Tìm hiểu thị trường vàng tại
Việt Nam
Mục lục
PHẦN I –SƠ LƯỢC VỀ VÀNG – THỊ TRƯỜNG VÀNG 4
I.TÌM HIỂU CHUNG VỀ VÀNG 4
1.Vai trò của vàng 5
1.1. Tác động đối với tỷ giá 5
1.2. Vàng giúp đa dạng hóa danh mục đầu tư: 10
1.3. Vàng là công cụ phòng chống lạm phát: 10
1.4. Vàng là công cụ đầu tư thay thế đồng USD: 11
1.5. Vàng giúp kiểm soát rủi ro: 11
1.6. Dự trữ ngoại hối. 12
1.7. Huy động vàng trong dân để đầu tư phát triển kinh tế 13
2. Rủi ro của vàng 14
3. Mối quan hệ giữa thị trường vàng và các thị trường đầu tư khác 15
3.1. Thị trường chứng khoán 15
3.2. Thị trường tiền tệ và dầu mỏ 16
4.Giá vàng quốc tế ảnh hưởng bởi nhân tố sau: 17
II. THỊ TRƯỜNG VÀNG 20
A. VÀI NÉT CHUNG 20
B- CÁC HÌNH THỨC KINH DOANH VÀNG 21
1.Kinh doanh vàng trên tài khoản 21
2. Kinh doanh vật chất 22
3. Kinh doanh vàng nguyên liệu 23
4. Kinh doanh vàng qua sàn ACB 23
PHẦN II-THỊ TRƯỜNG VÀNG VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 27
1. Thực trạng 27
1.1 Thị trường vàng trong những năm gần đây 27
1.2. Phạm vi kinh doanh vàng ở Việt Nam hiện nay khá rộng, khó kiểm soát 30
1.3.1.Tác động của thị trường vàng năm 2010 đến chính sách tiền tệ 32
- Ký hiệu vàng giao dịch trên thị trường là XAU.
- Đơn vị tính thông thường USD/ounce.
- Mỗi ngày thị trường thế giới giao dịch khoảng 2.500 - 3.000 tấn vàng. Ở
Mỹ có khoảng 20 - 30 quỹ đầu tư vàng. Khi muốn giá vàng tăng 1 USD thì
phải giao dịch khoảng 50 tấn vàng.
- Ngày dao động nhiều nhất của vàng thông thường là $30/ounce/ngày.
1.Vai trò của vàng.
1.1. Tác động đối với tỷ giá
Trong giai đoạn 5 năm 2006-2010, tỷ giá ngoại tệ USD so với đồng Việt Nam
(VND) được điều chỉnh linh hoạt theo cung cầu ngoại tệ của thị trường và tình
hình kinh tế vĩ mô. Sự điều chỉnh tỷ giá USD/VND xuất phát từ nhiều yếu tố kinh
tế cơ bản khác nhau, chủ yếu là do cán cân thương mại mất cân đối, giải pháp kỹ
thuật hạn chế nhập siêu, và chính sách khuyến khích xuất khẩu. Tính từ năm 2008
đến nay, bình quân mỗi năm tỷ giá được điều chỉnh tăng khoảng 5%.
Bảng thống kê điều chỉnh tỷ giá USD/VND trong giai đoạn 2006-2010
Stt Ngày
Điều chỉnh
biên độ và/hoặc
tỷ giá bình quân
Ghi chú
Tỷ lệ điều chỉnh
chung cuộc
1 31/12/20060,50% Tăng biên độ giao dịch 0,25%
2 24/12/20070,75% Tăng biên độ giao dịch 0,25%
3 10/03/20081% Tăng biên độ giao dịch 0,25%
4 27/06/20082% Tăng biên độ giao dịch 1,00%
5 11/07/20083% Tăng biên độ giao dịch 1,00%
6 25/12/2008 16.494 lên
16.989, %
Giữ nguyên biên độ giao
trên thị trường tài chính không thể không chú ý đến vàng, nhất là khi những loại tài
sản khác như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, bất động sản v.v… chưa mang lại
hiệu quả sinh lợi như mong đợi. Nói cách khác, nhà đầu tư sẽ có xu hướng chuyển
dịch một phần vốn vào vàng để vừa đa dạng hóa danh mục đầu tư, vừa hướng tới
mục tiêu sinh lợi kỳ vọng.
Kể từ tháng 06/2008, Ngân hàng Nhà nước tạm thời không cấp hạn mức
(quota) nhập khẩu vàng cho các doanh nghiệp kinh doanh vàng và các ngân hàng
thương mại như trước đó, trừ trường hợp nhập khẩu can thiệp thị trường.
Có thể nói cung cầu vàng trong nước không còn liên thông với thế giới nữa.
Vì nguồn cung vàng trong nước bị gián đoạn, bị thắt cổ chai và thiếu tính liên tục
tại một số thời điểm nhất định do cái “van” nhập khẩu đang tạm khóa, nên chỉ cần
nhà đầu tư muốn mua vàng, giá vàng trong nước sẽ tăng lên. Khi lực cầu không
được đáp ứng đầy đủ, giá vàng trong nước sẽ tăng mạnh và nhanh hơn ở thế “lệch
pha trên” so với giá vàng thế giới với mức chênh lệch giá có khi lên đến hơn 1
triệu đồng/lượng vàng như đã từng xảy ra.
**Trường hợp không cho phép nhập khẩu vàng chính thức
Ở tình huống mất cân đối cung cầu này, nếu không cho phép nhập khẩu chính
thức và nếu mức chênh lệch giá quá lớn, sẽ có một khối lượng nhập khẩu vàng
“không chính thức” vào Việt Nam qua các đường biên giới giáp ranh với
Campuchia, Lào và Trung Quốc để giải tỏa “cơn khát” vàng trong nước. Để
“nhập” được số vàng này, một số đầu mối phải tích cực thu gom USD trên thị
trường tự do để thanh toán số vàng nhập khẩu đó, tạo sức cầu và sự khan hiếm
“cục bộ” đối với tiền mặt USD.
Do tình trạng thâm hụt mậu dịch bị mất cân đối trong một thời gian dài và do
giá vàng vẫn tiếp tục tăng chưa có điểm dừng, thực tế cho thấy trong một số tình
huống ngân hàng nhà nước phải điều chỉnh tỷ giá chính thức theo “tín hiệu đón
đầu” của tỷ giá tự do, khi mà người cần ngoại tệ và người có ngoại tệ đã xác lập
trước một mức tỷ giá kỳ vọng mới. Đây là tình huống tỷ giá USD/VND tăng trong
bối cảnh không cho nhập khẩu vàng chính thức.
Bảng tóm tắt mức thâm hụt mậu dịch trong giai đoạn 2007-2011
Nếu ngân hàng nhà nước cho nhập khẩu vàng chính thức, một lượng ngoại tệ
cũng sẽ được chi ra từ hệ thống ngân hàng để thanh toán tiền nhập khẩu vàng. Có
thể nói rằng trong bối cảnh giá vàng tăng và nhiều nhà đầu tư đang muốn mua
vàng, việc nhập khẩu vàng bằng con đường chính thức hay không chính thức cũng
đều tác động lên cung cầu ngoại tệ và gây áp lực lên tỷ giá.
Đây cũng chính là thế “tiến thoái lưỡng nan” mà ngân hàng nhà nước luôn
luôn đối diện khi xử lý vấn đề nhập khẩu vàng. Tuy nhiên, việc nhập khẩu vàng
chính thức vẫn được xem là giải pháp tích cực hơn, vì Nhà nước sẽ đạt được nhiều
mục tiêu khác nhau như
• Kiểm soát được số lượng nhập khẩu
• Kiểm soát được doanh thu của các đơn vị nhập khẩu vàng
• Chủ động tăng nguồn cung vàng trong nước
• Giảm bớt sự căng thẳng tâm lý muốn mua vàng của người dân
• Ngăn chặn tình trạng đầu cơ “đục nước béo cò”
• Gia tăng tính công khai minh bạch trong chính sách quản lý thị trường
vàng
• Chủ động điều chỉnh tỷ giá khi cần thiết, thay vì để cho thị trường tự do
thản nhiên thao túng.
Trong 2 năm 2009-2010 vừa qua, vàng không phải là nguyên nhân làm tiêu
tốn ngoại tệ, mà ngược lại còn góp phần đáng kể trong việc cải thiện cán cân
thương mại. Với mức xuất siêu vàng (xuất vàng nhiều hơn nhập vàng) khoảng 60
tấn/năm, các doanh nghiệp kinh doanh vàng đã mang về khoảng 2,5 tỷ USD trong
9 tháng đầu năm. Tuy nhiên, sự đóng góp từ kim ngạch xuất siêu vàng chỉ giúp
giảm bớt mức thâm hụt mậu dịch trong ngắn hạn. Vấn đề cốt lõi đó là sự mất cân
đối trong cán cân thương mại trong suốt một thời gian dài luôn gây áp lực trực tiếp
lên tỷ giá, không nhất thiết xuất phát từ vàng.
Bảng tóm tắt số liệu xuất nhập khẩu vàng trong giai đoạn 2006-2010
Tấn vàng 2006 2007 2008 2009 2010 (*)
Nhập khẩu 91 51 90.5 12 9
Xuất khẩu - - 11 72 70
tương quan giữa tiền và hàng hoá. Với cùng một số tiền như nhau thì người ta sẽ
mua được một số lượng hàng hóa ít hơn. Từ điều này có thể thấy rằng, khi có lạm
phát thì người giữ tài sản sẽ có lợi hơn người giữ tiền hay nói cách khác hàng hóa
là công cụ phòng ngừa rủi ro lạm phát. Khi mà VND ngày càng bị mất giá trên thị
trường, vật giá thì leo thang một cách nhanh chóng, khó kiểm soát.
Vì vậy, không chỉ có vàng mà các loại hàng hóa khác như kim loại quý, bất
động sản đều là những công cụ chống lạm phát hữu hiệu. Tuy vậy, vàng là một
loại hàng hóa đặc biệt hơn cả, có giá trị cao, luôn duy trì được giá trị trao đổi cao
trên thị trường và đặc biệt là khả năng thanh khoản trên thị trường.
Tất cả những yếu tố trên đã biến vàng thành công cụ để chống lạm phát hữu
hiệu.
1.4. Vàng là công cụ đầu tư thay thế đồng USD:
Vàng thường được sử dụng như một công cụ đầu tư hiệu quả thay thế đồng
USD – đồng tiền được giao dịch nhiều nhất thế giới. Nếu đồng USD tăng giá, thì
vàng sẽ giảm. Ngược lại USD giảm giá thì vàng sẽ tăng. Do đó vàng là cách đầu tư
hiệu quả nhất trong việc phòng chống rủi ro giảm giá của đồng USD. Trong bối
cảnh nền kinh tế thế giới và Việt Nam như hiện nay thì đồng Đô la đã rớt giá quá
nhiều, mọi người không có còn đảm bảo về sự ổn định đầu tư tài chính của mình
dựa vào đồng đô la nữa.
Giờ đây với nhiều kênh đầu tư mà đồng đô la không thể đảm bảo sự ổn định
cho danh mục đầu tư đó với sự lên xuống tỷ giá liên tục như hiện nay thì mọi
người sẽ chuyển sang một loại tiền tệ mà họ có thể yên tâm, đó là vàng.
1.5. Vàng giúp kiểm soát rủi ro:
Nhìn chung, vàng ít biến động hơn hầu hết các loại hàng hóa khác cũng như
thị trường chứng khoán. Với việc sở hữu tài sản ít biến động trong danh mục đầu
tư, rủi ro của nhà đầu tư sẽ giảm.
Vàng đã từng được gọi là "hàng hóa khủng" bởi vì nó có xu hướng an toàn
hơn các công cụ đầu tư khác trong các thời kì khó khăn. Những nhân tố gây cản trở
các công cụ đầu tư khác lại giúp làm cho giá vàng tăng lên. Nền kinh tế trì trệ sẽ
dẫn đến việc một số ngân hàng hoạt động kém phải đóng cửa. Đến lượt nó, hệ
mại sẽ tăng nguồn vốn tín dụng để cho vay.
Thứ hai, nếu cho phép các ngân hàng thương mại trả lãi cao để huy động vàng
và ngân hàng thương mại cho vay vàng để đầu tư phát triển kinh tế thì lợi ích có
thể không bù nổi những thiệt hại từ những tác động tiêu cực cả ở tầm vi mô và tầm
vĩ mô. Cụ thể:
***Với kỳ vọng “lãi kép”- lãi được trả về tiền gửi bằng vàng và kỳ vọng lãi từ
chênh lệch giá, người dân có động lực lớn để tích trữ tài sản bằng vàng hoặc đầu
cơ vào vàng, gây khó khăn cho điều hành kinh tế vĩ mô, nhất là khi có những biến
động lớn về giá vàng; nguồn vốn tiết kiệm của dân cư sẽ đổ dồn để tích trữ vàng;
tác động tiêu cực của hiện tượng “vàng hóa” cũng là rất lớn, tương tự như hậu
quả của “đô la hóa” trong nền kinh tế. Ngoài ra, việc chống “đô la hóa” trong
nền kinh tế cũng chỉ thành công khi đồng thời chống được “vàng hóa”.
***Phát sinh rủi ro về thanh khoản vàng và rủi ro về giá vàng cho các ngân hàng
thương mại, cho các doanh nghiệp/người dân vay vốn bằng vàng và gây bất ổn,
biến động không lường trước được về giá vàng, tỷ giá USD/VND. Kinh nghiệm
thực tế cho thấy, hậu quả xã hội sẽ rất lớn, khi các khoản tiền gửi hoặc các khoản
thanh toán bằng vàng đến hạn/đáo hạn, nhưng khi đó giá vàng trên thị trường
tăng cao, và người vay hoặc người phải thanh toán trả vàng sẽ phá sản hoặc chịu
lỗ lớn.
Thứ ba, giới hạn đầu tư tín dụng cho nền kinh tế được quyết định bởi những
yếu tố nào? Nguồn vốn đầu tư (tiết kiệm trong nước, nguồn vốn vay nước ngoài);
hiệu quả của các dự án đầu tư Trong đó, hiệu quả của các dự án đầu tư là một
yếu tố quyết định. Nếu nền kinh tế có nhiều dự án đầu tư có hiệu quả, ngân hàng
trung ương có thể tăng vốn cho nền kinh tế bằng cách “bơm vốn” cho các ngân
hàng thương mại. Trong chế độ tiền giấy, trong giới hạn nhất định, ngân hàng
trung ương có khả năng mở rộng tín dụng ngân hàng để phát triển kinh tế thông
qua mở rộng khả năng tạo tiền của hệ thống các tổ chức tín dụng.
2. Rủi ro của vàng
Rủi ro tín dụng bằng vàng. Với các hợp đồng tín dụng bằng vàng đã được
giải ngân, nếu giá vàng biến động mạnh theo xu hướng tăng, rủi ro đối với các
Không bao giờ chứng khoán và vàng là vật thay thế hoàn toàn cho nhau,
nghĩa là dù chứng khoán có hấp dẫn như thế nào thì vẫn có nhiều nhà đầu tư quan
tâm tới đầu tư vàng, đơn giản vì họ quen với hoạt động kinh doanh này hơn.
Vàng và chứng khoán đều là những cấu phần của một thị trường tài chính.
Hoạt động nhộn nhịp đầu tư trong một cấu phần, có thể tạo cho nhà đầu tư sự phấn
khích cần thiết để đầu tư vào cả cấu phần kia.
Bên cạnh đó, đầu tư vào chứng khoán là rất rủi ro, vì khi doanh nghiệp phá
sản, số chứng khoán đang nắm giữ có thể mất giá trị. Đầu tư vào vàng có thể lãi, có
thể lỗ, nhưng không bao giờ mất trắng vì vàng có giá trị nội tại của nó. Một nhà
đầu tư khôn ngoan luôn chia sẻ rủi ro bằng cách trong khi đầu tư chứng khoán thì
vẫn đầu tư vàng.
Tóm lại, khi chứng khoán lên, có thể một số nhà đầu tư sẽ dồn vốn đầu tư
sang kênh này, nhưng điều này không hẳn dẫn tới sự trầm lắng của thị trường
vàng.
3.2. Thị trường tiền tệ và dầu mỏ.
Dầu là nguồn đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất. Bất cứ sự biến động
của giá dầu mỏ cũng tác động dây chuyền lên toàn bộ nền kinh tế thế giới. Vì thế
để giữ vứng nền kinh tế phát triển ổn định, các nước có nền kinh tế lớn như Nga,
Mỹ có xu hướng xây dựng các kho dự trữ dầu mỏ và tăng cường dự trữ vàng.
Bởi lẽ đây là hai loại hàng hóa không bị mất giá trị.
Tuy nhiên, dầu mỏ dưới vai trò lớn hơn hàng hóa tích trữ, khi giá dầu mỏ tăng
tất yếu dẫn đến hệ quả tiền USD giảm giá trị, và các nước càng có xu hướng nhập
vàng về tích trữ, do đó nhu cầu vàng trên thế giới sẽ tăng và kéo theo sự tăng giá
của vàng.
Năm 2006 cũng là năm đánh dấu mức kỷ lục của giá vàng, giá dầu và một lần
nữa minh chứng cho thấy sự đồng hành của giá vàng và giá dầu. Giá dầu đạt mức
kỷ lục 78,40 USD/thùng vào ngày 13/7/2006. Mức kỷ lục này cao hơn 39% so với
mức giá cao nhất trong năm 2004 là 56,37 USD/thùng (ngày 26/10/2004) và trên
10% so với mức cao nhất năm 2005 là 70,85 USD/thùng vào ngày 27/8/2005.
Các kỷ lục về giá dầu tại thời điểm đó và những nguyên nhân của nó cũng
thị trường chứng khoán của quốc gia đó.
4.1.2 Lãi suất:
Các nguồn vốn ngắn hạn quốc tế có xu hướng chảy vào các quốc gia có lãi suất
cao. Do đó quốc gia nào tăng lãi suất thì nhu cầu đồng tiền đó trên thị trường sẽ
tăng dẫn đến đồng tiền quốc gia đó sẽ tăng.
4.1.3 Lạm phát (chỉ số giá tiêu dùng CPI):
Thông thường khi lạm phát tăng, NHTW các nước sẽ xem xét tăng lãi suất để
kiềm chế lạm phát. Do đó xét về ngắn hạn, khi lạm phát tăng nhà đầu tư thường
mua vào đồng tiền đó.
4.1.4 Cán cân thương mại:
Là chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia. Khi mức chênh
lệch dương thì cán cân thương mại có thặng dự. Khi mức chênh lệch âm thì cán
cân thương mại bị thâm hụt. Cán cân thương mại tăng thì đồng tiền quốc gia đó
tăng và ngược lại.
4.1.5 Sản lượng công nghiệp:
Đo lường sự thay đổi trong khu vực công nghiệp của nền kinh tế. Chỉ số này
rất nhạy với lãi suất và nhu cầu tiêu dùng, đây cũng là cơ sở được NHTW sử dụng
đế đánh giá lạm phát vì sản lượng công nghiệp tăng lạm phát và tiêu dùng tăng.
Sản lượng công nghiệp tăng thì đồng tiền của quốc gia đó sẽ tăng.
4.1.6 Doanh số bán lẻ:
Đánh giá mức tiêu dùng của người dân, được tính toán dựa trên các lĩnh vực
ôtô, vật liệu xây dựng, doanh số của các cửa hàng tạp hoá, nhà hàng, nhà thuốc…
Doanh số bán lẻ cao cho thấy nền kinh tế đang tăng trưởng do đó đồng tiền nước
đó sẽ tăng giá trị.
4.1.7.Thị trường nhà đất Mỹ:
Các số liệu về giấy phép xây dựng, doanh số mua bán nhà mới, mua bán nhà
hiện có ảnh hưởng rất nhiều đến quyết định lãi suất của các NHTW do đó nếu thị
trường nhà đất khả quan thì nhu cầu đồng tiền của quốc gia đó sẽ tăng.
4.1.8. Bản lương khu vực phi nông nghiệp:
Là số liệu tổng hợp số việc làm trong các ngành nghề của nền kinh tế ngoài
5.1 Giá vàng quốc tế: Giá vàng quốc tế ảnh hưởng rất lớn đến giá vàng trong
nước. Giá vàng quốc tế tăng sẽ kéo theo giá vàng trong nước tăng và ngược lại.
5.2 Cung cầu trong nước: Bên cạnh giá quốc tế, giá trong nước còn bị ảnh
hưởng bởi cung cầu trong nước, thông thường nhà đầu tư trong nước mua nhiều
khi giá giảm và bán nhiều khi giá tăng.
5.3 Tâm lý: Nhà đầu tư thường chịu tâm lý bầy đàn, có thể sẽ đổ xô mua hoặc
đổ xô bán vì tin đồn. Do đó ảnh hưởng đến cung cầu trong nước.
5.4 Các yếu tố khác: Chính sách NHNN, lãi suất tiền đồng v.v….
6. Các đơn vị tính toán:
+ 1 kg = 32.148 ounce.
+ 1 ouce = 0.8294 lượng.
+ 1 kg = 26.66 lượng
7. Cách quy đổi giá quốc tế ra giá trong nước và những điều cần lưu ý.
Giá vốn nhập về = (Giá quốc tế * tỷ giá USD/VND)/0.8294 + 140,000(bao gồm
chi phí gia công , thuế, chi phí bảo hiểm)
Các chi phí liên quan đến việc nhập khẩu vàng nguyên liệu về gia công
+ Phí vận chuyển, bảo hiểm: $1/ounce.
+ Thuế nhập khẩu: 0.5% giá trị nhập khẩu.
+ Chi phí gia công từ vàng nguyên liệu sang vàng miếng SJC: 30.000/lượng
B- CÁC HÌNH THỨC KINH DOANH VÀNG
1.Kinh doanh vàng trên tài khoản
Đây là nghiệp vụ mua bán vàng ghi sổ chứ không thực hiện việc giao nhận
vàng. Hình thức kinh doanh này chủ yếu phục vụ cho nhu cầu đầu cơ và thường
giao dịch qua mạng internet hoặc hệ thống giao dịch chuyên dụng.
1.1 Những thuật ngữ thường dùng:
+ SL order (stop loss): lệnh dừng lỗ.
+ PT order (Profit taking): lệnh chốt lời.
+ Limit order: lệnh giới hạn, được sử dụng trong trường hợp đặt mua thấp hơn giá
thị trường, hoặc đặt bán cao hơn thị trường.
+ Market order: lệnh thị trường, được sử dụng khi muốn giao dịch liền với giá thị
- Bằng cách sử dụng hợp đồng ký hạn, nhà đầu tư không cần phải vay mà lãi vay
đã được tính sẵn vào giá. Nhà đầu tư chỉ cần ký quỹ 5% - 10% giá trị giao dịch.
Nếu giá biến động thuận lợi, nhà đầu tư có thể tất toán hợp đồng kỳ hạn và thu
phần chênh lệch.
- Cách tính tỷ giá kỳ hạn = Tỷ giá spot + tỷ gia spot*(lãi vay VND – lãi vay
USD)*số ngày/360
Hợp đồng quyền chọn (option): nếu nhà đầu tư mua quyền chọn mua/bán vàng thì
nhà đầu tư có quyền mua/bán hoặc không mua/bán vàng tùy ý trong khoảng thời
gian hợp đồng còn hiệu lực. Khách hàng chỉ cần trả 1 khoảng phí ban đầu. Tuy
nhiên khoảng phí hơi cao do đó nhà đầu tư chỉ nên mua hợp đồng quyền chọn khi
dự đoán thị trường sẽ biến động trong thời gian tới.
2.2 Ưu điểm: hình thức kinh doanh quen thuộc với nhà đầu tư, thủ tục đơn giản.
2.3 Nhược điểm: phụ thuộc vào cung cầu quốc tế và cung cầu trong nước. Giờ giao
dịch ngắn, mức chênh lệch giữa giá mua và giá bán không cạnh tranh và không
thống nhất ở mỗi nơi. Ngoài ra việc không thể đặt lệnh chốt lời, chốt lỗ cũng là 1
bất lợi.
3. Kinh doanh vàng nguyên liệu
Đây là hình thức kinh doanh vàng hạt và chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của các
NH, doanh nghiệp kinh doanh vàng, nữ trang. Giao dịch sôi động khi nguồn cung
SJC trên thị trường không đáp ứng nhu cầu trong nước, do đó nhà đầu tư chuyển
sang nắm giữ vàng nguyên liệu. Sau đó nhà đầu tư có thể đem đến Công ty SJC
nhờ gia công hoặc bán lại nếu được giá.
3.1 Ưu điểm: Tiết kiệm thời gian gia công và giúp cho doanh nghiệp kinh doanh
nữ trang có nguồn nguyên liệu để gia công. Tận dụng cơ hội kinh doanh trong
trường hợp vàng SJC đang khan.
3.2 Nhược điểm: là hình thức giao dịch ít phổ biến, cần có các phương tiện kỹ
thuật để kiểm chứng vàng.
4. Kinh doanh vàng qua sàn ACB
Đây là hình thức kinh doanh qua Trung tâm giao dịch vàng Sài Gòn của NH Á
Châu.
- Trước khi giao dịch, bạn nên có nhận định trước và tránh thay đổi trong giờ giao
dịch nếu không cần thiết.
- Việc giao dịch thường xuyên, liên tục, hàng ngày sẽ khiến cho bạn quyết định
thiếu chính xác. Bạn cần phải nghỉ ngơi nếu cảm thấy mệt mỏi và cần có thời gian
để nhận định xu hướng sắp tới của thị trường.
- Tự tin với nhận định của mình, tránh bị ảnh hưởng bởi nhận định của người khác.
-Tránh sử dụng lệnh thị trường, đặt lệnh mua hay bán bằng lệnh này cho thấy bạn
thiếu tính kỷ lục. Tuy nhiên bạn có thể sử dụng lệnh này để tất toán trạng thái hoặc
chốt lỗ ngay lập tức. Tóm lại nên hạn chế sử dụng lệnh này.
-Tránh giao dịch quá nhiều thị trường cùng lúc vì mỗi trường có những thông tin
khác nhau mà bạn không có thời gian tìm hiểu.
- Mua vào khi giá vượt qua mức biên độ dao động của ngày giao dịch trước đó;
bán ra khi giá giảm xuống dưới mức biên độ dao động của ngày giao dịch trước đó.
- Tương tự đối với tháng, năm
- Không nên mở trạng thái mua hay bán tại 1 mức giá. Khi mua vào, hay bán ra
nên thực hiện theo hình kim tự tháp.