Nghiên cứu tập tính dinh dưỡng (FEEDING BEHAVIOUR) - Một hướng nghiên cứu mới của các ứng dụng trong chăn nuôi - Pdf 15

NGHIÊN CỨU TẬP TÍNH DINH DƯỠNG (FEEDING BEHAVIOUR) - MỘT
HƯỚNG NGHIÊN CỨU MỚI VÀ CÁC ỨNG DỤNG TRONG CHĂN NUÔI

Vũ Chí Cương

GIỚI THIỆU
Những năm gần đây, trên thế giới, trong lĩnh vực nghiên cứu về dinh dưỡng, người ta tập
trung khá nhiều công sức cho nghiên cứu tập tính dinh dưỡng bởi vì việc gia súc ăn được
bao nhiêu (lượng thức ăn ăn vào) phụ thuộc rất nhiều vào tập tính dinh dưỡng (feeding
behaviour) của chúng. Sự học tập về dinh dưỡng và trí khôn dinh dưỡng (nutritional
wisdom) bẩm ở một mức độ nhất định đóng vai trò trung tâm trong việc chọn lọc thức ăn
hoặc khẩu phần (Provenza, 1995). Nhiều khi chúng ta cho gia súc ăn một thức ăn nào đó
mà chúng ta nghĩ là rất ngon, rất bổ nhưng gia súc lại không ăn và ngược lại ? Tại sao
lại như vậy? Để gia súc có thể ăn được nhiều nhất (lượng thức ăn ăn vào lớn nhất), cho
năng suất cao nhất, việc tìm hiểu nguyên nhân tại sao gia súc chỉ chọn và ăn một số thức
ăn nhất định và từ chối không ăn một số thức ăn khác là rất quan trọng trong chăn nuôi.
Nói một cách khác, tìm hiểu xem cơ chế nào đã điều khiển lượng thức ăn ăn vào ở gia
súc và sự lựa chọn thức ăn của chúng để từ đó áp dụng những hiểu biết này trong thực tế
là một yêu cầu cần thiết cả về khoa học và thực tiễn.
Rất nhiều nhà nghiên cứu đã từng đặt câu hỏi liệu rằng gia súc có thể chọn lựa các thức
ăn hợp lý để đáp ứng nhu cầu của chúng và tránh được việc ăn quá nhiều các chất độc
(toxins) khi chúng ta đưa ra cho chúng hàng loạt các thức ăn để lựa chọn?.
Gần đây, ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy gia súc, gia cầm khi được tự do lựa chọn
nhiều loại thức ăn khác nhau về hàm lượng các chất dinh dưỡng,có thể chọn được các
loại thức ăn để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của chúng (Mastika và Cumming, 1985;
Emmans, 1991; Kyriazakis và Oldham, 1993; Provenza, 1995). Gia cầm khi nuôi trong
đàn có khả năng tự lựa chọn các loại thức ăn khác nhau tuỳ theo nhu cầu sinh lý và mức
năng suất hiện tại của chúng (Pousa và cộng sự., 2005). Gia súc, gia cầm trong trường
hợp này cũng có khả năng giảm lượng thức ăn ăn vào của các thức ăn chứa độc tố hoặc
các thức ăn có chứa các chất dinh dưỡng chúng không cần đến vào thời điểm đó.
Xin đưa ra đây một số ví dụ: Eward 1915 (Emmans, 1991 trích dẫn) trong một thí nghiệm

Lysin 0,87 0,85
Methionine 0,61 0,60
Ca 1,05 0,80
P 0,80 0,50

CƠ CHẾ CỦA TẬP TÍNH DINH DƯỠNG
Như vậy, gia súc, gia cầm để tồn tại không chọn thức ăn một cách ngẫu nhiên mà chọn
lọc thức ăn ở môi trường xung quanh một cách cẩn thận (Launchbaugh và cộng sự.,
1999). Thêm vào đó chúng có một cơ chế sinh lý để chống lại việc bị nhiễm độc. Khi cơ
chế này không hoạt động hoặc hoạt động không có hiệu quả gia súc sẽ bị nhiễm độc, bị
ốm và có thể bị chết. Bằng cách nào gia súc, gia cầm điều chỉnh được lượng thức ăn ăn
vào để không bị nhiễm độc và chọn được khẩu phần thích hợp?. Hình như chúng có khả
năng bẩm sinh (trí khôn dinh dưỡng - nutritional wisdom) để cảm nhận các chất dinh
dưỡng cụ thể và độc tố trong thức ăn thông qua mùi, vị (Owen, 1992, Provenza và Balph,
1990). Hơn thế nữa để có thể ăn đúng, đủ và chọn đúng loại thức ăn cần thiết, sự học tập
(learning) đặc biệt ở giai đoạn còn non giúp cho gia súc, gia cầm phát triển sự thích
(Preference) hay không thích (Aversion) những thức ăn sẵn có (Provenza và Balph,
1990). Về nguyên tắc, gia súc, gia cầm học về thức ăn thông qua hai cơ chế có liên hệ lẫn
nhau đó là: cảm nhận và nhận thức về thức ăn như sơ đồ dưới đây (Garcia,1966, 1967).
Các thông tin về thức ăn gia súc muốn ăn được xử lý thông qua hai quá trình cảm nhận và
nhận thức. ở cả hai quá trình này vị của thức ăn đóng vai trò quyết định (Provenza và
cộng sự., 1992). Trong quá trình cảm nhận vị của thức ăn liên kết chặt chẽ với các thông
tin phản hồi sau khi ăn. Trong quá trình nhận thức mùi và vẻ ngoài của thức ăn liên quan
chặt chẽ với vị của thức ăn
. Quá trình nhận thức được chia thành 2 quá trình phụ: học tập
trong xã hội (Social learning - Học từ mẹ, từ anh em và các gia súc, gia cầm cùng lứa
tuổi, học từ những gia súc, gia cầm trưởng thành đã có kinh nghiệm và học tập tự thân
(Individual learning) hay học thông qua các thử nghiệm và sai lầm (Learning through
trials and errors) (Provenza và cộng sự., 1992).


không mong muốn sản sinh ra trong cơ thể chúng trong quá trình trao đổi chất. Tuy
nhiên, để khử độc và loại bỏ các chất không mong muốn, gia súc cần có thời gian. Vì vậy
để hình thành phản xạ này, số lượng chất dinh dưỡng và độc tố cần phải được định lượng
cẩn thận. Ví dụ khi cho cừu ăn có khẩu phần có hàm lượng LiCl khác nhau, cừu lập tức
giảm ăn vì đã bị ngộ độc (du Toit và cộng sự., 1991). Có vẻ như là gia súc sẽ chọn một
thức ăn khác có chứa chất dinh dưỡng mà chúng cần nếu giới hạn về độc tố của một thức
ăn nào đó đã bị vượt quá trước khi nhu cầu về chất dinh dưỡng nào đó được thoả mãn.
Điều này có nghĩa là vật nuôi cần ăn để sống trước đã (Nolan và cộng sự., 1995). Đây
chính là lý do giải thích vì sao một vật nuôi được cho ăn một loạt các thức ăn riêng lẻ lại
chỉ ăn mỗi thức ăn một ít/mỗi lần (Proveza, 1995). Đây cũng là một cơ sở cho chọn lựa
thức ăn ở vật nuôi.
Phản xạ có điều kiện không thích một loại thức ăn nào đó cũng có thể xác lập bằng các
chất dinh dưỡng mà thông thường không phải là chất độc (Kyriazakis và Oldham, 1993;
Cooper và cộng sự., 1982). Tiêm quá nhiều propionate vào máu gây ra phản xạ không
thích chất này vì nó ảnh hưởng đến các axit citric ở tế bào gan và kích thích tạo ra hiện
tượng axit hoá (acidosis) (Nolan và cộng sự., 1995).
Protein quá nhiều trong khẩu phần cũng là nguyên nhân gây phản xạ có điều kiện không
thích đối với thức ăn protein vì hàm lượng amonia được tạo ra nhiều trong dạ cỏ
(Summers và Leeson, 1978). Axit amin và urê được chuyển thành amonia và a keto axit
bởi gan sau đó amonia đi vào chu trình urê. Nếu hấp thu hoặc giải phóng amonia trong
quá trình trao đổi chất vượt quá khả năng khử độc của cơ thể thì axit amin, protein trở
thành chất dinh dưỡng không được ưa chuộng.
Phản xạ có điều kiện thích một loại thứa ăn nào đó
Gia súc, gia cầm có thể tạo lập một cách có điều kiện sự ưa thích một loại thức ăn nào đó.
Sự ưa thích này được tạo lập trên cơ sở các thông tin phản hồi tích cực sau khi gia súc,
gia cầm ăn thức ăn đó (Provenza và cộng sự.,1992). Đã có rất nhiều thí nghiệm về vấn đề
này ở chuột, gà, cừu bò và ở lợn (Nolte và Provenza, 1990; Nombekela và cộng sự 1994;
Burritt và Provenza 1989; Kyriazakis và Oldham, 1993). Ví dụ: Cừu có thể rất ưa thích 1
chất tạo màu khi đi kèm với glucoza (Burritt và Provenza, 1989). Bò cũng rất thích các
bánh dinh dưỡng bổ sung protein khi chỉ cho ăn cỏ có hàm lượng protein thấp (Provenza

thức ăn. Tiến hoá đã tạo ra một áp lực lớn cho các gia súc, gia cầm cho ăn theo đàn lớn,
trong một nhóm lớn, sử dụng học tập trong xã hội để chuyển tải các thông tin về thức ăn
từ những gia súc, gia cầm có kinh nghiệm cho những con chưa có kinh nghiệm gì
(Provenza và Balph, 1987).
*Học tập trong xã hội
Học tập trong xã hội về thức ăn đóng vai trò quan trọng trong lựa chọn thức ăn ở gia súc,
gia cầm, đặc biệt là đối với gia súc, gia cầm non. Quá trình học tập này về bản chất là quá
trình chuyển tải các thông tin về thức ăn từ những gia súc, gia cầm có kinh nghiệm sang
những gia súc gia cầm chưa có kinh nghiệm, ví dụ: từ mẹ sang con hay từ những con
trưởng thành sang những con non. (Lobato và cộng sự., 1980; Lynch và cộng sự., 1980).
Học tập trong xã hội đã giúp cho những gia súc gia gia cầm chưa có kinh nghiệm tránh
được việc ăn uống không hiệu quả (ăn không đúng chủng loại thức ăn) và tránh được việc
phải thử nghiệm tất cả các loại thức ăn (Provenza và Balph, 1987).
Học tập về thức ăn từ mẹ.
Thông tin về thức ăn có thể được chuyển rất nhanh từ mẹ sang con hàng ngày. Đáp ứng
về mùi vị thức ăn của mẹ và con sẽ giống nhau hơn đáp ứng này ở những gia súc không
có quan hệ họ hàng với nhau (Pronen và Balph, 1987). Hơn nữa, đã có những bằng chứng
cho thấy ảnh hưởng của mẹ về thói quen ăn uống đối với con cái bắt đầu ngay từ khi ở
bào thai và ảnh hưởng này tiếp tục đến tận lúc cai sữa (Nolan và cộng sự., 1995; Tiện và
cộng sự., 1997). Như vậy, phản xạ có điều kiện của gia súc non đã được hình thành trước
khi chúng bắt đầu ăn thức ăn đặc (solid foods) (Provenza và cộng sự., 1992). ở giai đoạn
sau cai sữa, khi gia súc nhai lại bắt đầu ăn cỏ, những gia súc nào được nuôi cùng với bố
mẹ chúng học được cách chọn được loại thức ăn phù hợp và tránh được các thức ăn có
chứa độc tố nhanh hơn những con đã được nuôi không có mẹ trong thời kỳ bú sữa (Mieza
và Porvenza,1994). Nolte và Poovenza (1992) thấy rằng cừu con thích những thức ăn có
vị riêng mà chúng đã từng được thấy trong sữa của mẹ chúng.
Rất nhiều hợp chất hoá học trong cây cỏ được chuyển rất nhanh từ mẹ sang con qua bào
thai và gia súc đã tự liên hệ giữa mùi vị của thức ăn và hiệu quả sau khi ăn thức ăn đó khi
còn trong bào thai (Hepper,1989). Như vậy, những gì đã học được khi còn trong bào thai
và từ sữa mẹ về mùi vị của thức ăn đã chứa đựng cả hai thành tố nhận thức và cảm nhận.

* Học tập thông qua các thử nghiệm là sai lầm (Trial and errors)
Giai đoạn thử thức ăn trong quá trình học tập về thức ăn là rất quan trọng bởi vì gia súc,
gia cầm chỉ tạo được các phản xạ có điều kiện đối với thức ăn khi nó ăn thức ăn đó, có
được các thông tin phản hồi từ chính cơ thể mình sau khi ăn và sau đó, thiết lập mối liên
hệ giữa các đặc điểm của thức ăn và kết quả về tiêu hoá sau khi ăn thức ăn đó (Provenza,
1995).
Một trong những cách để một gia súc, gia cầm đánh giá và học về một loại thức ăn nào
đó là thông qua các thử nghiệm và sai lầm. Bằng cách này vật nuôi học được cách tránh
các thức ăn có hại và chọn những thức ăn có lợi cho chúng. Mô hình học tập này dựa trên
các thông tin phản hồi của chính cơ thể gia súc sau khi ăn một thức ăn nào đó. Như vậy,
việc hình thành và phát triển phản xạ có điều kiện thích hoặc không thích một loại thức
ăn nào đó là kết quả của ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực của thức ăn lên cơ thể gia súc,
gia cầm khi ăn thức ăn đó. Thích hay không thích một loại thức ăn nào đó là kết quả từ
kinh nghiệm có được khi gia súc, gia cầm ăn thử một thức ăn nào đó và có được các
thông tin phản hồi về cảm giác, về dinh dưỡng và sinh lý của các thức ăn đó

(Chapple và
Lynch. 1986; Provenza, 1995).
Như đã biết, vật nuôi có được các kinh nghiệm cá nhân về thức ăn thông qua hai quá
trình cảm nhận và nhận thức. Quá trình cảm nhận liên kết vị của thức ăn với các thông tin
phản hồi về thức ăn đó sau khi ăn. Quá trình nhận thức chịu trách nhiệm về nhận dạng
màu, vị, đặc điểm bề ngoài của thức ăn. Hình như học tập thông qua các thử nghiệm và
sai lầm tạo cho vật nuôi có khả năng chọn lọc thức ăn một cách mềm dẻo hơn.
Thử nghiệm và sai lầm để tránh ăn một thức ăn nào đó
Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy học tập để tránh một thức ăn nào đó là một khía
cạnh rất quan trọng của chọn lọc thức ăn (Provenza và Balph, 1990). Quá trình này dựa
trên cơ sở các thông tin phản hồi tiêu cực sau khi ăn. Ví dụ: sau khi ăn một thức ăn có
độc tố, độc tố được hấp thu, mặc dù có thể cơ thể giải độc, nhưng để giải độc cần phải có
thời gian. Nếu độc tố được hấp thu với tốc độ nhanh hơn tốc độ giải độc của cơ thể, nồng
độ độc tố trong cơ thể sẽ tăng lên và gây ra hậu quả tiêu cực, hiệu quả tiêu cực này có thể

ở gia súc, gia cầm. Đây alf phương pháp đơn giản, rẻ tiền và với độ chính xác tương tự.
Chúng ta có thể bố trí một thí nghiệm, trong thí nghiệm này, gia súc được tự do lựa chọn
thức ăn và các nguyên liệu một cách tự do. Kiểu thí nghiệm như thế này đã được khẳng
định là thành công ở gà Broiler nuôi trong điều kiện khí hậu nóng (Gous và Swatson,
2000). Tương tự như vậy, khi có một giống gia súc mới chưa biết nhu cầu dinh dưỡng
của chúng, chúng ta có thể làm theo cách trên để biết nhu cầu dinh dưỡng (Kyriazakis và
cộng sự., 1998). Tuy nhiên, cần lưu ý khi thực hiện các thí nghiệm kiểu này, thức ăn cho
ăn phải thoả mãn các điều kiện sau:
1/ Sự phối hợp các thức ăn là không hạn chế (có nghĩa là phải có nhiều loại thức ăn riêng
lẻ với thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng khác nhau) (Holcombe và cộng sự., 1975;
Kyriazakis và cộng sự., 1998; Bennett, 2003).
2/ Gia súc, gia cầm phải được tự do tiếp xúc với thức ăn một cách liên tục (Kyriazakis và
Oldham.1993)
3/ Thời kỳ chuẩn bị phải đủ dài 1-4 tuần (Pousa và cộng sự., 2005).
Tăng lượng thức ăn ăn vào khi gia súc ăn thức ăn mới
Sử dụng nguồn thức ăn sẵn có, đặc biệt là các phế phụ phẩm công, nông nghiệp là một
chiến lược để phát triển chăn nuôi ở các nước phát triển nhằm đảm bảo có một nền chăn
nuôi bền vững. Tuy nhiên, khi cho gia súc, gia cầm ăn các thức ăn mới (Novel foods)
lượng thức ăn ăn vào thường thấp nên năng suất gia súc, gia cầm thấp (Provenza và
Balph, 1987). Hiện tượng gia súc, gia cầm không ăn nhiều thức ăn mới được gọi là hội
chứng sợ thức ăn (Neophobia). Nephobia là cơ chế tự vệ bẩm sinh cho phép gia súc, gia
cầm có thời gian để học về một thức ăn mới và tránh bị ngộ độc (duToit và cộng sự.,
1991; Nolan và cộng sự., 1995). Nephobia là nguyên nhân chính gây ra việc tránh các
thức ăn mới (Corey, 1978). Đây chính là khó khăn vì sao các thức ăn mới được nghiên
cứu như: tảng liếm urê-rỉ mật, hạt bông, rơm lúa mặc dù là các thức ăn tốt nhưng gia súc
lại không thích ăn. Để vượt qua hiện tượng Neophobia chúng ta có thể có rất nhiều cách:
(1) Gia súc, gia cầm cần được huấn luyện ăn các thức ăn đó cùng với mẹ, cùng với các
con khác (Tiện,1997; Lombato và cộng sự.,1980)
(2) Cho tập ăn thức ăn mới với sự có mặt của mùi, vị của các thức ăn chúng đã quen ăn
hoặc phối hợp với các thức ăn trước đó chúng đã quen ăn (Tiện, 1997).

Sci. 18: 157-162.
Cooper, J. R., F. E. Bloom and R. H. Roth. 1982. The biochemical Basis of Neuropharmacology. 4th
edition. Oxford University Press.
Corey, D. T. 1998. The determinant of exploitation and nephobia. Neuroscience and bihavioural reviews. 2:
235-253.
Do Thi Thanh Van, Nguyen Thi Mui and Inger Ledin. 2005. Tropical foliages: effect of presentation
method and species on intake by goats. Anim. Feeds Sci. and Technol. 118 (1-2): 1-17.
Du Toit, J. T., F. D. Provenza and A. S. Natis. 1991. Conditioned taste aversion: How risk must a ruminant
get before it detects toxicity in foods. Applied Animal Bihaviour Science 30-35.
NRC (1984)
Emmans, G. C. (1991). Diet selection by animals: Theory and experimental design. Proceedings of the
Nutrition Society. 59-64.
Forbes, J. M. 1995. Voluntary Feed Intake and Diet Selection in Farm Animals. CAB international
Walingford, UK. 1995.
Garcia, J., F. R. Ervin, C. H. York and R. A. Koelling. 1967. Conditioning with delayed vitamine injection.
Science, N. Y. 155: 16-18.
Garcia, J., F. R. Ervin and R. A. Koelling. 1966. Learning with prolonged delay of reinforcement.
Pchychon. Sci. 5:1-2.
Grant, R. J. and Albright, J. L. 2000. Feeding behaviour. In: Ed. J. P. F. D'Mello. Farm Animal Metabolism
and Nutrition. CAB international publishing, 2000. Pp: 365-382. (chua cos tai lieu nay).
Gous, R. M. And H. K. Swatson. 2000. Mixture experiment: a severe test of the ability of a broiler chicken
to make the right choice. British Poultry Science> 41: 136-140.
Hepper, P. G. 1989. Foetal learning: implication for psychiatry. Brit. J. Psych. 155:289-293.
Holcombe, D. J., D. A. Roland and R. H. Harms. 1975. The ability of hens to adjust calcium intake when
given a choice of diet containing two levels of calcium. Poultry Science. 54:252-261.
Kouch, T., Preston, T. R., Ly, J. 2003. Studies on utilization of trees and shrubs as the sole feedstuff by
growing goats; foliage preferences and nutrient utilization. Studies on feeding behaviuor in goats fed tree
foliage,. MSc. Thesis. Swedish University of Agricultural Sciences, P.O. Box 7027,750 07 Uppsala,
Sweden.
Kyriazakis, I., Anderson, D. H. and Ducan, A. J.1998. Conditioned flavour aversions in sheep: Relationship

Pousa, S., Boly, H. and Ogle, B. 2005. Choice feeding of poultry: a review. Livestock Research for Rural
Development. 17 (4) 2005 (Chua cos taif lieeuj nayf)
Provenza, F. D. 1995. Postingestive feedback as elementary determinant of food preference and intake in
ruminants. J. Range Manage. 48:2-17.
Provenza, F. D. and D. F. Balph. 1990. Applicability of five diet selection models to various foraging
chaleenges ruminants encounter. In: Behavioural mechanisms of food selection. Ed: Hughes, R. N., NATO
ASI Series. 20: 424-459.
Provenza, F. D., J. A. Pfister and C. D. Cheney. 1992. Mechanisms of learning in diet selection with
reference to phytotoxicosis in herbivorours. J. Range Manage. 45:36-45.
Provenza,1992).
Proverza, F. D. and D. F. Balph. 1987. Diet learning by domestic ruminants: Theory, evidence and practical
implication. Appl. Anim. Behav. Sci. 18: 211-232.
Proveza, F. D., J. J. Lynch and J. V. Nolan.1993. The relative importance of mother and toxicosis in the
selection of foods by lambs. Journal of Chemical Ecology. 19: 313-323.
Proveza, F. D., J. J. Lynch., E. A. Burritt and C. B. Scott. 1994. How goats learn to distinguish between
novel foods that differ in posingestive consequences. Journal of Chemical Ecology. 20: 609-624.
Summers, J. D. and S. Leeson. 1978. Dietary selection of protein and energy by broilers. British Poultry
Science. 19: 425-430. (chua cos tai lieu nay)
Thorhalls Dottir, A. G. and F. D. Provenza. 1988. Ability of lambs to learn about novel food while
observing or participating with social models. Appl. Anim. Behav. Sci. 25: 25-33.
Tien, D. V. 1998. Current practice, potential and solution for integration of livestock and crop in
mountainous ares of Quangbinhf province. In: Report of IFAD and UNDP project in Quangbinh, October,
1998. Pp: 20-28.
Tien, D. V. 1997. Strategies to improve sheep production in Vietnam: current feed use and techniques for
better use of novel feeds for sheep production in Trihai vilage in Southern Vietnam. MSc thesis, the
University of New England, Australia.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status