TIỂU LUẬN: “CƠ CHẾ KẾ HOẠCH HÓA TẬP TRUNG Ở VIỆT NAM THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI MỚI” potx - Pdf 15

TRƯỜNG ĐẠI HỌC

ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM TIỂU LUẬN:

“CƠ CHẾ KẾ HOẠCH HÓA TẬP TRUNG Ở VIỆT
NAM THỜI KỲ TRƢỚC ĐỔI MỚI” GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: Huế, ngày 10 tháng 04 năm 2012

Hay nói ngắn gọn, đó là toàn bộ hệ thống pháp quy, gồm những hình thức, cách
thức và phương tiện mà nhà nước sử dụng để quản lí và điều hành nền kinh tế.

II.Cơ chế kế hoạch hóa tập trung ở Việt Nam trước Đổi mới:
1. Khái niệm:
Sau chiến thắng ở miền Bắc, dựa vào xu thế khách quan và yêu cầu cấp bách
xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật phục vụ cho giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ
quốc, Đảng quyết định đưa miền Bắc tiến lên theo định hướng XHCN.
Nhà nước mới XHCN được xây dựng theo quan niệm lúc bấy giờ: cơ chế
quản lí kinh tế là cơ chế kế hoạch hóa tập trung.
Cơ chế kế hoạch hóa tập trung (bàn tay hữu hình hay cơ chế mệnh lệnh): là
cơ chế trong đó nền kinh tế vận động dưới sự kiểm soát của Nhà nước về các yếu tố
sản xuất cũng như phân phối về thu nhập. Nhà nước can thiệp sâu vào các hoạt
động của nền kinh tế, không coi trọng các quy luật thị trường.
* Đặc trưng ở 2 tiêu chí:
- Chế độ sở hữu:
Chế độ sở hữu toàn dân và tập thể về tư liệu sản xuất đóng vai trò chính của
mô hình phát triển: chỉ thừa nhận sở hữu toàn dân, điều tiết theo cơ chế kế hoạch
hóa, tập trung tất cả mọi vai trò vào tay Nhà nước.
Chỉ có một nền kinh tế quốc doanh hoàn toàn, kinh tế Nhà nước và kinh tế
tập thể giữ vai trò chủ đạo, các thành phần kinh tế khác hầu như không được chú
trọng.
Các đơn vị kinh tế chủ yếu: công ty nhà nước, xí nghiệp và hợp tác xã.
- Chế độ phân phối:
Phân phối trên nền tảng kế hoạch do Nhà nước xây dựng, triển khai, điều
phối chứ không phân phối theo các quy luật kinh tế thị trường cơ bản như quy luật
giá trị, quy luật cung- cầu…
- Nhà nước tính toán “số liệu kiểm tra” rồi phân bổ chỉ tiêu cho các bộ,
ngành, tỉnh. Sau đó, số liệu được chuyển xuống các cấp thấp hơn là các
cục, vụ, xí nghiệp,…

trung trong tay 3 loại quyền là:
Quyền quản lý nhà nước về hành chính kinh tế: không chịu trách nhiệm về
vật chất và pháp lý đối với các quyết định của mình.
Quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với các doanh nghiệp: doanh nghiệp
không bị ràng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh.
Quyền điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp:
doanh nghiệp không có quyền tự chủ sản xuất kinh doanh.
 Điều này dẫn đến tệ nạn quan liêu, cửa quyền của nhà nước và tính thụ động, ỷ
lại, nạn hối lộ, móc ngoặc của các đơn vị kinh tế.
- Hình thức quản lý: quan hệ hàng hóa- tiền tệ bị coi nhẹ, chủ yếu là nền
kinh tế hiện vật thông qua chế độ “cấp phát- giao nộp” bằng hiện vật các nguyên
liệu đầu vào và các sản phẩm đầu ra.
- Bộ máy quản lý: cồng kềnh, nhiều cấp trung gian, kém năng động với đội
ngũ quản lý kém năng lực, phong cách cửa quyền, quan liêu nhưng được hưởng
quyền lợi cao hơn người lao động.

* Chế độ bao cấp được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu:
Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng
hóa thấp hơn giá trị trên thị trường do đó hạch toán kinh tế chỉ là hình thức.
Bao cấp qua chế độ tem phiếu: Nhà nước quy định chế độ phân phối vật
phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên theo định mức qua hình thức tem phiếu,
thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao
động.
Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách nhưng không có chế tài
ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị cấp vốn; nó làm tăng gánh nặng
ngân sách, sử dụng vốn kém hiệu quả.

Những đặc trưng và hình thức thực hiện cơ chế kế hoạch hóa trên làm nảy
sinh cơ chế “xin- cho” về hành chính. Làm xuất hiện những mặt tiêu cực như:
- Quan hệ bất bình đẳng giữa nhà nước và công dân: quan hệ cai trị.

Trong những năm đầu áp dụng cơ chế này ở miền Bắc, tuy những kết quả đạt
được còn thấp so với yêu cầu đề ra nhưng cơ bản đã khôi phục kinh tế, hàn gắn vết
thương chiến tranh, ổn định sản xuất và đời sống.
- Khoảng 76.6% các hợp tác xã được đưa lên bậc cao và hợp
nhất các hợp tác xã qui mô lớn hơn, tổng thu bình quân trên một ha canh tác
tăng 43,7%, cuối năm 1965 có 162 xã gần 700 hợp tác xã đạt và vượt năng
suất 5 tấn thóc trên 1 ha cả năm, lương thực bình quân đầu người đạt
15kg/tháng; đời sống xã viên có tăng, thu nhập của người lao động từ kinh tế
tập thể tăng khá, thu nhập bình quân của nông dân tăng 24%.
- Cơ sở vật chất- kỹ thuật trong nông nghiệp tăng đáng kể: vốn
đầu tư xây dựng cơ bản tăng 4,9 lần, điện cấp tăng 9 lần, số máy kéo tiêu
chuẩn tăng 11 lần so với thời kì 1958-1960, vốn bình quân cho 1 ha canh tác
tăng 2,1 lần, hệ thống các công trình thủy lợi, sửa chữa cơ khí, sân phơi,
chuồng trại… của hợp tác xã liên tục tăng.
- Phát triển công nghiệp có những thành tích đáng chú ý là công
nghiệp quốc doanh phát triển mạnh mẽ và được đánh giá là phát huy tác
dụng là lực lượng lãnh đạo nền kinh tế quốc dân phát triển có kế hoạch. Đầu
năm 1965 có 1.045 xí nghiệp, trong đó có 250 xí nghiệp lớn do Trung ương
quản lí. Một số cơ sở đầu tiên, quan trọng, quy mô tương đối lớn, kỹ thuật
hiện đại thuộc các ngành công nghiệp nặng như cơ khí, luyện kim, hóa chất
được xây dựng và đi vào sản xuất. Ngành công nghiệp nhẹ phát triển khá
nhanh, mạng lưới công nghiệp địa phương phát triển khá. Năm 1965, miền
Bắc đảm bảo được 90% về mặt hàng tiêu dùng và một phần tư liệu sản xuất.
- Văn hóa, y tế, giáo dục có những bước tiến đáng kể. Trình độ
văn hóa, khoa học kỹ thuật của cán bộ và nhân dân được nâng lên rõ rệt, số
học sinh phổ thông tăng 3,5 lần; học sinh đại học và trung học tăng 25 lần.
Công tác vệ sinh phòng bệnh, bảo vệ sức khỏe phát triển: số y, bác sĩ và
dược sĩ năm 1965 tăng 5 lần so với năm 1960, 70% huyện có bệnh viện, 90%
xã ở đồng bằng và 78% xã miền núi có trạm y tế.
- Kết cấu giai cấp và quan hệ xã hội có nhiều thay đổi. Giai cấp

để Đảng tập hợp sức mạnh toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Xã hội: xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật ban đầu quan trọng
cho nền kinh tế quốc dân. Giáo dục, y tế, văn hóa phát triển. Đội ngũ cán bộ
được đào tạo tăng nhiều lần, mạng lưới y tế được mở rộng, hoạt động văn
hóa nghệ thuật phát triển, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân
dân, xây dựng con người mới.

Những thành tựu nêu trên còn thấp so với những mục tiêu của CNXH,nhưng
đặt vào hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ thì những thành tựu đó có giá trị thật lớn lao.
Theo đó, với khí thế của người chiến thắng, Đảng tiếp tục áp dụng và đẩy nhanh
quá trình đi lên CNXH trên phạm vi cả nước với những đường lối, mục tiêu lớn: xây
dựng chế độ làm chủ tập thể và sản xuất lớn được nêu trong Đại hội IV (12/1976)
“nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao
động… đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá
độ lên CNXH, xây dựng chế độ làm chủ tập thể…” , “ưu tiên phát triển công nghiệp
nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, xây
dựng cơ cấu công- nông nghiệp kết hợp, vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát
triển kinh tế địa phương…”.

Trong thời gian này, tuy cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã đem lại một số
thành tựu đáng chú ý: cơ bản hoàn thành công cuộc khôi phục kinh tế, bước đầu
bình ổn sản xuất và đời sống, mang lại cho nhân dân cuộc sống tự do, quyền làm
chủ xã hội cùng với những cải thiện đáng kể trong đời sống vật chất và tinh thần
nhưng thực tế cuộc sống trước Đổi mới đã chứng minh rằng trong nền kinh tế mang
đậm bản sắc nông dân- nông nghiệp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, mô hình
phát triển gắn với cơ chế kế hoạch hoá tập trung có những khiếm khuyết lớn trong
việc giải quyết các nhiệm vụ phát triển, nhất là trong lĩnh vực kinh tế.

Ít lâu sau Đại hội IV của Đảng nền kinh tế có chiều hướng đi xuống, đời
sống nhân dân ngày một khó khăn và từ cuối những năm 1970 nước ta lâm vào cuộc

1,576 triệu tấn lương thực. Ngân sách thiếu hụt lớn, giá cả tăng hàng năm 20 %,
nhập khẩu nhiều gấp 4-5 lần xuất khẩu. Nhà nước thiếu vốn đầu tư cho nền kinh tế,
nhiều công trình phải bỏ dở, hàng tiêu dùng thiết yếu thiếu trầm trọng, tốc độ tăng
bình quân về phát triển sản xuất công nghiệp là 0,6%.

Trước tình hình khó khăn và trì trệ của sản xuất, nhiều quyết dịnh được thực
hiện nhằm tháo gỡ và thoát khỏi trì trệ. Cuối năm 1970 ở một số địa phương đã xuất
hiện “khoán chui”. Nhiều điểm mới trong quản lí được thực hiện. Ngày 21/1/1981,
ban hành quyết định 26 CP về việc mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản
phẩm và vận dụng hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất, kinh doanh của
Nhà nước.
Nghị quyết 26 NQ/TW nhấn mạnh nguyên tắc giá cả phải phù hợp với chi
phí sản xuất và lưu thông, tích cực tiến tới xóa bỏ tem phiếu.
Hai cuộc thử nghiệm quan trọng được tiến hành:
- Áp dụng chế độ khoán sản phẩm nhóm và người lao động
trong hợp tác xã nông nghiệp (chỉ thị số 100 CT/TW).
- Triển khai chế độ "kế hoạch 3 phần " ở các xí nghiệp công
nghiệp quốc doanh (quyết định 25/CP ngày 21/1/1981).

Phong trào lan rộng ra khắp nền kinh tế và đã nhanh chóng đưa lại những
thành tựu nổi bật, trước hết là trên mặt trận nông nghiệp. Nông nghiệp phát triển
khá, bình quân mỗi năm tăng 4,9% so với 1,9% bình quân những năm 1976-1980.
Sản lượng lương thực tăng đều trong 5 năm từ 15 triệu tấn 1981 lên 18,2 triệu tấn
năm 1985. năng suất lúa tăng 23,8%, cây công nghiệp tăng 62,1%. Bình quân lương
thực từ 273 kg/đầu người một năm (1981) lên 304 kg năm 1985. Nhà nước huy
động lương thực tăng gấp đôi.
Tốc độ bình quân hàng năm của công nghiệp trong các năm 1981-1985 là
9,5%.
Nhà nước Việt nam đã phải quyết định tiến hành một cuộc tổng điều chỉnh
Giá - Lương - Tiền với các mục đích: Điều chỉnh sức mua của đồng tiền, điều tiết

vụ nhu cầu trả lương, thu mua nguồn hàng và trang trải bội chi ngân sách Nhà nước.
Chỉ trong vòng hơn ba tháng kể từ sau ngày đổi tiền, Ngân hàng đã phải phát hành
thêm một khối lượng gấp 1,38 lần tổng giá trị tiền mới phát hành cho cuộc đổi tiền
trước đó. Nhu cầu chi tiêu sau đó lại tiếp tục gia tăng, tiền phát ra thì nhiều, quay về
NHTW thì ít mà phần lớn số tiền tín dụng không quay về đã bị "tài chính hoá".
Chênh lệch giữa thu và chi tài chính, giữa hàng và tiền, giữa xuất khẩu và
nhập khẩu còn lớn, thị trường và giá cả không ổn định. Giá thị trường tăng nhanh (
năm 1980, giá bán lẻ trên thị trường xã hội tăng 189,5% so với năm 1976; năm
1981 tăng lên 313,7%; năm 1985 tăng trên 300% so với 1984), lạm phát phi mã
trong 3 năm 1986-1988 (đỉnh cao là năm 1986 lên tới 774,7% do những tác động trễ
của nhiều nhân tố từ 10 năm sau chiến tranh dồn lại). Nền kinh tế quốc dân mất cân
đối ngày càng nghiêm trọng.

Giáo dục: chưa được quan tâm đúng mức. Trong thời gian đầu hầu như
không học hành, dạy dỗ chuyên môn. Chủ yếu tập hợp lao động, nghe giảng chính
trị, tố cáo tội ác của “Mỹ - Ngụy”,… Sau này cuộc sống còn thiếu thốn khiến cho
giáo viên cũng như học sinh cũng không nhiệt tâm lắm. Sách vở thiếu, dụng cụ cũ
kỹ, học chay nhiều hơn thực hành. Hệ thống giáo dục chưa phát triển, học chỉ mang
tính hình thức.

Lưu thông phân phối: lưu thông chưa thông suốt, phân phối không hợp lí,
tùy tiện, còn nhiều vấn đề chưa giải quyết được. Trên lý thuyết thì hàng lương thực
và nhu yếu phẩm được phân phối theo kế hoạch nhưng hoàn toàn không có kế
hoạch gì cả, “có gì bán nấy”, theo kiểu ban phát. Hàng hóa được nhà nước phân
phối theo chế độ tem phiếu, hàng hóa không được mua bán tự do trên thị trường,
không được phép vận chuyển tự do hàng hoá từ địa phương này sang địa phương
khác.

Đời sống xã hội: đời sống nhân dân sa sút chưa từng thấy. Nhất là công nhân
viên chức, các vùng sâu, vùng xa, vùng gặp thiên tai còn gặp nhiều khó khăn, thiếu
thốn. Nhiều người lao động chưa có hoặc chưa đủ việc làm. Nhiều nhu cầu tối thiểu
của nhân dân về đời sống vật chất và văn hoá chưa được bảo đảm. Ở thành thị,
lương tháng của công nhân, viên chức chỉ đủ sống 10 – 15 ngày. Ở nông thôn, vào
lúc giáp hạt có tới hàng triệu gia đình nông dân thiếu ăn.

Hiện tượng tiêu cực trong xã hội: chưa được ngăn chặn, thậm chí còn phát
triển. Công bằng xã hội bị vi phạm. Pháp luật, kỉ cương không nghiêm. Những hành
vi cửa quyền, tham ô, "móc ngoặc" của một số cán bộ và nhân viên nhà nước,
những hoạt động làm ăn phi pháp… chưa bị xử lí kịp thời và nghiêm khắc.

Nhìn tổng quát, với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nền kinh tế Việt Nam vận
động thiếu năng động và kém hiệu quả. Những mất cân đối và nguy cơ bất ổn định
tiềm tàng trong đời sống kinh tế - xã hội bị tích nén lại. Tình trạng thiếu hụt kinh
niên làm gia tăng các căng thẳng trong đời sống xã hội.Tiêu cực xã hội lan rộng.
Lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của các cơ
quan Nhà nước giảm sút. Làn sóng người vượt biên ồ ạt, đặc biệt trong giới công
chức chính quyền cũ, nhà buôn, các trí thức.
Chính việc thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp cùng
với những kết quả tiêu cực trên đã làm cho tình hình kinh tế của Đất nước rơi vào trì
trệ, khủng hoảng nghiêm trọng; cuộc sống nhân dân thực sự bi thảm. Để rồi mỗi khi
nhắc tới giai đoạn 1975-1986 người ta đều nhớ tới nó như một giai đoạn thất bại và
tù đọng nhất Việt Nam qua cái tên “thời bao cấp”.

4. Nguyên nhân gây nên sự thất bại của cơ chế kế hoạch hóa tập trung:

Đảng và nhà nước ta đã thực hiên cơ chế kinh tế kế hoạch hóa từ năm 1954–
1986.
Hiện nay, mô hình XHCN của Liên Xô được gọi là mô hình “quan liêu, bao

nặng tính duy ý chí. Chế độ công hữu XHCN về tư liệu sản xuất, sự điều khiển toàn
bộ nền kinh tế theo một kế hoạch tập trung, thống nhất, được qui định từ trên xuống
một cách chủ quan có thể là những cơ chế quản lí không sai trong một hoàn cảnh
lịch sử cụ thể (thành công trong hoàn cảnh chiến tranh ở miền Bắc). Tuy nhiên, khi
nó được vận dụng một cách máy móc, tuyệt đối hóa trong hoàn cảnh thời bình ở
miền Nam thì bắt đầu trở thành chướng ngại cho sự phát triển. Đó là sự nghi kỵ và
phủ nhận những thành quả của khoa học quản lý mà loài người đã đạt được trong
thế giới đương đại, là cách thức áp đặt những quyền uy trong việc xác nhận chân
lý…
– Hệ thống bất cập của các kênh truyền dẫn thông tin từ thực tiễn tới tư
duy và từ tư duy tới chính sách: khép kín, chậm chạp, nghèo nàn và méo mó. Ý kiến
người dân, những cuộc điều tra thăm dò khách quan, vai trò của báo chí, vai trò của
Quốc Hội, các cơ quan nghiên cứu độc lập… không có điều kiện để phát huy hết
hiệu quả, mang nặng tính hình thức hơn là những công cụ hữu hiệu của xã hội. Sự
méo mó cộng với quyền uy chính là cơ bản dẫn tới những sai lầm mang nặng tính
chủ quan, duy ý chí.
– Vai trò của tƣ duy kinh tế: của các nhóm chuyên gia rường cột bị suy yếu,
thậm chí bị tê liệt. Đó là yếu tố quan trọng tạo ra sức mạnh kinh tế của một quốc
gia, nhưng ở đây tư duy kinh tế lại mang nặng chức năng thực hiện thụ động những
thực đơn có sẵn, là người thể hiện cho tư duy của những nhà lãnh đạo.
Một cơ chế có nhiều khiếm khuyết nhưng vẫn tồn tại, vẫn được sử dụng
trong một thời gian dài như vậy (từ khoảng 1960 đến 1986) vì nhiều nguyên nhân
cả khách quan lẫn chủ quan.
Khách quan:
Do mối quan hệ cũng như sự ảnh hưởng lớn của Liên Xô.
Do sau khi giải phóng, miền Bắc vẫn chưa thực sự hòa bình, các cuộc chiến
tranh biên giới Tây Nam, phía Bắc vẫn tiếp diễn  gây ra những đảo lộn và khó
khăn. Do miền Nam tuy giải phóng nhưng chủ yếu lo xóa bỏ “tàn dư chế độ cũ” nên
cơ chế này vẫn được sử dụng.
Do trong chiến tranh, những khuyết tật của cơ chế chưa bộc lộ hết.

mới tư duy phát triển, đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế theo một phương thức
mới. Chúng ta cần một tư duy mới, cơ chế mới, tri thức mới và một kiểu dũng cảm
mới. Sự dũng cảm chấp nhận sự thật, đánh giá đúng sự thật và tìm ra những giải
pháp xử lý tận gốc những sự thật bất cập đang hoành hành lúc đó. Mặt khác, nó tạo
ra các cơ hội và điều kiện để sự thay đổi đó diễn ra thuận lợi.

Kết quả là trong kỳ Đại hội Đảng lần thứ VI vào cuối năm 1986, Đảng tuyên
bố chủ trương Đổi mới, đề cập sự cần thiết và cấp bách của việc đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế “Việc bố trí lại cơ cấu kinh tế phải đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế. Cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp từ nhiều năm nay không tạo
được động lực phát triển, làm suy yếu kinh tế XHCN, hạn chế việc sử dụng và cải
tạo các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng,
hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông, và đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu
cực trong xã hội". Cuối năm 1986 trở đi, nền kinh tế nước ta đã dần thoát ra được
cuộc khủng hoảng. Chế độ bao cấp từng bước được xóa bỏ, chấm dứt thời kì ảm
đạm, cay đắng trong lịch sử phát triển kinh tế Việt Nam.
C. Kết luận:

Bài tiểu luận đã giúp chúng ta hiểu về những khái niệm, đặc trưng và hình
thức thể hiện của cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Hiểu những đóng góp to lớn của nó
trong công cuộc khôi phục kinh tế sau chiến tranh, việc tập trung sức người sức của
cho bộ máy quân sự nhằm đảm bảo thành công của cách mạng giải phóng Đất nước.
Hiểu về cuộc sống khó khăn của nhân dân dưới thời bao cấp, sự giảm sút ngày càng
nhanh chóng của nền kinh tế, khủng hoảng trầm trọng và những chính sách, quyết
định của Nhà nước, của Đảng trong nỗ lực thay đổi tình hình hiện tại. Tuy có nhiều
khuyết tật, gây ra những hệ lụy to lớn, đẩy nước ta vào khủng hoảng nghiêm
trọng… nhưng việc áp dụng nó trong thời kỳ đó là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với
xu thế thế giới cũng như là tất yếu khách quan trên lịch sử phát triển kinh tế, chính
trị Việt Nam. Sai lầm có chăng là do chúng ta tiếp nhận một cách máy móc, lệch lạc
và không sớm nhận ra những khuyết điểm, sữa chửa kịp thời.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status