Tiểu Luận
Thương mại
điện tử
1
Giới Thiệu
Trong những năm qua, Thương mại điện tử (TMĐT) đã dần dần khẳng
định được vai trò của mình trong việc trao đổi thông tin, giao dịch mua bán
qua mạng. Vào Việt Nam từ kể từ năm 1998 đến nay, tốc độ phát triển
Internet tăng trưởng rất nhanh. Tính đến tháng 11 năm 2009 số người sử
dụng internet đã là 22.479.065 người, chiếm 26.2% dân số. Vâng đi kèm
theo sự phát triển của thương mại điện tử thì nhu cầu về quảng cáo trên
internet(E-Marketing) của các doanh nghiệp cũng tăng cao bởi lợi ích của nó
mang lại là rất lớn. Nhóm G7 đã tìm kiếm và thu thập thông tin để mang lại
cho các bạn một cách nhìn tổng quát về E-Marketing.
Bài tiểu luận của nhóm còn có những thiếu xót rất mong cô và các bạn
đóng góp ý kiến để bài được hoàn thiện hơn.
2
Mục Lục
Trang
Giới thiệu …………………………………………………………… 1
Mục lục 2
Nhận xét của giáo viên 3
I.Một số khái niệm cơ bản về E-Marketing 4
II.Các hình thức E-marketing chủ yếu, quảng bá website
và lợi ích từ E-Marketing, đối thủ cạnh tranh 8
III.Thực trạng E-marketing tại Việt Nam 16
3
I. Một số khái niệm cơ bản về E-Marketing ( marketing trên
mạng internet)
1. E-marketing là gì?
Tiếp thị điện tử (e-marketing) là cách thức tiếp thị vận dụng các tính
năng của Internet nhằm mục đích cuối cùng là phân phối được sản phẩm
hàng hóa hay dịch vụ đến thị trường tiêu thụ.
Các quy tắc cơ bản của tiếp thị điện tử cũng giống như tiếp thị trong môi
trường kinh doanh truyền thống. Hoạt động tiếp thị vẫn theo trình tự: Sản
phẩm – Giá thành - Xúc tiến thương mại - Thị trường tiêu thụ.
2. Phân biệt e-marketing, e-commerce và e-business
• E-marketing là cách thức dùng các phương tiện điện tử để giới thiệu,
mời chào, cung cấp thông tin về sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ của
nhà sản xuất đến người tiêu dùng và thuyết phục họ chọn nó.
• E-commerce chỉ các hoạt động mua bán thông qua các phương tiện
điện tử.
• E-business chỉ tất cả những hoạt động kiếm tiền từ mạng, từ việc bán
hàng hoá, dịch vụ cho đến tư vấn, đầu tư.
3. Những điểm khác biệt so với marketing truyền thống.
Marketing điện tử khác với marketing truyền thống ở hai điểm chính đó là:
môi trường kinh doanh và phương tiện thực hiện. Đối với môi trường kinh
doanh, marketing điện tử tập trung vào các hoạt động marketing trong môi
trường Internet và web. Đến nay marketing điện tử có thể mở rộng môi
trường ra các mạng viến thông khác như mạng thông tin di động nhờ sự hội
điện tử trong việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện
điện tử, nhất là qua Internet và các mạng liên thông khác.
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), "Thương mại điện tử bao
gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua
bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu
hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua
mạng Internet".
6
Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á -
Thái Bình Dương (APEC), "Thương mại điện tử là công việc kinh doanh
được tiến hành thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật
số".
Hiểu theo nghĩa rộng
Thương mại điện tử hiểu theo nghĩa rộng là các giao dịch tài chính và
thương mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử, chuyển
tiền điện tử và các hoạt động như gửi/rút tiền bằng thẻ tín dụng.
Theo quan điểm này, có hai định nghĩa khái quát được đầy đủ nhất phạm
vi hoạt động của Thương mại điện tử:
Luật mẫu về Thương mại điện tử của Ủy ban Liên hợp quốc về Luật
Thương mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa: "Thuật ngữ thương mại
[commerce] cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát
sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp
đồng. Các quan hệ mang tính thương mại commercial bao gồm, nhưng
không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp
hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại
lý thương mại, ủy thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây
dựng các công trình; tư vấn, kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp
vốn, ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng, liên doanh
và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng
hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường
trên World Wide Web. Được định nghĩa như là một ứng dụng đơn giản của
SGML, vốn được sử dụng trong các tổ chức cần đến các yêu cầu xuất bản
phức tạp, HTML giờ đây đã trở thành một chuẩn Internet do tổ chức World
Wide Web Consortium (W3C) duy trì. Phiên bản mới nhất của nó hiện là
HTML 4.01. Tuy nhiên, HTML hiện không còn được phát triển tiếp. Người
ta đã thay thế nó bằng XHTML.
Web Programming Language là gì?
Web Programming Language (Ngôn ngữ lập trình Web): Ngôn ngữ được
viết theo phong cách lập trình (khác so với HTML - ngôn ngữ đánh dấu) để
hỗ trợ và tăng cường các khả năng của Web. Cho phép điều khiển các phần
tử của trang Web dễ dàng hơn.
Chúng ta có một số ngôn ngữ lập trình Web như là: ASP, ASP.Net,
PHP, JSP
8
Web Server là gì?
Web Server (máy phục vụ Web): máy tính mà trên đó cài đặt phần mềm
phục vụ Web, đôi khi người ta cũng gọi chính phần mềm đó là Web Server.
Tất cả các Web Server đều hiểu và chạy được các file *.htm và *.html,
tuy nhiên mỗi Web Server lại phục vụ một số kiểu file chuyên biệt chẳng
hạn như IIS của Microsoft dành cho *.asp, *.aspx ; Apache dành cho
*.php ; Sun Java System Web Server của SUN dành cho *.jsp
Database Server là gì?
Database server (máy phục vụ Cơ sở dữ liệu): Máy tính mà trên đó có cài
đặt phần mềm Hệ quản trị Cơ sở dữ liệu (HQTCSDL). Chúng ta có một số
HQTCSDL chẳng hạn như: SQL Server, MySQL, Oracle
II. Các hình thức E-marketing chủ yếu, quảng bá website và lợi ích
từ E-Marketing, đối thủ cạnh tranh.
2.1Các hình thức E-marketing chủ yếu.
Pop-up: Quảng cáo xuất hiện dưới dạng một cửa sổ mới trước, trong,
hoặc sau khi người dùng mở một trang web.
kết quả mang lại.
a. Mục đích: Thu lại hình ảnh thương hiệu, xâm chiếm tâm trí khách
hàng.
• Vận dụng: Banner, Pop-up, Pop-under, Email…
• Đánh giá kết quả mang lại: Độ bao phủ của hình ảnh thương
hiệu, mật độ xuất hiện của hình ảnh thương hiệu trên các phương
tiện…
b. Mục đích: Mục tiêu là lượng truy cập, kéo khách hàng tiềm năng
vào website.
• Vận dụng: Link back, text link, bài viết PR, diễn đàn…
• Đánh giá kết quả mang lại: Số lượng khách truy cập website, số
lượng khách hàng liên hệ…
10
Tùy theo ngân sách và mục đich muốn đạt để sử dụng các hình thức E-
Marketing cho phù hợp.
2.3 Các hình thức quảng bá website của mình.
2.3.1. Tổ chức event.
Tổ chức các cuộc thi chạy marathon quyên góp quỹ từ thiện:
Cuộc thi có sự tham gia của tất cả các nhân viên của công ty mình và
công ty bạn được mời tham dự. Các vận động viên sẽ chạy quanh các con
đường trong thành phố và mặc đồng phục , đội nón phớt, trên nón có ghi địa
chỉ website của công ty và slogan của công ty.
_Tham gia tài trợ các cuộc thi, các game show trên đài truyền hình.
_Tham gia các hoạt động phát học bổng cho sinh viên học sinh.
_Tham gia các hội chợ triển lãm về công nghệ thông tin trên cả nước và
thuê các PG xinh đẹp mang trên người slogan và thông điệp của công ty.
11
2.3.2 Đưa Website lên công cụ tìm kiếm.
Để tìm địa chỉ web trên Internet, người ta thường sử dụng công cụ tìm
kiếm. Lẽ đương nhiên ai cũng muốn trang web của mình lọt vào những trang
vai trò của một doanh nghiệp mà còn phải sắm vai khách truy cập đang tìm
kiếm sản phẩm của bạn. Bạn cũng có thể tham khảo bạn bè, người thân vì
những người ngoài cuộc thường lại sáng suốt hơn, hoặc bạn cũng có thể
nghiên cứu cách xây dựng từ khóa từ những công ty hoạt động tương tự như
mình.
Hãy liệt kê tất cả các phương án từ khóa mà khách hàng có thể sử dụng
để tìm kiếm sản phẩm, không chỉ bao gồm những từ ngắn gọn, chung chung
mà cả những cụm từ chi tiết. Nhiều doanh nghiệp khôn ngoan thậm chí còn
sử dụng cả những từ sai chính tả thường gặp và các từ ở cả hình thức số ít
lẫn số nhiều.
Đăng ký vào các công cụ tìm kiếm
Việc sử dụng các phần mềm để đăng ký tự động vào hàng loạt công cụ
tìm kiếm thường ít khi mang lại hiệu quả mong đợi. Mỗi công cụ tìm kiếm
có một tiêu chí xếp hạng khác nhau, do đó tốt hơn cả là bạn nên đăng ký thủ
công.
Nhiều doanh nghiệp do sợ áp lực cạnh tranh ở những công cụ tìm kiếm
lớn nên đã đăng ký vào những công cụ tìm kiếm ít tên tuổi. Trên thực tế, với
phương pháp này bạn chẳng kiếm được bao nhiêu lượt truy cập mà có khi
còn bị tống hàng trăm thư rác mỗi ngày. Chính vì vậy, đăng ký vào các công
cụ tìm kiếm lớn vẫn là phương án được ưa chuộng. Hiện tại có hàng nghìn
13
công cụ tìm kiếm khác nhau trên mạng, nhưng thông dụng nhất hiện nay là
Google, Yahoo, Excite, Alta Vista, MSN, Fast, AOL, HotBot, iWon.
Một điểm nữa cần lưu ý là chỉ nên đăng ký vào công cụ tìm kiếm khi
website đã hoàn thiện bởi vì máy sẽ tự động kiểm tra trang web ngay tức thì.
Nếu website của bạn không được hoàn chỉnh hoặc thậm chí còn chưa được
đưa lên mạng, máy sẽ có những thông số không tốt về website.
Tối ưu hóa website thân thiện với công cụ tìm kiếm
Đây chính là điểm mà phần lớn các doanh nghiệp bỏ qua và vì thế không
có được thứ hạng cao trong các công cụ tìm kiếm. Việc đăng ký chỉ có ý
hàng mọi nơi có thể biết đến doanh nghiệp. Song cũng cần nhớ một điều là
phải biết kiên nhẫn vì đăng nhập vào các công cụ tìm kiếm cũng khó có kết
quả ngay được, thường phải mất đến tám tuần thì website của bạn mới được
đưa vào danh bạ. Đừng buông tay qúa sớm và bạn sẽ được đền bù xứng
đáng!
2.4. Lợi ích từ E-Marketing.
Trong những năm qua, Thương mại điện tử (TMĐT) đã dần dần khẳng định
được vai trò của mình trong việc trao đổi thông tin, giao dịch mua bán qua
15
mạng. Vào Việt Nam từ kể từ năm 1998 đến nay, tốc độ phát triển Internet
tăng trưởng rất nhanh. Tính đến tháng 11 năm 2009 số người sử dụng
internet đã là 22.479.065 người, chiếm 26.2% dân số.
Chỉ tính riêng tại Mỹ, năm 2005 doanh thu quảng cáo trên Internet là
12.5 tỷ USD, năm 2006 tăng 34% đạt con số 16,8 tỷ. Nghiên cứu này cũng
cho thấy, việc thiếu hụt các văn phòng, công ty quảng cáo có thể đảm đương
cả phương thức quảng cáo truyền thống lẫn điện tử sẽ khiến mức doanh thu
của quảng cáo mạng tăng chậm.
Còn ở Việt Nam, theo một số đánh giá không chính thức, thì doanh thu
của thị trường này vào năm 2006 là 64 tỷ VNĐ và trong những năm tới sẽ
tăng trưởng 100% để đạt tới con số 500 tỷ VNĐ vào năm 2010. Quảng cáo
trực tuyến của Việt Nam gần như đang bỏ ngỏ cho hai đại gia Yahoo! và
Google khai thác.
Không kể các chủ trang web tự khai thác quảng cáo trên các web site của
mình, thì hiện tại Việt Nam chỉ có Công ty cổ phần trực tuyến 24H là hãng
chuyên nghiệp đầu tiên đang có kế hoạch cạnh tranh với Yahoo! và Google.
E – Marketing có nhiều lợi thế như: Có thể bắt đầu với chi phí thấp, ngân
sách nào chúng ta cũng có thể bắt đầu được. Có khả năng tập trung cao vào
một đối tượng khách hàng mục tiêu nhất định. Phạm vi quảng cáo của E -
Marketing cũng rộng hơn, những người làm E - Marketing không phải lo
16
tiếp thị tiếp cận với thị trường và khách hàng mục tiêu thông qua các hình
thức marketing trực tuyến (E – marketing).
Lợi thế của doanh nghiệp ngoại .
Theo ước tính, năm 2010, tỷ trọng đầu tư vào Internet Marketing trong tổng
ngân sách tiếp thị tiếp tục được dự báo tăng mạnh tại nhiều quốc gia phát
triển. Riêng các doanh nghiệp Việt Nam có thể đầu tư 7 – 10% ngân sách
marketing cho tiếp thị trên internet. Tại buổi nói chuyện về “Xu hướng
Internet Marketing 2010”, ông Đỗ Hải, Ths. Marketing cho biết: “Khó khăn
về kinh tế đã thúc đẩy mạnh mẽ hơn xu hướng marketing trực tuyến tại Việt
Nam trong những năm qua.
Mặt khác, do internet đang có tốc độ tăng trưởng cao, nên các doanh nghiệp
tiêu dùng nhanh cũng đẩy mạnh các hình thức tiếp thị qua internet với nhóm
khách hàng tiềm năng là giới trẻ, nhân viên văn phòng. Một ưu điểm khác là
marketing trên internet không phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp, dù
lớn hay nhỏ thì bất cứ doanh nghiệp nào cũng có thể tiến hành hoạt động
marketing và trao đổi với khách hàng trên toàn thế giới”.
Tuy có nhiều lợi thế, hiệu quả tiếp thị khả quan, nhưng theo báo cáo của
Hiệp hội Tiếp thị Kỹ thuật số Châu Á (ADMA), tổng doanh thu quảng cáo
trực tuyến tại Việt Nam năm 2008 ước khoảng 2% tổng doanh thu ngành
quảng cáo. Đây là một tỷ lệ rất thấp nếu so sánh với các quốc gia phát triển
(Anh gần 27%, Mỹ hơn 20%). Tại thị trường Việt Nam, trong khi các doanh
nghiệp trong nước còn đang bối rối với internet marketing thì các công ty
nước ngoài đã rầm rộ triển khai nhiều quảng cáo trực tuyến, nhất là các “đại
gia” về tiêu dùng nhanh như Unilever, P&G với các đợt như Sunsilk – Sống
là không chờ đợi…
Ông Trương Văn Quý, Giám đốc Công ty cổ phần Phát triển Công nghệ và
Truyền thông EQ lý giải: “Sở dĩ các doanh nghiệp Việt Nam còn ngại khai
thác internet marketing vì chưa nhìn ra cơ hội của hình thức tiếp thị này.
Trong nhận thức của nhiều doanh nghiệp, môi trường internet vẫn còn khá
mơ hồ và thiếu thực tế.
dùng hiểu nhầm là quảng cáo du lịch.
Ông Quý cũng cho rằng: “Muốn quảng cáo trên internet hiệu quả thì doanh
nghiệp cần phải chuẩn bị kiến thức và nhân lực. Dù rằng đã có những công
19
ty chuyên về cung cấp dịch vụ về internet marketing, nhưng nếu doanh
nghiệp không hiểu biết đủ về lĩnh vực này, chắc chắn sẽ không thể khai thác
hay đầu tư cho nó một cách hiệu quả. Các doanh nghiệp nên có chính sách
đào tạo nhân sự chuẩn bị cho sự hội nhập sâu hơn vào thế giới internet. Kế
tiếp, hãy chuẩn bị lại các thông điệp marketing một cách chi tiết và cụ thể
làm tiền đề cho việc xây dựng hoặc chỉnh sửa lại trang web trước khi thực
hiện các kế hoạch truyền thông mới trên internet”.
Tiếp thị, quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam chưa phát triển tương xứng với
thị trường internet rộng lớn với hơn 20 triệu người sử dụng, tức 20 triệu
khách hàng tiềm năng. Chủ yếu hiện nay vẫn là quảng cáo dạng banner/pop-
ups hay mua từ khóa của công cụ tìm kiếm, nhưng còn rất nghèo nàn, đơn
điệu về hình thức, cũng như thiếu chuẩn hóa (ví du: chuẩn Display
Impressions năm 2003 hay Digital Video Impressions năm 2006 như của
IAB, Mỹ).
Những hình thức tiếp thị, quảng cáo trực tuyến khác còn sơ khai và chưa
thực sự được sử dụng rộng rãi trong giới làm tiếp thị tại Việt Nam. Theo ông
Aaron Cross, Giám đốc điều hành Công ty Nghiên cứu thị trường Nielsen
Vietnam, do tính chất phân nhánh mạnh mẽ của internet, các nhà làm tiếp thị
dễ bị rơi vào cảnh không nhận biết được phân khúc thị trường và khách hàng
mục tiêu để quảng cáo. Chưa kể đa số người sử dụng internet Việt Nam là
giới trẻ đã không hấp dẫn nhiều doanh nghiệp có sản phẩm nhắm vào phân
khúc khách hàng lớn tuổi hơn.
Chính vì vậy, doanh nghiệp nên nghiên cứu lại cách tiếp thị với sự bổ sung
của internet, sau đó lập ra kế hoạch hành động cụ thể để tranh thủ ngay các
cơ hội mới. Xác định lại khách hàng mục tiêu ở đâu trên internet cũng là một
web cá nhân, mạng xã hội…).
Năm 2010, truyền thông xã hội tại Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mạnh, và
cũng là một xu hướng truyền thông mới.
Xu hướng của khách hàng.
21
Số lượng khách hàng không tăng nhanh như số lượng doanh nghiệp, sau
khủng hoảng, thị trường vẫn chưa đủ lớn. Khách hàng sẽ càng ngày càng có
nhiều quyền lực hơn, nhiều thông tin hơn và nhiều sự lựa chọn hơn.
Với sự hỗ trợ của Google, khách hàng sẽ tìm kiếm nhiều hơn trước khi quyết
định mua hàng. Với mạng xã hội, khách hàng sẽ chia sẻ nhiều hơn sau khi
họ sử dụng hàng hóa.
Xu hướng của các nguyên lý marketing.
Hỗn hợp chiêu thị 4P (Product: Sản phẩm, Price: Giá cả, Place: kênh phân
phối, Promotion: Chiêu thị) sau khi chuyển hóa thành 4C (Customer
Solution: Giải pháp cho khách hàng, Customer Cost: Chi phí của khách
hàng, Convenience: Sự thuận tiện, Communication: Truyền thông) sẽ tiếp
tục thay đổi: Khách hàng có thể tham gia vào quá trình thiết kế sản phẩm,
custommer solution trở thành Co-Creation (cùng sáng tạo). Chi phí của
khách hàng có thể do khách hàng quyết định nên sẽ có xu hướng giá do
khách hàng quyết định (như hình thức đấu giá của Ebay, bán quảng cáo đấu
giá của Google Adwords…). Sự thuận tiện trên Internet không còn là các vị
trí mặt tiền, các miếng đất vàng của các kênh phân phối, mà chính là các tên
miền dễ nhớ, và đặc biệt là việc làm sao bạn dễ dàng được tìm ra bởi công
cụ tìm kiếm. Và cũng theo xu hướng truyền thông, truyền thông sẽ là đối
thoại, Communication trở thành Conversation.
Xu hướng của ngành quảng cáo.
Người làm tiếp thị sẽ đòi hỏi nhiều hơn ở các nhà cung cấp về sự tư vấn, chỉ
dẫn, và các công cụ đo lường hiệu quả của các chiến dịch tiếp thị.
Các đại lý quảng cáo truyền thống sẽ gặp nhiều khó khăn khi khách hàng có
xu hướng xây dựng quan hệ đối tác trực tiếp với các công ty sản xuất media
giữa thị trường tiếp thị trên Internet tại Việt Nam và Hoa kỳ.
23
Một số số liệu được lấy từ báo cáo tiếp thị công nghệ số “Asia Pacifice
Digital Marketing Yearbook 2009” của ADMA (Asia Digital Marketing
Association) và tổ chức quảng cáo tương tác thế giới IAB (Interactive
Advertising Bureau).
Có thể nói cách đây 7 năm, thương mại điện tử vẫn còn là một khái niệm
khá mới mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Thế nhưng đến bây giờ,
bức tranh thương mại điện tử VN hiện tại đã có rất nhiều thay đổi theo chiều
hướng tích cực. Những biến chuyển ấy thể hiện rõ qua những con số thống
kê của Bộ Công Thương.
Từ tháng 4 năm 2008, Bộ Công Thương đã hoàn thành báo cáo về
thương mại điện tử năm 2007. Bộ đã điều tra trên quy mô lớn về tình hình
ứng dụng thương mại điện tử của các doanh nghiệp trong nước và kết quả
thu được khá khả quan.
Thứ nhất, gần 40 % doanh nghiệp có doanh thu từ thương mại điện tử, và
mức doanh thu ấy chiếm 15% tổng doanh thu. Đây là một con số rất là đáng
khích lệ cho thấy thương mại điện tử đã thực sự đem lại những cái lợi ích cụ
thể cho các doanh nghiệp bằng những giá trị cụ thể.
Thứ hai, một nửa số doanh nghiệp cho biết đã đầu tư cho những ứng
dụng thương mại điện tử trong đơn vị mình. Hơn 60% doanh nghiệp tin rằng
doanh thu của họ nhờ thương mại điện tử sẽ còn tăng hơn nữa trong thời
gian tới chứng tỏ niềm tin và sự lạc quan của doanh nghiệp đối với việc ứng
dụng thương mại điện tử để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh. Nhằm tăng
cường khả năng tiếp cận với thị trường, hơn 40% doanh nghiệp đã lập
website riêng và khoảng 15% doanh nghiệp có các hoạt động e-marketing.
Vậy bằng những con số cụ thể, chúng ta có thể đưa ra một cái kết luận là
hiệu quả ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp rất là rõ ràng và
cái xu hướng ấy ngày càng tăng. Như vậy, có thể thấy rằng các doanh nghiệp
bây giờ rất quan tâm tới việc ứng dụng thương mại điện tử, đặc biệt là trong
chuyên nghiệp đầu tiên đang có kế hoạch cạnh tranh với Yahoo! và Google.
The Mc Kinsey đã tiến hành thu thập thông tin và phân tích báo cáo
doanh số, đồng thời phỏng vấn hơn năm mươi chuyên gia trong lĩnh vực
quảng cáo trực tuyến, đại diện cho các công ty truyền thông tại Mỹ.
Những nhân viên trong nhóm nghiên cứu đã so sánh ngân sách quảng cáo
hiện tại và dự tính của các công ty dành cho hình thức quảng cáo trực tuyến
(gồm có video, banner và công cụ tiềm kiếm) với khả năng thu hút tối đa (về
mặt lý thuyết) của quảng cáo Internet hiện nay.
Kết quả cho thấy, việc sử dụng hình thức quảng cáo mạng hiện đang ở
mức rất cao, và nếu như không có thêm một giải pháp, sáng kiến nào khác
cho hình thức quảng cáo on-line, đến năm 2008, nhu cầu của khách hàng sẽ
25