LUẬN VĂN
“Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả
thu hút khách quốc tế hơn nữa vào Việt
Nam trong thời gian tới”
MỤC LỤC
1
Lời nói đầu 3
CHƯƠNG 1 5
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DU LỊCH - VAI TRÒ CỦA DU LỊCH QUỐC TẾ TRONG NGÀNH
CÔNG NGHIỆP DU LỊCH 5
I. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ DU LỊCH 5
1.1 Một số khái niệm cơ bản về du lịch: 5
1.2 Quan niệm về sản phẩm du lịch: 6
II. CÁC TIÊU CHÍ ĐIỂN HÌNH CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 6
2.1 Đặc tính độc đáo của một chương trình du lịch - Tour 6
2.2 Sự hấp dẫn của một chuyến tour: 7
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự thành công của một tour du lịch: 7
III. ĐẶC TRƯNG CỦA HOẠT ĐỘNG LỮ HÀNH QUỐC TẾ 7
3.1 Định nghĩa doanh nghiệp lữ hành: 8
3.2. Đặc trưng của hoạt động du lịch quốc tế: gồm 3 đặc trưng: Thiết kế tour, giới thiệu và khai thác khách
hàng 8
3.3 Chiến lược quản lý sản phẩm: 8
3.4. Các hoạt động chuyên biệt của lữ hành quốc tế: 10
3.5 Mối quan hệ giữa du lịch quốc tế và các hoạt động khác trong ngành du lịch 11
KẾT LUẬN 12
CHƯƠNG 2 13
THỰC TRẠNG DU LỊCH QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 13
I. THỰC TRẠNG DU LỊCH Và CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH HIỆN NAY: 13
1.1. Thực trạng khách du lịch và một số đặc điểm cơ bản: 13
Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam 14
ngang bằng với năm 1997 là 1,78 triệu lượt người [1]. Từ năm 2000 đến nay, Du lịch Việt
nam đã khởi sắc. Số lượng nội địa tăng lên 11 triệu lượt và lượng khách nước ngoài vào
Việt nam đã đạt chỉ tiêu đề ra ở mức trên 2 triệu lượt người. Số lượng khách quốc tế đến
Việt Nam vẫn tăng đều trong các năm tiếp theo. Cụ thể, năm 2001 lượng khách tăng
108,8% so với năm 2000, năm 2002 tăng 110% so với năm 2001. Riêng quý I/2003 lượng
khách nướcngoài đã đạt 712.500 người, tăng 115,5% so với quý I/2002. [2]
Khách nước ngoài ngày càng quan tâm đến Việt nam, coi Việt nam là một điểm đến an toàn
trong những kỳ nghỉ khi tình hình an ninh trên thế giới có nhiều bất ổn; là nơi có nhiều
thắng cảnh tự nhiên được thiên nhiên ưu đãi, trở thành điểm đến hấp dẫn đối với khách du
lịch. Bên cạnh đó, công tác quảng bá du lịch sâu rộng ra nước ngoài cùng với các sản phẩm
và chất lượng dịch vụ ngày càng hoàn thiện, hệ thống hạ tầng cơ sở, khu vui chơi giải trí tại
các trung tâm du lịch không ngừng được cải tạo và xây mới đã thu hút ngày càng nhiều sự
chú ý của khách nước ngoài đến Việt Nam. Có thể thấy lượng du khách quốc tế vào Việt
nam tăng đều qua các năm gần đây. Tuy nhiên số khách đến lần thứ hai chưa nhiều.
Nguyên nhân chủ yếu là do sản phẩm du lịch còn đơn điệu, chậm đổi mới, chất lượng dịch
vụ không đồng đều. Như vậy, vấn đề cấp thiết được đặt ra cho Du lịch Việt nam là phải
từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch, đa dạng hoá các loại hình sản
phẩm, đồng thời tạo ra nhiều sản phẩm truyền thống độc đáo hấp dẫn. Mặt khác phải ưu
tiên phát triển nguồn nhân lực và hoàn thiện các chính sách cũng như các dịch vụ liên quan
đến du lịch. Đó là những thách thức không nhỏ đối với du lịch Việt nam.
Việc tìm hiểu thực trạng, phân tích các yếu tố tích cực và những mặt yếu kém của hoạt
động du lịch Việt Nam từ đó tìm ra giải pháp thiết thực, nâng cao hiệu quả hoạt động và
kinh tế của du lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế là một vấn đề cần thiết.
Vì những lý do trên, em xin chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút
khách quốc tế hơn nữa vào Việt Nam trong thời gian tới” để viết khoá luận tốt nghiệp, hoàn
thành chương trình đào tạo chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương, khóa 8 của Trường Ngoại
thương.
Đề tài được viết trên cơ sở phân tích thực trạng, nghiên cứu, tổng hợp thông tin và so sánh
thực tế các hoạt động chính của ngành du lịch Việt Nam, đặc biệt là du lịch quốc tế trong
những năm qua và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút khách quốc tế hơn nữa vào
Ngày nay, du lịch trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hoá xã hội
của con người. Ngành du lịch đang có cơ hội phát triển mạnh mẽ và trở thành một ngành
kinh tế mũi nhọn trên phạm vi toàn cầu.
Thuật ngữ Du lịch
Ngày nay, thuật ngữ “Du lịch” trở nên rất thông dụng. Nó bắt nguồn từ tiếng Pháp: “Tour”
nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi. Du lịch gắn với việc nghỉ ngơi, giải trí nhằm phục
hồi, nâng cao sức khỏe và khả năng lao động của con người nhưng liên quan mật thiết với
sự di chuyển chỗ của họ.
Du lịch đã và đang trở thành nhu cầu thiết yếu trong đời sống văn hoá, xã hội của mọi
người dân trên toàn thế giới. Du lịch đã trở thành lực lượng kinh tế, xã hội mạnh, chính ở
nhiều quốc gia. Đối với một số nước, Du lịch là nguồn thu lớn nhất trong hoạt động ngoại
thương. Cùng với sự phát triển kinh tế, Du lịch cũng không ngừng tăng trưởng. Theo thống
kê của Tổ chức Du lịch Thế giới (TWO), năm 2000 có 650 triệu lượt khách du lịch trên
toàn thế giới (năm 1997 có khoảng 615 triệu người) và đến năm 2010, con số sẽ đạt tới 937
triệu lượt người [3]. Các số liệu trên cho thấy ngành công nghiệp toàn cầu này phát triển rất
nhanh chóng, được đánh giá là ngành công nghiệp lớn nhất thế giới, thậm chí vượt qua cả
các ngành cơ khí, tự động, điện tử và nông nghiệp. Du lịch mang lại lợi nhuận kinh tế cao
và là nguồn thu ngoại tệ rất lớn cho các nền kinh tế.
Có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về Du lịch dựa theo quan điểm của từng giai tầng trong
xã hội.
- Đối với người du lịch: Du lịch để thoả mãn nhu cầu giải trí và các ức chế tâm lý trong đời
sống hàng ngày cũng như cải thiện, nâng cao sức khoẻ. Đây là cách nhìn nhận phổ biến,
rộng rãi nhất.
- Đối với nhà kinh doanh cung cấp sản phẩm và dịch vụ du lịch: Nhìn nhận Du lịch như là
một cơ hội tốt để tạo ra lợi nhuận từ việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ du lịch mà thị
trường đòi hỏi.
- Đối với Chính phủ, các chính trị gia của nước có hoạt động du lịch: nhìn nhận du lịch là
một yếu tố thịnh vượng của nền kinh tế, liên quan đến thu nhập của người dân, liên quan
đến nguồn thu ngoại tệ và nguồn thu thuế từ hoạt động kinh doanh này.
- Đối với cộng đồng nơi có hoạt động du lịch: Người dân địa phương nhìn nhận Du lịch
ăn uống, tham quan và các dịch vụ khác.
Ngày nay, rất nhiều nước quan tâm đến Du lịch vì Du lịch có ảnh hưởng rất lớn đến nền
kinh tế. Các ngành như giao thông, công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, thương mại đều
bị ảnh hưởng bởi du lịch và đôi khi cũng phải thay đổi phương hướng và kế hoạch sản xuất
để phù hợp với phát triển du lịch.
II. CÁC TIÊU CHÍ ĐIỂN HÌNH CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
2.1 Đặc tính độc đáo của một chương trình du lịch - Tour
+ Tour là một sản phẩm vô hình, người ta không thể nhìn thấy, chạm vào hay miêu tả nó
khi chưa tham gia vào. Thay vào đó, người thiết kế tour sẽ xây dựng các tài liệu để giới
thiệu sản phẩm của mình bằng lời và thông qua hình ảnh. Vì vậy, khi mua một sản phẩm
tour không giống như một vật dụng khác vì cái còn lại sau cùng của một chuyến du lịch chỉ
là một ký ức. Vì vậy, sản phẩm này không thể được thay đổi nếu bản thân nó có vấn đề.
+ Chất lượng của tour phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như thái độ và trình độ của
hướng dẫn viên, tiêu chuẩn phòng khách sạn, hiệu quả của việc vận chuyển Một chuyến
tour trọn gói luôn luôn nằm trong mối quan hệ không thể tách rời với các sản phẩm của
ngành du lịch có chất lượng khác.
+ Tour là sản phẩm dễ hỏng nếu nó không được sử dụng tại một thời điểm xác định, nó sẽ
mất đi vĩnh viễn.
+ Tour là một phương tiện căn bản để nối khách du lịch với một điểm du lịch đã được chọn.
6
2.2 Sự hấp dẫn của một chuyến tour:
Thật khó khi xác định tour này có hấp dẫn hay không bởi vì nó còn phụ thuộc vào rất nhiều
yếu tố mà đặc biệt là khách hàng. Chính vì vậy ta chỉ có thể xem xét ở những khía cạnh
chung nhất, đó là:
Một chuyến tour trọn gói sẽ giúp du khách hiểu biết hơn với một nhân viên hướng dẫn
chuyên nghiệp, có kiến thức và thông thạo khu vực, ngôn ngữ và giàu kinh nghiệm đi du
lịch.
Một chuyến tour trọn gói cung cấp cho du khách sự thuận tiện và dễ dàng trong việc đi du
lịch.
Trong một thời gian ngắn họ có thể đi thăm nhiều nơi và tiết kiệm nhiều thời gian.
nhân lực phục vụ và cơ sở hạ tầng nói chung. Chúng ta phải biết tận dụng những lợi thế tự
nhiên sẵn có và phát huy khả năng sáng tạo, năng động của chính bản thân mình thì mới đạt
được nhiều thành công trong Du lịch nói riêng và phát triển kinh tế nói chung.
Du lịch quốc tế là một ngành kinh tế xã hội thu hút hàng tỷ người tham gia và nó liên quan
đến rất nhiều ngành nghề. Du lịch quốc tế đòi hỏi các ngành khác phải phát triển và mở
rộng theo. Tuy nhiên, nó mang lại những nguồn lợi rất lớn như bán được các sản phẩm là
hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống; Mức tiêu thụ các sản phẩm thực phẩm nông nghiệp
cũng gia tăng; Du lịch quốc tế cũng đã làm thay đổi nhiều mặt ở các vùng sâu vùng xa, nơi
mà kinh tế còn phát triển chậm, đời sống và nhận thức của người dân còn kém
7
3.1 Định nghĩa doanh nghiệp lữ hành:
Doanh nghiệp lữ hành hay công ty điều hành tour du lịch có thể được hiểu là việc một công
ty bán các sản phẩm du lịch trực tiếp đến khách hàng hay gián tiếp qua các đại lý du lịch.
Quản lý điều hành khu vực chịu trách nhiệm vạch kế hoạch, phát triển quảng cáo, điều hành
thực hiện các sản phẩm du lịch. Sản phẩm du lịch chính là các tour du lịch. Chỉ có sau khi
kết thúc chuyến du lịch, khách hàng mới biết và đánh giá được chất lượng sản phẩm họ đã
mua. Sản phẩm du lịch tốt hay xấu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: chỗ ăn, ở, thực phẩm,
hoạt động của tour, phương tiện đi lại, dịch vụ Kinh doanh du lịch là sự tổng hợp của
nhiều công đoạn từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc tour. Đối với khách du lịch, đại lý du lịch
như một người trung gian, thay mặt khách hàng sắp xếp mọi thứ từ vé tàu xe, khách sạn, đồ
ăn, các dịch vụ khác Có thể coi đại lý du lịch là một chuyên gia tư vấn về du lịch vì họ
hiểu tường tận các chi tiết vốn có trong du lịch mà khách không thể biết hết được.
3.2. Đặc trưng của hoạt động du lịch quốc tế: gồm 3 đặc trưng: Thiết kế tour, giới
thiệu và khai thác khách hàng.
Du lịch được coi như một cầu nối giữa khách du lịch và các hoạt động khác liên quan đến
du lịch như nhà hàng, khách sạn, đi lại, thức ăn đồ uống, giải trí, thể thao Đặc biệt du lịch
quốc tế giúp những con người có nền văn hóa khác nhau, lối sống khác nhau hiểu và học
hỏi nhau nhiều hơn, gần gũi và làm bạn với nhau nhiều hơn.
Chức năng chính của các hoạt động du lịch là giới thiệu các thông tin trực tiếp hoặc gián
tiếp đến du khách.
Sức tăng trưởng thị trường
Chất lượng thị trường
Sự phối hợp với việc xác định nhiệm vụ của vùng
Vị trí của các đối thủ cạnh tranh
Thông thường sản phẩm được phân loại trên cơ sở xem xét các yếu tố về thị phần thị trường
và mức tăng trưởng của thị trường. Theo tiêu chí này có 4 loại sản phẩm:
Thị phần
Sự tăng
trưởng của thị phần
Lớn Nhỏ
Cao Sản phẩm bốn sao Sản phẩm hai sao
Thấp Sản phẩm ba sao Sản phẩm một sao
b. Quản lý sản phẩm hiện có:
Sau khi lập được danh mục sản phẩm, xác định mức hấp dẫn của chúng, cần phải có một hệ
thống theo dõi, kiểm tra việc thực hiện của mỗi sản phẩm. Mục đích chính của việc thiết lập
hệ thống này là để phát hiện ra những vấn đề của mỗi sản phẩm, từ đó đề ra phương thức
giải quyết các vấn đề này.
Hệ thống kiểm tra việc thực hiện của sản phẩm
c. Phát triển sản phẩm mới:
* Quá trình phát triển sản phẩm mới:
- Phân tích thị trường: Tìm hiểu nhu cầu của thị trường, tìm cơ hội trong những thị trường
mới. Căn cứ vào mức độ hấp dẫn của mỗi sản phẩm du lịch, nhà quản lý sẽ quyết định đầu
tư mạnh vào sản phẩm nào. Dưới đây là một số yếu tố được sử dụng để đánh giá mức độ
hấp dẫn của từng sản phẩm du lịch
- Thiết kế sản phẩm: Dựa trên những nghiên cứu, điều tra về khách
- Kiểm tra và thử nghiệm sản phẩm: xem xét và đo lường các phản ứng của thị trường đối
với sản phẩm.
- Giới thiệu sản phẩm: đưa sản phẩm vào thị trường.
* Những tiêu chí cho việc lựa chọn sản phẩm mới:
- Nên có một nhu cầu đủ lớn từ phía ít nhất một khúc đoạn thị trường quan trọng đối với
- Giai đoạn đình trệ
- Giai đoạn suy thoái hay một giai đoạn mới được bắt đầu. Các giai đoạn trong vòng đời sản phẩm du lịch
3.4. Các hoạt động chuyên biệt của lữ hành quốc tế:
Như đã đề cập ở trên, hoạt động của lữ hành quốc tế được chia thành 4 nhóm: Giới thiệu,
cung cấp thông tin, tư vấn và phân phối sản phẩm.
* Mỗi một hoạt động sản xuất tạo ra một sản phẩm riêng. Sản phẩm là các sản phẩm vô
hình, chính là các tour, các dịch vụ đi kèm. Công ty lữ hành bán các tour trọn gói tới khách
gồm đưa đón, đi lại, ăn ở, tham quan Mỗi dịch vụ như vậy đòi hỏi phải thực hiện chính
xác và ăn khớp với nhau mới tạo ra được một tour có chất lượng cao.
Đối với du lịch, quá trình sản xuất bao gồm nghiên cứu thị trường và xây dựng chương
trình tour, đặc biết là các tour trọn gói; tìm hiểu thị trường để tìm ra nhu cầu, mong muốn
và khả năng tài chính của khách hàng để đáp ứng cho phù hợp. Mặt khác, hoạt động cung
cấp dịch vụ cũng cần được chú ý. Dựa trên nghiên cứu, phân tích thông tin thị trường, nhà
kinh doanh lữ hành phải lưu ý tới 3 yếu tố: Yếu tố kỹ thuật: Lịch trình, phương tiện đi lại,
nơi tham quan, thời lượng đi, nghỉ, ngôn ngữ giao tiếp ); Yếu tố kinh tế: Giá cả tour, chi
Tham gia
Thăm dò
Phát triển
Củng cố
Đình trệ
Giai
o n đ ạ
m iớ
Suy thoái
Số lượng
khách
Thời gian
nắm bắt tâm lý, thói quen của du khách, làm cho du khách cảm giác thoải mái, tin tưởng,
muốn quay trở lại.
Trên đây là những đặc điểm khác biệt trong lữ hành quốc tế. Các công việc thường phức
tạp, đòi hỏi có kỹ năng chuyên môn cao vì đối tượng phục vụ là khách nước ngoài có vốn
hiểu biết nơi họ đến còn chưa nhiều.
3.5 Mối quan hệ giữa du lịch quốc tế và các hoạt động khác trong ngành du lịch
Mỗi một dịch vụ kinh doanh đơn lẻ như nhà hàng khách sạn, đồ ăn thức uống, đi lại, giải
trí được ngành kinh doanh du lịch nối kết với nhau thành một dịch vụ tổng hợp, liên quan
chặt chẽ với nhau, tạo nên một sản phẩm gói hoàn hảo.
Nơi khách nghỉ ngơi như khách sạn, nhà trọ rất được coi trọng. Trong những ngày xa nhà,
phải ở nơi hoàn toàn khác biệt, du khách mong muốn có một chỗ nghỉ an toàn. Ngày nay,
du khách, đặc biệt là khách nước ngoài không những đòi một chỗ nghỉ an toàn mà còn phải
sang trọng, đầy đủ tiện nghi, nhân viên phục vụ phải thân thiện, nhiệt tình và chuyên
nghiệp. Sự thoả mãn của khách hàng sẽ phụ thuộc vào nhu cầu và khả năng tài chính của
từng loại khách.
Du khách thường muốn biết các điểm đặc trưng của nơi họ sẽ đến. Chất lượng cuộc sống
ngày càng được nâng cao, khách nước ngoài thường có thu nhập cao nên họ nhu cầu ăn
uống không nhiều, họ muốn thưởng thức các món ăn như một nghệ thuật ẩm thực, văn hoá
ẩm thực tinh tế. Vì vậy, món ăn trong các nhà hàng khách sạn phải đa dạng, phong phú, và
có chất lượng cao, cách bài trí đẹp, cách bảo quản sạch sẽ, chuyên nghiệp. Đối với du
11
khách, nhu cầu thưởng thức một đặc sản nào đó của một vùng cũng là một lý do để họ đi du
lịch.
Phương tiện đi lại cũng không kém phần quan trọng. Khách thường phải di chuyển những
chặng đường ngắn hoặc dài giữa các điểm du lịch với các điều kiện khí hậu khác nhau nên
các phương tiện hiện đại, tiện nghi làm khách thoải mái, thư giãn cũng là điều rất cần thiết.
Ngoài các dịch vụ kể trên, các dịch vụ khác như giặt là, đặt vé máy bay, làm visa, các thủ
tục quốc tế cũng rất cần thiết đối với khách quốc tế. Tất các cả dịch vụ được phục vụ chu
đáo, tận tình, đúng mực cùng với các hoạt động tham quan, giải trí, các lễ hội độc đáo có
thể thu thú và khuyến khích du khách ở lại lâu hơn.
12000
10000
8000
6000
4000
2000
13
2400000
2200000
2000000
1800000
1600000
1400000
1200000
1000000
800000
600000
0 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Nguồn: Báo cáo chính thức lượng khách quốc tế đến Việt Nam - Tổng cục Du lịch - 5/2003
()
Thị trường khách quốc tế có thể phân theo 3 tiêu chí cơ bản - [4]
* Theo quốc tịch:
Các thị trường then chốt của Du lịch Việt nam bao gồm Trung Quốc, Đài Loan, Nhật bản,
ASEAN, Tây Âu, Bắc Mỹ Những đặc điểm cơ bản của thị trường này được đánh giá như
sau:
Thị trường khách Trung Quốc: Tăng nhanh từ 484.102 khách năm 1999 lên 724.385 khách
năm 2002, tăng trung bình 11,5%/năm. Thị phần tăng từ 27,17% (1999) lên 29,12% (2002).
Mục đích chủ yếu qua lại buôn bán, thăm quan; Phương tiện chủ yếu là đường bộ; Ngày
lưu trú trung bình từ 3-4 ngày; Mức chi tiêu thấp: Trung bình 25USD/ngày; Đóng góp vào
tổng thu nhập thấp : năm 2002 chiếm 27,56% về số khách nhưng chỉ chiếm 3,4%/tổng thu
3 tuần, phổ biến tù 7-10 ngày. Chi tiêu trung bình đạt 76USD/ngày/người. Đóng góp cho
tổng doanh thu của ngành 15,1% năm 2002.
Thị trường Bắc Mỹ (chủ yếu là Mỹ và Canada): là thị trường có mức tăng trưởng cao, trung
bình 48,5%/năm (1999-2002); Thị phần tăng nhanh từ 3,31% (1992) lên 11,81% (1999).
Mục đích chủ yếu: tham quan du lịch (80,1%), thương mại (12,6%), thăm thân (2,1%) và
các mục đích khác(5,2%). Ngày lưu trú trung bình khoảng 7-10 ngày. Phương tiện chính là
máy bay; Chi tiêu trung bình khoảng 100USD/ngày/người (thương mại là 165USD, tham
quan du lịch 84,5USD…) đóng góp cho tổng doanh thu của ngành rất cao, đạt 22,7% năm
2002.
* Theo mục đích chuyến đi:
Tham quan du lịch: Mức độ tăng trưởng tương đối cao, đạt trung bình 20,07%/năm (1999-
2002), từ 837.550 khách năm 1999 lên 1.138200 khách năm 2002. Về thị phần: từ 47%-
55% trong tổng số khách. Có khả năng thanh toán tương đối cao: 70-80USD/ngày/người,
ngày lưu trú trung bình khoảng 7-8ngày. Năm 2002 chiếm 55% thị phần về khách nhưng
chiếm 62,7% thị phần về doanh thu.
Khách thương mại du lịch: chiếm khoảng 14,9-18,9% thị phần, tăng trưởng trung bình:
10,1% năm(1999-2002). Tuy nhiên khách có khả năng chi trả tương đối cao:
160USD/ngày/người, thời gian lưu trú khoảng 5-6 ngày, khả năng đóng góp cho tổng
doanh thu lớn: năm 2002 chiếm 16,9% số khách nhưng chiếm 20,9% tổng doanh thu.
Khách thăm thân: tăng từ 337.086 khách (chiếm 18,92% tổng số ) năm 1999 lên 430.994
khách năm 2002, tuy nhiên mức tăng không ổn đinh qua các năm. Trung bình tăng
10,9%/năm. Mức chi tiêu thấp (khoảng 20USD/ngày/người), ít lưu trú trong hệ thống khách
sạn. Năm 2002 chiếm 16,4% tổng số khách nhưng chỉ chiếm 8,5% thị phần về doanh thu.
Sự biến động về thị phần nói chung không ảnh hưởng nhiều đến tổng thu nhập chung của
ngành Du lịch.
* Theo phương tiện vận chuyển:
Đường không: từ 1.022.073 khách (1999) tăng lên 1.540.108 khách năm 2002. Mỗi năm
tăng 11,47%. Thị phần tăng nhẹ qua các năm. Ngày lưu trú trung bình khoảng 7-8 ngày.
Mức chi tiêu trung bình khoảng 90-95USD/ngày/người. Sự đóng góp trong tổng thu nhập
rất lớn, năm 2002 chỉ chiếm 58,35% thị phần nhưng chiếm 87,7% tổng doanh thu.
+ Thị trường khách du lịch thương mại chiếm thị phần thấp nhất, nhưng đây lại là thị
trường có khả năng chi tiêu cao nhất, có khả năng đóng góp đáng kể cho tổng thu nhập toàn
ngành; đây cũng là thị trường có ý muốn quay trở lại Việt Nam .Tuy nhiên trong thời gian
qua thị trường này phát triển không ổn định, có chiều hướng suy giảm cả về số lượng lẫn
thị phần. Đối với thị trường này cần có những chính sách, những ưu đãi nhất định về đầu tư
để thu hút và hấp dẫn họ vào Việt Nam.
Thị trường khách du lịch hàng không là thị trường quan trọng nhất: Chiếm thị phần cao
nhất, có khả năng chi tiêu cao nhất, có ngày lưu trú dài nhất, đóng góp cho tổng thu toàn
ngành lớn nhất. Tuy nhiên, trong thời gian qua lại tăng trưởng chậm, mặc dù số lượng có
tăng lên nhưng thị phần có xu hướng giảm dần. Đây là một yếu tố không có lợi cho sự phát
triển của du lịch Việt Nam. Để thu hút được nhiều khách du lịch hàng không, cần có sự
phối hợp kinh doanh giữa hai ngành Du lịch và Hàng không. Khách du lịch đường bộ và
đường biển vào Việt Nam phát triển nhanh cả về số lượng, tốc độ tăng trưởng cũng như thị
phần. Tuy nhiên, đây là những thị trường có khả năng chi tiêu thấp, ngày lưu trú ngắn…
nên đóng góp cho tổng thu nhập của ngành còn hạn chế. Sự biến động của các thị trường
này ảnh hưởng rất nhỏ đến hiệu quả kinh doanh của ngành du lịch.
1.2. Sự phù hợp giữa các chương trình du lịch với nhu cầu thị trường:
Qua các thống kê của báo du lịch cho thấy, hầu hết các chương trình du lịch được đem ra
quảng cáo, bán hiện nay đều chưa đáp ứng được những nhu cầu cụ thể của du khách. Các
chương trình đó đơn thuần chỉ là những chương trình được tạo ra để trưng bày, để chào
mới. Thị trường khách nói chung chưa được xem xét, nghiên cứu một cách kỹ càng. Chính
vì vậy các chương trình du lịch được thiết kế chưa sát với nhu cầu thị trường. Dưới đây là
một số ý kiến của khách đi du lịch ở Việt nam:
* Một khách nước ngoài đi Tour xuyên việt 10 ngày do công ty Deithelm Travel Việt nam
tổ chức, ông nói rằng:
- Ông hài lòng về chất lượng và phong cách phục vụ
- Thời gian của chương trình quá ngắn
- Một số điểm như Hà nội, Hạ Long không đủ thời gian để tham quan và tìm hiểu
16
- Ông góp ý: với chương trình 10 ngày nên tạo những điểm nhấn quan trọng, không nên
Hầu hết các hoạt động lữ hành quốc tế của các doanh nghiệp là việc đón khách nước ngoài
vào Việt nam để du lịch, trước đây chủ yếu là du khách các nước gần kề hoặc có quan hệ
với Việt nam, đến nay Việt Nam đã đón được rất nhiều khách từ khắp các châu lục do Việt
nam mở rộng quảng bá về Du lịch.
Các doanh nghiệp quốc doanh kinh doanh du lịch quốc tế vẫn chiếm ưu thế, thu nhập tăng
đều mỗi năm vừa hoàn thành nộp ngân sách Nhà nước vừa tăng thu nhập cho nhân viên.
Ngoài ra, các doanh nghiệp này còn đầu tư vốn, mở rộng trang thiết bị, đào tạo chuyên sâu
nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng dịch vụ Tuy nhiên, so với tốc độ phát triển các
ngành khác, ngành du lịch quốc tế có phần tăng trưởng chậm hiệu quả kinh tế chưa cao, lợi
nhuận không ổn định, mặc dù chất lượng quản lý đã được cải thiện đáng kể nhưng vẫn chưa
đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp lữ hành quốc tế nước ngoài.
Trong nền kinh tế thị trường, ngành dịch vụ phát triển khá nhanh, đặc biệt là dịch vụ du
lịch. Đầu những năm 90, doanh nghiệp lữ hành mọc lên như nấm, một số công ty sản xuất
quốc doanh cũng tham gia kinh doanh lĩnh vực này. Một số công ty nhà nước đứng ra bảo
trợ cho một số công ty tư nhân mở văn phòng du lịch và được coi như một chi nhánh của
công ty. Các cửa hàng ăn uống, shop bán lưu niệm xuất hiện ngày càng nhiều, phần lớn là
để đáp ứng nhu cầu ngày một cao của người Việt Nam và khách nước ngoài.
17
Tuy nhiên, cho một mục tiêu lâu dài, sự quản lý không chặt chẽ sẽ gây ra những ảnh hưởng
không tốt cho hoạt động du lịch cả nước. Nhiều công ty nhỏ và văn phòng du lịch vì không
đủ kinh nghiệm mở rộng và khai thác thị trường, không đủ sức cạnh tranh với các công ty
chuyên môn lớn nên đã hạ giá thành kéo theo chất lượng dịch vụ kém, rút ngắn thời gian
thực hiện tour và gây ra một tâm lý mất tin tưởng ở du khách. Khi đến mùa du lịch, tình
trạng “chiến tranh giá cả” đã xảy ra, gây ra ảnh hưởng xấu cho uy tín của ngành Du lịch
Việt Nam và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của lữ hành quốc tế. Nhiều doanh nghiệp
Nhà nước bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp đã giúp các doanh nghiệp lữ hành nước ngoài
và doanh nghiệp tư nhân không được phép kinh doanh lữ hành quốc tế trốn thuế, thậm chí
một số văn phòng du lịch và thương mại nước ngoài không được phép kinh doanh du lịch
cũng tham gia kinh doanh.
Trong những năm qua, quản lý trong ngành du lịch chưa tốt và hoạt động du lịch cũng chưa
1996
1997
1998
1999
2000
Nguån: ViÖn NCPT Du
lÞch - 2001
Lao ®éng trong ngµnh du lÞch giai
®o¹n 1995 - 2000
Trong những năm gần đây, do sức cạnh tranh của thị trường, việc đào tạo và bồi dưỡng
nhân viên cho du lịch, đặc biệt là các công ty liên doanh đòi hỏi chất lượng cao. Do chiến
lược phát triển tổng thể của Tổng cục Du lịch Việt Nam nên nguồn nhân lực cho du lịch rất
dồi dào, tuy nhiên vẫn thiếu nhân viên có trình độ thực sự cao cấp. Nguồn nhân lực du lịch
ở trình độ cơ sở chiếm khoảng 85%. Đây cũng là một mặt kém sức hấp dẫn du khách nước
ngoài. Hầu hết các doanh nghiệp đào tạo nhân viên bằng cách thuê giáo viên du lịch giảng
dạy ngắn hạn, nên nhân viên thường thiếu kỹ năng phục vụ ở mức độ cao.
Hầu hết các công ty kinh doanh lữ hành thiếu những nhà quản lý tốt. Quản lý ở đây thường
do kinh nghiệm lâu năm được đề bạt, họ có kinh nghiệm, kiến thức thực tế nhưng thiếu
trình độ quản lý.
Một dự án nghiên cứu được tiến hành ở một số công ty du lịch lớn: Công ty Du lịch Hà nội,
Công ty dịch vụ và du lịch Hà nội, Công ty hướng dẫn và điều hành du lịch, Công ty Du
lịch Sài Gòn, công ty Thương mại và Du lịch Bến Thành cho thấy những người quản lý đã
qua đào đạo quản lý chuyên môn chỉ chiếm khoảng 20%, số còn lại được đào tạo qua các
trọng nghề nghiệp của họ. Vấn đề đặt ra cho ngành Du lịch Việt nam là làm thế nào để có
được nhiều hơn nữa những hướng dẫn viên chuyên tâm như vậy. Đó là một vấn đề không
đơn giản khi mà ngành Du lịch cũng chưa thâu tóm hết được những điểm mấu chốt, chưa
giải quyết được những ngổn ngang tồn đọng trong khi Du lịch vẫn cứ trên đà phát triển.
19
* Th trng khỏch quc t ch yu vo Vit Nam (n v: ngi)
Nm
Nc
2000 T l so
nm trc
(%)
2001 T l so
nm trc
(%)
2002 T l so
nm trc
(%)
PHP 86.492 100,5 99.700 115,2 111.546 111,9
ANH 56.355 128,5 64.673 114,7 69.682 107,7
C 32.058 147,6 39.096 122,0 46.327 118,5
C 68.162 108,1 84.085 123,3 96.624 114,9
M 208.642 99,2 230.470 109,5 259.967 112,8
TRUNG
QUC
626.476 129,4 672.846 107,4 724.385 107,7
I LOAN 212.370 122,1 200.061 94,2 211.072 105,5
HN QUC 53.452 123,4 75.167 140,6 105.060 139,8
NHT BN 152.755 134,6 204.860 134,4 279.967 136,6
SINGAPORE 39.100 107,8 32.110 82,12 35.261 109,8
Bỏo cỏo chớnh thc lng khỏch quc t n Vit Nam Tng cc Du lch Vit Nam
9.567
Thu nhập Du lịch
8.000
10.614
12.919
12.700
14.500
17.400
1995
1996
1997
1998
1999
2000
20
Hiện tại, hầu hết các tour lữ hành quốc tế bán ra là các tour theo kiểu truyền thống, chủ yếu
là các tour giải trí thư giãn. Các tour được thiết kế và phát triển dựa trên các yếu tố môi
trường, cơ sở hạ tầng, phương tiện đi lại làm việc và các quy phạm pháp luật. Hơn nữa, do
sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, tour thiết kế phải dựa trên nhu cầu và mong muốn của
du khách. Ngày nay du khách luôn chú ý tới vấn đề môi trường nên nhiều công ty đã có
những tour du lịch sinh thái đặc sắc.
Phần lớn các doanh nghiệp lữ hành quốc tế có quy mô trung bình và nhỏ, chủ yếu khai thác,
tiếp nhận khách và thiết kế tour cho người nước ngoài vào Việt nam, vì vậy các tour du lịch
của Việt nam thường không lớn và không có sức thuyết phục trên thị trường du lịch quốc
tế. Cũng vì vậy mà các sản phẩm du lịch của Việt nam cũng không được tiêu thụ nhiều ở
nước ngoài.
Tuy nhiên, nhờ có sự hợp tác với PATA, ASEAN và một số tổ chức có uy tín, Du lịch Việt
nam gần đây đã phát triển rất nhanh. Thiết kế tour chi tiết và hiệu quả hơn, tạo ra được các
tour đặc biệt như tour hồi ức cho các cựu chiến binh tham gia chiến tranh ở Việt nam, tour
bảo tồn di sản văn hoá Mỗi tour đều có nét đặc trưng riêng, nhưng nhược điểm của các
chuyên nghiệp. Số hướng dẫn không phải chuyên nghiệp thường không có trách nhiệm cao
đối với công ty và với công việc, không nhiệt tình và không chăm sóc khách đúng mức. Đó
là một thực trạng đáng buồn mà ngành Du lịch Việt nam cần khắc phục.
2.3 Mối quan hệ giữa kinh doanh lữ hành quốc tế với các nhà cung cấp dịch vụ liên quan:
21
* Hệ thống lưu trú: Những năm qua, do tốc độ tăng trưởng nhanh của Du lịch, Ngành Du
lịch Việt Nam đã nỗ lực đầu tư, nâng cấp và xây mới nhiều khách sạn, nhà nghỉ với các cấp
chất lượng khác nhau từ 1 đến 5 sao bằng nguồn vốn của Ngành hoặc liên doanh với các
công ty nước ngoài. Theo thống kê của Viện nghiên cứu phát triển Du lịch, năm 2002 cả
nước có 3.627 khách sạn và nhà nghỉ, trong đó có 1.940 khách sạn với 53.026 phòng. Số
phòng từ 1-5 sao là 850 phòng chiếm 45% tổng số khách sạn toàn ngành. Trong giai đoạn
từ 1995 - 1997 nhiều nhà khách, nhà nghỉ của tư nhân đã được xây dựng ồ ạt, vì lượng
khách tăng nhanh nên số khách sạn và lượng phòng cũng được sử dụng gần hết công suất.
Tuy nhiên đến năm 1997 - 1998, lượng khách du lịch giảm đáng kể dẫn đến tình trạng các
khách sạn lâm vào cảnh lao đao, các khách sạn lớn cũng chỉ sử dụng 46-65% số phòng, tỷ
lệ của các khách sạn nhỏ còn thấp hơn nhiều, nhiều khách sạn nhỏ đã không trụ nổi dẫn đến
phá sản. Thực trạng đó là do quá trình xây dựng ồ ạt không có kế hoạch, và do ảnh hưởng
khủng hoảng tài chính năm 1998 và nhiều nguyên nhân khác. Rút kinh nghiệm những năm
trước, hiện nay các cấp chính quyền và ngành Du lịch khuyến cáo các công ty lữ hành cũng
như các cơ sở tư nhân cần nghiên cứu kỹ tình hình trước khi đầu tư khách sạn một cách ồ
ạt.
* Hoạt động vận chuyển
Cùng với sự phát triển kinh tế đất nước, cơ sở hạ tầng, cũng như các phương tiện giao
thông được nâng cấp và làm mới, tăng nhanh cả về số lượng lần chất lượng. Năm 1995,
88% khách nước ngoài đến Việt nam chủ yếu bằng máy bay, đến nay các loại hình phương
tiện rất đa dạng: tàu biển, đường sắt Các công ty taxi, xích lô cho du lịch ngày càng nhiều
và mang tính chuyên nghiệp cao, sẵn sàng phục vụ du khách một cách nhanh và tiện lợi
nhất.
2.4 Mối quan hệ giữa hoạt động du lịch với các ngành kinh tế khác:
Du lịch là một ngành kinh tế xã hội thu hút hàng tỷ người tham gia và nó liên quan đến rất
vụ bảo hiểm tại Việt nam. Du khách quốc tế thường mua bảo hiểm chuyến đi tại nước họ
hoặc của các hãng lớn trên thế giới. Trong tương lai, nếu Nhà nước thu hút đầu tư mạnh về
bảo hiểm và chúng ta được khách nước ngoài quan tâm mua bảo hiểm tại Việt Nam thì đây
là một nguồn lợi rất lớn không những cho ngành Bảo hiểm, Du lịch mà còn có sức đóng
góp rất đáng kể cho nền kinh tế nước ta.
* Các ngành khác: Cùng với sự phát triển kinh tế, hầu hết các ngành nghề của Việt Nam đã
và đang vươn lên mạnh mẽ, đặc biệt là các ngành có liên quan đến du lịch như giao thông,
xây dựng, bưu chính viễn thông , tài chính ngân hàng, thủ công mỹ nghệ, may mặc, các
làng nghề truyền thống , thậm chí các vùng sâu, vùng xa, vùng núi và các nơi hoang sơ
cũng đang chuyển mình đứng dậy bởi sự ham muốn khám phá đất nước và con người Việt
Nam của du khách quốc tế. Trong tương lai, nếu chúng ta biết khai thác tốt các thế mạnh thì
du lịch Việt Nam sẽ lớn mạnh hơn rất nhiều, có thể so sánh với các nước trong khu vực,
kéo theo sự trưởng thành của rất nhiều ngành nghề liên quan khác bởi tiềm năng du lịch của
Việt nam là rất lớn.
2.5 Bài học kinh nghiệm và tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển du lịch quốc tế
* Bài học kinh nghiệm: Qua tham khảo kinh nghiệm của những người làm du lịch ở các
nước bạn láng giềng như Malaysia, Singapore và Thái Lan, ta thấy, ngoài rất nhiều các yếu
tố như cơ sở hạ tầng tốt, hệ thống quản lý tốt, chính sách hấp dẫn dẫn tới thành công của
họ, thì ta thấy có một kinh nghiệm khá độc đáo của họ, đó là suy nghĩ về 4 chữ “N” của
người làm du lịch: nghiệp vụ, ngoại ngữ, ngoại giao, ngoại hình. 4 “N” trên gọi là mẫu hình
người làm du lịch. Những ai đã, đang và sẽ trở thành người làm du lịch phải hội tụ được đủ
4 “N”, không ngừng phấn đấu theo 4 “N” đó. 4”N” này đều quan trọng và cần thiết như
nhau, bổ trợ cho nhau, hợp tác với nhau tạo nên mẫu hình chuẩn của người làm du lịch.
+ Nghiệp vụ: Ngành Du lịch hoạt động theo một dây chuyền công nghệ hết sức khoa học,
đồng bộ và liên quan chặt chẽ với nhau. Người làm dịch vụ trong Du lịch phải có trình độ
nghiệp vụ thông thạo, điêu luyện. Ví dụ: đối với hướng dẫn viên phải am hiểu về văn hoá,
lịch sử, địa lý, khéo léo sắp xếp các yêu cầu của khách một cách nhanh gọn; Đối với một
đầu bếp đòi hỏi không chỉ nấu ngon miệng mà còn phải ngon mắt.
+ Ngoại ngữ: Muốn nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu ngày một cao của khách
quốc tế, người làm du lịch không thể không biết ngoại ngữ. Ngoại ngữ là phương tiện hữu
Brunei:
“Nhận thức được tầm quan trọng chiến lược của ngành Du lịch đối với tăng trưởng kinh tế
bền vững của các nước thành viên ASEAN, cũng như sự đa dạng về văn hoá, kinh tế và các
lợi thế sẵn có của khu vực, có lợi cho sự phát triển du lịch của ASEAN nhằm cải thiện chất
lượng cuộc sống, hoà bình và thịnh vượng của khu vực; Nhận thức được vai trò quan trọng
của du lịch trong việc thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên ASEAN
cũng như tăng cường hiểu biết lẫn nhau và ổn định khu vực; Nhấn mạnh nhu cầu hợp tác về
tạo điều kiện đi lại giữa các nước trong khu vực thuận tiện và hiệu quả hơn, quyết tâm nâng
cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của dịch vụ du lịch ASEAN. Tại Hội nghị thượng đỉnh
ASEAN lần thứ 7, ngày 04 tháng 11 năm 2001, tại Brunei Darussalam, 10 nước thành viên
ASEAN: Nhà nước Brunei Darussalam, Vương quốc Campuchia, Cộng hoà Indonesia,
Cộng hoà DCND Lào, Malaysia, Liên bang Myanmar, Cộng hoà Philippines, Cộng hoà
Singapore, Vương quốc Thái Lan, Cộng hoà XHCN Việt Nam đã ký kết Hiệp định Du lịch
ASEAN với 12 điều khoản trong đó xác định các mục tiêu chung, tạo các điều kiện thuận
lợi cho du lịch, cách tiếp cận thị trường, phối hợp xúc tiến tiếp thị, hợp tác phát triển nguồn
nhân lực nhằm tạo ra một môi trường tiêu chuẩn chung cho phát triển du lịch bền vững
trong khu vực ” [8]
Đó là những cơ hội tốt và những thách thức không nhỏ cho Du lịch Việt Nam trên đà phát
triển và hoà nhập vào xu thế phát triển chung của khu vực và thế giới
2.6 Giới thiệu khái quát về các chương trình du lịch tại Việt nam
Việt nam có 3 vùng trọng điểm phát triển du lịch với nhiều cửa khẩu quốc tế, mà chủ yếu là
Hà nội và TP. Hồ Chí Minh. Chính vì vậy, hầu hết các chương trình du lịch của các công ty
được hình thành trên cơ sở kết hợp các chương trình du lịch của 3 vùng du lịch trọng điểm:
Hà Nội - Quảng Ninh - Hải Phòng
Huế - Đà Nẵng
TP. Hồ Chí Minh - Biên Hoà - Vũng Tàu
Đồng thời các chương trình du lịch này hoặc được bắt đầu, hoặc kết thúc tại Hà Nội hay
TP. Hồ Chí Minh.
Dưới đây là một số chương trình du lịch theo các miền Bắc, Trung, Nam và khả năng liên
kết các điểm du lịch với nhau.
Tam Cốc - Bích Động - Địch Lộng
Cố đô Hoa Lư
Vườn quốc gia Cúc Phương
Nhà thờ đá Phát Diệm
* Sa pa: điểm du lịch hấp dẫn đối với khách quốc tế với những nét đặc sắc:
Tìm hiểu phong tục tập quán sinh hoạt của các nhóm dân tộc thiểu số như: H.mông, Dao -
tiêu biểu là Chợ tình Sapa vào tối thứ 7 hàng tuần.
Cảnh quan tự nhiên, nhân tạo: Thác Bạc, Cầu Mây, Núi Hàm Rồng, ruộng bậc thang.
Đỉnh Fansipan cao nhất Việt Nam
* Hoà Bình: cách Hà nội khoảng 80km, giao thông đi lại khá thuận tiện, một số cảnh quan,
điểm du lịch được khai thác:
Cảnh quan thiên nhiên
Khu vực nhà máy thuỷ điện
Đời sống văn hoá các dân tộc thiểu số: Thái - Mường
Bên cạnh các công trình tham quan 1, 2 ngày, Hoà Bình còn có các chương trình du lịch
khám phá dài 5-6 ngày, nối Sapa trong một chương trình du lịch tìm hiểu về các dân tộc
thiểu số.
* Các điểm tham quan khác: Nhìn chung, các điểm du lịch miền Bắc tương đối đa dạng
phong phú, chúng đều có những nét đặc trưng hấp dẫn riêng. Ta có gộp lại thành các nhóm
sau:
Những khu di tích lịch sử gồm: hàng Pắc Pó (Cao Bằng), Điện Biên Phủ (Lai Châu), quê
hương Bác Hồ (Nghệ An), Đền Hùng (Phú Thọ), Thành nhà Hồ (Thanh Hoá).
Điểm du lịch biển: Đồ Sơn (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hoá), Cửa Lò (Nghệ An).
25