
ồnlực

Số các dự án thiết kế được thực hiện
Tần số tương tác trong số nhữnh
nhóm thi
ết kế chức năng khác nhau

Số những nhóm chức năng hỗ trợ có
liên quan

Số các hoạt động thiết kế bị trì hoãn do
các nguồn tài nguyên không có sãn
Nguy cơ vi phạm vào thời hạn cuối
Trung bình trễ nhất của các hoạt động
thiết kế
Thời gian hoàn thành của những hoạt
động thiết kế cuối cùng trong mạng lưới
Design Process Attibutes
Design Process Variables

sản xuất một loại phương tiện đi lại rẻ hơn, thuận tiện hơn và ai cũng có thể dùng được
nhưng phải bảo vệ được người lái và giữ cho người lái luôn sạch sẽ khi trời mưa… Để
thực hiện được ý tưởng của mình, Enrico Piaggio đã cùng kỹ sư tài năng, người đã
thiết kế chiếc máy bay trực thăng đầu tiên – Corrandino D’Ascanio – thiết kế nên
chiếc xe scooter huyền thoại – Vespa. Vespa được coi là biểu tượng của thời kỳ tái
thiết sau chiến tranh của Italy bởi vì nó được thiết kế dựa trên những phế tích còn lại
của cuộc chiến tranh thế giới thứ II. Chiếc Vespa đầu tiên được xuất xưởng vào tháng
4 năm 1946. Vespa trong tiếng ý có nghĩa là “Con Ong Bò Vẽ” và cũng vì tiếng kêu
của chiếc Vespa giống hệt tiếng kêu của Con Ong Bò Vẽ. Vespa đã rất thành công và
đã trở thành một hiện tượng mốt trong nhiều năm sau chiến tranh. Năm 1948 là năm ra
đời của chiếc xe ba bánh Ape đầu tiên. Ape đã giúp cho hoạt động thương mại của
Italy khởi sắc trong thời kỳ hậu chiến. Kế đó, năm 1949 Piaggio đã cho xuất xưởng
chiếc thuyền máy nhỏ Moscone và chiếc Vespa 400 vào năm 1957. Năm1964, hãng
Piaggio được tách ra thành I.A.M Rinaldo Piaggio chuyên sản xuất sản phẩm phục vụ
cho ngành hàng không và tàu hoả và Piaggio & C. chuyên sản xuất xe máy bánh nhỏ
(scooter). Năm 1965, Enrico Piaggio qua đời và để lại hãng Piaggio & C. cho người
con rể Umberto Agnelli làm chủ tịch. Umberto Agnelli đã điều hành rất thành công
nhà máy và cho ra đời chiếc xe đạp máy – Moped: Ciao vào năm 1967 và Bravo, Si
vào giữa những năm 70 cùng hàng loạt những model mới hàng năm. Những năm 90,
Piaggio & Ciao được cổ phần hoá và được đổi tên thành Piaggio V.E. doGiovanni
Alberto Agnelli làm chủ tịch. Từ đầu năm 2000, việc kiểm soát của công ty đã được Nhóm 1– Lớp 10B QTKD 1 16
chuyển giao cho tập đoàn tài chính Morgan Grenfell Private Equity (công ty thành
viên của tập đoàn Deutsche Bank). Dante Razzano trở thành chủ tịch của Piaggio từ
tháng 5 năm 2001. Ngoài thương hiệu Piaggio ra, tập đoàn còn sở hữu các thương
hiệu: Gilera (xe máy bánhnhỏ và xe mô tô), Vespa (xe máy bánh nhỏ), Derbi (xe máy
bánh nhỏ và xe máy bánh lớn) và Puch (xe máy bánh nhỏ). Bên cạnh đó, Piaggio còn
là nhà sản xuất và cung cấp động cơ xe máy cho rất nhiều hãng xe máy trên thế giới từ

kỷ trước. Những chiếc xe đầu tiên theo chân những người Pháp du nhập vào đất Việt
từ năm 1954 và được sử dụng bởi những người giàu có. Đời Vespa đầu tiên đến Việt
Nam là Acma thuộc đời từ 1953 -1957, trong đó quý hiếm nhất là dòng xe Acma GS. Nhóm 1– Lớp 10B QTKD 1 17
Văn phòng đại diện Piaggio Indochina Pte.Ltd ( PIPL ) chính thức được thành
lập tại Hà Nội vào tháng 1 năm 1996 trực thuộc Piaggio Asis Pacific – văn phòng của
Piaggio tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương do công ty mẹ Piaggio & C.S.p.A quản
lý trực tiếp. PIPL được thành lập tại Việt Nam nhằm mục đích:
- Hỗ trợ việc ký kết hợp đồng giữa các đối tác Việt Nam với công ty mẹ
- Hỗ trợ tất cả các hoạt động quảng cáo, khuyến mại trên toàn quốc
- Phát triển hệ thống phân phối, đại lý trong nước để phân phối xe máy bánh
nhỏ Piaggio đến người tiêu dùng Việt Nam theo tiêu chuẩn Piaggio toàn cầu
- Hỗ trợ và đào tạo kỹ thuật, bán hàng thường xuyên cho các nhà phân phối, đại
lý để phục vụ, bảo dưỡng xe Piaggio cũng như đáp ứng các nhu cầu khác của
khách hàng Việt Nam theo tiêu chuẩn của Piaggio toàn cầu
- Tiến hành các nghiên cứu về thị trường xe máy tại Việt Nam
- Phát triển kế hoạch kinh doanh để đầu tư, xây dựng dự án tại Việt Nam
1.3. Sản phẩm xe máy Vespa LX 125 i.e
Những năm gần đây, các dòng xe máy tay ga đã trở nên phổ biến hơn tại thị
trường Việt Nam. Cùng với sự thành công mỹ mãn của Piaggio trên thị trường châu
Âu, Piaggio với cam kết cung cấp các sản phẩm tiên tiến có chất lượng cao nhất và
dịch vụ hoàn hảo nhất, hệ thống phân phối lớn nhất gồm các trung tâm Piaggio tại Hà
Nội, Tp Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và một số tỉnh khác với ĐẦY ĐỦ NHẤT CÁC
MODEL XE ĐỜI MỚI tiêu biểu cho các thế hệ xe Piaggio và đã được ưa chuộng trên
thị trường Việt Nam như: Vespa ET4 125/150, Vespa LX 125/150, Vespa
Granturismo, Beverly 125, Zip 50/100/125, Liberty 50/125, Fly 125, các mẫu xe được
sản xuất nhân kỷ niệm 60 năm Vespa như Vespa LXV 125, Vespa GTS 125/250.
Vespa LX 125 i.e mang phong cách cổ điển và tinh tế, ý tưởng thanh lịch và hiện

II. Ứng dụng QFD đối với sản phẩm xe máy Vespa LX 125 i.e
2.1. Đánh giá về nhu cầu sử dụng
Sau 8 năm hoạt động, PIPL đã xây dựng được một hình ảnh vững chắc của mình
tại Việt Nam đó là xe máy bánh nhỏ Piaggio, là một hạng xe cao cấp trên thị trường cả
về sản phẩm và dịch vụ bán hàng, sau bán hàng. Xe máy bánh nhỏ Piaggio thực sự đã
được người tiêu dùng Việt Nam đánh giá là loại xe cao cấp, sang trọng, thời trang và
thường gắn liền với những người tiêu dùng có kiến thức, vị trí, học vị trong xã hội.
PIPL đã thiết lập được hệ thống các nhà phân phối chính thức xe máy Piaggio với dịch
vụ bán hàng, sau bán hàng và cung cấp dịch phụ tùng chính hiệu của Piaggio tại
Hà Nội,Tp Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng. PIPL cung cấp dịch vụ sau bán hàng
tại các Trung tâm Piaggio cho tất cả khách hàng Piaggio trong và sau chế độ bảo hành Nhóm 1– Lớp 10B QTKD 1 20
theo quy định. PIPL đã đưa khái niệm “Trung tâm Piaggio” và “Cửa hàng thời trang
Vespa” với tiêu chuẩn Piaggio trên toàn quốc. PIPL thường xuyên đào tạo cho các
nhân viên của PIPL cũng như các nhà phân phối, đại lý về kỹ thuật và thương mại qua
các khóa đào tạo tổ chức tại Italy, Singapore và Việt Nam. Trải qua hơn nửa thế kỷ, có
những lúc Vespa làm điên đảo lòng người, lại có những khi Vespa vắng bóng trên
đường phố. Hiện nay, Vespa đã lấy lại phong độ của mình để tiếp tục chiếm lĩnh thị
phần của dòng xe tay ga cao cấp. Tiếp nối “huyền thoại ITALIA trên đất Việt”, cuối
tháng 6/2009, Công ty TNHH Piaggio Việt Nam chính thức khai trương nhà máy và
dây chuyền sản xuất xe Vespa tại Việt Nam và nhanh chóng chiếm lĩnh phần lớn thị
trường của dòng xe tay ga cao cấp sản xuất nội địa với dòng xe Vespa LX 125 và LX
150. Sau chưa đầy 4 tháng đi vào hoạt động, Công ty Piaggio Việt Nam đã cho ra đời
chiếc xe Vespa thứ 10,000 sản xuất tại Việt Nam. Đây là một mốc son quan trọng, thể
hiện sự phát triển cũng như sự cam kết của công ty về vai trò to lớn của thị trường
Việt Nam. Tới ngày 22/3/2010, công ty Piaggio Việt Nam tiếp tục ra mắt model xe thứ
2 sản xuất tại Việt Nam – Vespa S với phong cách thể thao, khỏe khoắn. Ngày
24/6/2010, nhân kỷ niệm 1 năm thành lập, công ty Piaggio Việt Nam giới thiệu phiên

trường
- Mong muốn của khách hàng về sản phẩm xe máy tay ga mới
- Phỏng vấn trực tiếp
2.3. Ngôi nhà chất lượng
2.3.1. Tiếng nói của khách hàng
Dân số Việt Nam hiện nay khoảng 90 triệu người và điểm đặc biệt là tỷ lệ dân số
trẻ của Việt Nam rất cao. Giới trẻ lại học hỏi rất nhanh và đóng vai trò rất lớn cho việc
xây dựng đất nước và tương lai của Việt Nam. Giới trẻ Việt Nam đang yêu cầu một
cuộc sống có chất lượng tốt hơn, dịch vụ nhiều tiện ích hơn.
Để có cơ sở đánh giá tốt hơn những yêu cầu của khách hàng làm căn cứ cho
những cải tiến về công nghệ, thiết kế hoàn hảo hơn. Nhóm chủng tôi tiến hành phân
loại về tiếng nói của khách hàng như sau:
1. Thiết kế
- Phong cách;
- Màu sắc;
- Kích thước;
- Trang trí.
2. Kỹ thuật
- Động cơ;
- Sơn;
- Thân, khung xe;
- Hệ thống giảm xóc;
- Bánh xe;
- Phanh.
3. An toàn và kinh tế:
- An toàn khi vận hành;
- Hệ thống khóa chống trộm;
- Thân thiện với môi trường;
- Tiết kiệm nhiên liệu;


lịch và nhịp sống hiện đại, thời trang. Không chỉ đơn thuần thành công về mặt thương
mại, Piaggio đã tạo ra một giá trị lớn lao hơn mà không một thương hiệu xe nào có
được, đó là văn hóa Vespa toàn cầu. Những lý do này đã khiến Công ty Piaggio sử
dụng cái tên Vespa đến bây giờ cho những sản phẩm mới, không cần truyền thông hay
quảng cáo, khi nhắc đến Vespa hầu như ai cũng biết, đi kèm với tên Piaggio của Công
ty cũng là một điểm mạnh, không cần phải tạo dựng lại thương hiệu và hình ảnh, thuận
lợi cho sản phẩm bởi danh tiếng quá lớn của Công ty Piaggio. Cuối cùng người ta đi
đến cái tên Piaggio Vespa LX , LX – Luxury – sự xa hoa lộng lẫy. Cái tên cũng rất dễ
đọc, dễ nhớ, nó tạo ấn tượng từ ban đầu, kết hợp với biểu tượng gắn trên xe Vespa LX Nhóm 1– Lớp 10B QTKD 1 23
có hình chữ nhật nền một nửa màu xanh dương đậm và một nửa nhạt, trên nền có chữ
P và Piaggio đặc trưng không thể nhầm với những hình ảnh khác được.

- Màu sắc:
Công nghệ sơn của xe Vespa LX 125 i.e sản xuất tại Việt Nam được áp dụng
công nghệ sơn 5 lớp – theo tiêu chuẩn sơn của ô tô. Gam màu của Vespa LX 125 i.e
mới rất đa dạng bao gồm: trắng, xanh, đỏ, vàng, đen, hồng, be và nâu.
- Tiêu chuẩn về kích thước:
Để phù hợp hơn với người tiêu dùng Việt Nam, yên xe của Vespa LX 125 i.e sản
xuất tại Việt Nam đã được hạ thấp hơn chỉ còn 774mm thấp hơn 11mm so với chiều
cao yên (cao nhất) của xe Vespa LX nhập khẩu trước đây (785mm). Chi tiết Kích
thước, trọng lượng
- A1, Chiều dài (mm) 1770mm
- A2, Chiều rộng (mm) 1230 mm
- A3, Độ cao yên xe 774 mm Trọng lượng 114kg
- A4, Khoảng cách giữa 2 trục bánh xe 1280mm
- A5, Khoảng cách gầm xe 95 mm
Kiểu yên mỏng với bề rộng yên xe được thu hẹp, Vespa LX 125 i.e dễ ngồi ngay

Sản phẩm sản xuất tại Việt Nam được thay đổi ở cụm công tắc tắt đèn pha, đèn
sương mù nằm phía bên phải cụm tay lái, khiến cho việc chuyển từ đèn pha sang chế
độ đèn sương mù dễ dàng hơn. Vespa LX 125 i.e có khả năng tắt hoàn toàn đèn pha và
chuyển sang bật đèn sương mù khá dễ dàng.

Như vậy, để đáp ứng loại nhu cầu này, nhà sản xuất cần thực hiện tốt những đặc
tính thiết kế là: Công nghệ hiện đại; Mẫu mã đa dạng; kích thước hợp lý.
b. Kỹ thuật
- Động cơ:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status