TRƯỜNG …………………
KHOA………………………
[\[\
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài:
CÔNG NGHỆ
SỐ 2G VÀ 3G
- 1 - LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến gia đình, thầy cô và bạn bè đã ủng
hộ, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài, đặc biệt là Thầy giáo Nguyễn
Quốc Tuấn người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn em hoàn thành khoá luận này.
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên khoá luận không tránh khỏi những thiếu
sót nhất định rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và những người
quan tâm tới đề tài này.Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2008.
Nguyễn Văn Dũng Thắng
2.3.2. Các giao thức sử dụng 16
2.4. Cấu trúc giao thức trong CDMA2000 17
2.5. Các tính năng của hệ thống CDMA2000 20
2.5.1. Loại lưu lượng 20
2.5.2. Độ rộng băng 20
2.5.3. Chất lượng dịch vụ QoS (Quality of Service) 21
2.5.4. Các dịch vụ dữ liệu gói 21
2.6. Các kênh trong CDMA2000 22
2.6.1. Kênh xuôi 22
2.6.2. Kênh ngược 23
2.7. Chức năng truyền dẫn của kênh xuôi và kênh ngược 24
2.7.1. Chức năng truyền dẫn của kênh xuôi 24
2.7.2. Chức năng truyền dẫn của kênh ngược 26
2.8. Sự khác biệt giữa CDMA2000 và cdmaOne 27
2.8.1 Báo hiệu 27
2.8.2 Truyền dẫn 28
2.9 Những tương đồng chủ yếu giữa CDMA2000 1X và WCDMA 28
2.9.1 Các mã số trực giao có chiều dài thay đổi 29
2.9.2 Trải phổ phức hợp liên kết ngược 30
2.9.3 Nhắn tin liên kết xuôi 31
2.9.4 Những đặc điểm độc lập của CDMA2000 1X và WCDMA 32
- 3 -
2.9.5 Băng thông danh định 32
2.9.6 Tốc độ chip 32
2.9.7 Đồng bộ hóa mạng 33
2.9.8 Bộ mã hoá tiếng nói 33
2.9.9 Mạng lõi 33
CHƯƠNG 3 34
3.1 Các đặc điểm của HSDPA 34
3.2 Những cải tiến quan trọng trong HSDPA so với WCDMA 37
Thông tin di động đóng một vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống của chúng ta.
Nhờ có thông tin di động mà mọi trên toàn thế giới có thể liên lạc với nhau một cách rễ
dàng, tuy nhiên nhu cầu con người là rất lớn, bởi mọi người không chỉ đơn thuần là liên
hệ với nhau mà họ còn muốn có các dịch vụ truyền thông đa phương tiện để đáp ứng
được nhu cầu đó của con người các công nghệ thông tin di động đã được ra đời và ngày
càng phát triển, ban đầu với công nghệ 0G, 1G đã cho phép mọi người liên lạc với nhau
thuận tiện hơn, sau đó là công nghệ 2G( như GSM) đã cho phép mọi người sử dụng nhiều
dịch vụ hơn qua mạng thông tin di động, tuy nhiên cho tới này thì cả công nghệ 3G(
UMTS ) và công nghệ 3.5G đã ra đời và phát triển rất mạnh nó cho phép rất nhiều dịch vụ
đa phương tiện như truyền hình ảnh, âm thanh chất lượng cao, và đã phần nào thỏa mãn
được nhu cầu rất lớn của người dùng. Khóa luận cho phép chúng ta hiểu rõ hơn về từng
giai đoạn phát triển của công nghệ thông tin di động qua việc so sánh chúng. Trong đó
công nghệ 3.5G hiện nay là HSDPA là một công nghệ được coi là cải tiến nhất hiện nay
nó đem lại được nhiều dịch vụ truyền chất lượng cao và với tốc độ có thể thỏa mãn được
nhu cầu của người dùng. - 5 -
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHỆ DI ĐỘNG
Có thể học hỏi được nhiều về các vấn đề bảo mật từ các công nghệ thế hệ trước. Nói
thô sơ. Thủ tục này bao gồm việc xác nhận hai số: số nhận dạng di động MIN và số thuê
bao điện tử ESN. Quá trình xác nhận này diễn ra khi một thiết bị di động bắt đầu liên lạc
với hệ thống. Đầu tiên, sổ đen (blacklist) sẽ được kiểm tra xem thiết bị di động này có bị
khóa hay không. Tiếp theo, một bản tin được gửi tới HLR để thông qua sự kết hợp của
MIN và ESN. Cả hai số này được truyền không mã hóa qua giao diện vô tuyến. Hacker có
thể nghe trộm và có thể sử dụng các số này để tạo ra các bản sao bất hợp pháp mà với
chúng, các hacker có thể nhận thực thành công dưới dạng một thuê bao khác. Vấn đề càng
trở nên trầm trọng khi nhiều nhà cung cấp thậm chí không thực hiện việc nhận thực trên
các máy di động do việc thiếu hụt sự chuẩn hóa và các lý do về hiệu suất. Điều này gây
nên việc sử dụng trái phép vô cùng lớn trong các mạng di động.
1.2. Công nghệ số - 2G và 3G
1.2.1. 2G
Mốc đánh dấu quan trọng trong quá trình phát triển của các công nghệ di động là sự
ra đời của xử lý tín hiệu số DSP. Nhờ có DSP, chất lượng thoại được cải tiến đáng kể vì
thông tin số không bị ảnh hưởng bởi méo. Thêm vào đó, dải phổ có thể được sử dụng một
cách hiệu quả hơn hẳn nhờ có các kỹ thuật hợp kênh. Bởi vì các kỹ thuật tương tự sử
dụng FDMA, chỉ có một người dùng có thể sử dụng một tần số xác định tại bất kỳ thời
gian nào trong một cell. Với công nghệ 2G, vấn đề này được giải quyết bằng cách sử
dụng TDMA và CDMA. Các kỹ thuật này cho phép nhiều người dùng chia sẻ cùng một
tần số.
Cấu trúc bảo mật cũng có những bước cải tiến đáng kể. Có hai chuẩn chính trong
2G: GSM và cdmaOne. Cả hai chuẩn này đều sử dụng kỹ thuật đòi hỏi – đáp ứng
(challenge – response) để nhận diện người dùng. Khi thực hiện cuộc gọi, thiết bị di động
cần tính toán một đáp ứng cho đòi hỏi (dưới dạng một số ngẫu nhiên) được gửi bởi mạng.
Đáp ứng này được tính toán sử dụng một khóa bí mật duy nhất được lưu trên thiết bị di
động đó. Đáp ứng này sau đó có thể được xác nhận bởi mạng, vì nó cũng lưu trữ khóa bí
mật trùng với khóa lưu tại thiết bị di động của người dùng. Khóa này sau đó có thể sử
dụng để thiết lập việc mã hóa trên đường truyền qua giao diện vô tuyến.
Nhìn lại những vấn đề đối với thế hệ tương tự, có thể kết luận rằng ít nhất về mặt lý
thuyết những vấn đề này đã được giải quyết. Việc truyền dẫn đã được mã hóa để bảo vệ
EDGE.
- 8 -
- IMT – FT (Frequency Time): còn được gọi là DECT.
Trong năm giao diện này, IMT – DS (hay UMTS) và IMT – MC (hay CDMA2000)
được coi là hai chuẩn chính. UMTS được phát triển ở châu Âu và là thế hệ sau của GSM.
CDMA2000 là thế hệ sau của cdmaOne và được phát triển ở Mỹ.
Hình 1. Lộ trình phát triển lên 3G (Phai de cap den HSDPA)
1.3 HSPDA(3.5G)
HSDPA (High Speed Downlink Packet Access), gói đường truyền tốc độ cao, là một
sản phẩm của công nghệ 3G cho phép các mạng hoạt động trên hệ thống UMTS có khả
năng truyền tải dữ liệu với tốc độ cao hơn hẳn. Công nghệ HSDPA hiện nay cho phép tốc
độ download đạt đến 1.8, 3.6, 7.2 và 14.4 Mbit/giây, và trong tương lai gần, tốc độ hiện
nay có thể được nâng lên gấp nhiều lần. Khi đó, các mạng cung cấp có thể được nâng cấp
thành Evolved HSPA, cho phép tốc độ download đạt đến 42 Mbit/giây. Với những ưu thế
vượt trội đó, HSDPA đang trở thành một công nghệ được nhiều nhà cung cấp quan tâm
phát triển.
HSDPA là một phương thức truyền tải dữ liệu theo phương thức mới. Đây được coi
là sản phầm của dòng 3.5G. công nghệ này cho phép dữ liệu download về máy điện thoại
có tốc độ tương đương với tốc độ đường truyền ADSL, vượt qua những cản trở cố hữu về
tốc độ kết nối của một chiếc điện thoại thông thường. Đây là giải pháp mang tính đột phá
về mặt công nghệ và được phát triển trên cơ sở của hệ thống 3G W-CDMA.HSDPA có
tốc độ truyền tải dữ liệu lên tối đa gấp 5 lấn so với khi sử dụng công nghệ W-CDMA. Về
- 9 -
mặt lý thuyết, HSDPA có thể đạt tốc độ truyền tải dữ liệu lên tới 8-10 Mbps
(Megabit/giây). Mặc dù có thể truyền tải bất cứ dạng dữ liệu nào, song mục tiêu chủ yếu
của HSDPA là dữ liệu dạng video và nhạc.HSDPA được phát triển dựa trên công nghệ
W-CDMA, sử dụng các phương pháp chuyển đổi và mã hóa dữ liệu khác. Nó tạo ra một
kênh truyền dữ liệu bên trong W-CDMA được gọi là HS-DSCH (High Speed Downlink
Shared Channel), hay còn gọi là kênh chia sẻ đường xuống tốc độ cao. Kênh truyền tải
- Giới hạn công suất
Bởi các sự khác biệt này, các giao thức và các thuật toán sử dụng cho mạng cố định
thường có quá nhiều lợi thế so với các giao thức và các thuật toán sử dụng cho mạng vô
tuyến. Điều này tạo ra một thách thức lớn cho việc thiết kế cấu trúc bảo mật cho các mạng
vô tuyến. Yêu cầu thứ hai là do trên thực tế khi chuyển vùng, không có kết nối an toàn
nào giữa mạng và người dùng. Các dữ liệu của thuê bao sẽ được gửi bởi một kết nối
không an toàn, có thể bị sử dụng để xâm phạm thông tin cá nhân của người dùng. Việc
thiết kế càng trở nên phức tạp hơn, do cần phải tương thích với các công nghệ vô tuyến
đời cũ hơn.
Để đạt được các yêu cầu này, các mô hình bảo mật của 3GPP và 3GPP2 đã được cải
tiến và dẫn tới các mục tiêu sau:
Tăng cường cấu trúc bảo mật 2G trong:
- Nhận thực thuê bao
- Mã hóa giao diện vô tuyến
- Nhận dạng thuê bao một cách tin cậy
- Sử dụng các module nhận thực thuê bao (có thể gỡ bỏ được)
- Tạo ra lớp ứng dụng an toàn giữa máy di động và mạng
- Sự trong suốt của các tính năng bảo mật
Đảm bảo ở một mức độ an toàn thỏa đáng cho:
- Người dùng
- Mọi thông tin gửi đi bởi người dùng
- Các tài nguyên và dịch vụ cung cấp bởi mạng dịch vụ
- 11 -
Đảm bảo sự tồn tại của ít nhất một thuật toán đã được mã hóa có thể sử dụng trên
toàn thế giới.
Đảm bảo sự chuẩn hóa thỏa đáng của các tính năng bảo mật.
Đảm bảo khả năng mở rộng các tính năng và kỹ thuật bảo mật.
1.4.2. Các mối đe dọa với việc bảo mật của hệ thống 3G
Việc truy cập trái phép vào dịch vụ: Trong trường hợp này, kẻ xâm nhập sẽ truy
cập trái phép bằng cách giả mạo hoặc sử dụng trái phép quyền truy cập.
Giai đoạn thứ nhất được định nghĩa là chuẩn có tên 1xRTT. Được hoàn tất vào
tháng 7 năm 1999, giai đoạn này của CDMA2000 mang tên là chuẩn TIA theo IS-
2000 và mang tên là chuẩn MC-1X theo ITU. 1xRTT cung cấp gấp đôi dung lượng
thoại và thời gian chờ so với IS-95, và cho phép tốc độ dữ liệu lên tới 384 Kbps
(theo lý thuyết). Nó hoạt động ở kênh 1.25 MHz.
Giai đoạn thứ hai của CDMA2000 là 3xRTT kết hợp chặt chẽ các khả năng của
1xRTT, có tốc độ dữ liệu lên tới 2Mbps (theo lý thuyết), hỗ trợ tất cả các loại kênh
(5 MHz, 10 MHz, vv ).
2.2. 1xEV: 1xEV – DO và 1xEV – DV
1xEV là bước phát triển kế tiếp của 1x. Nớ dựa trên công nghệ tốc độ dữ liệu cao
Qualcomm HDR. Các xu hướng dẫn đến sự ra đời của 1xEV là:
Trong trình tự phát triển của CDMA2000 1x, khả năng dữ liệu tốc độ cao để hỗ trợ
các dịch vụ dựa trên nền Internet ở hiện tại và trong tương lai sẽ trở nên hết sức
quan trọng.
Dải phổ sẽ trở thành một tài nguyên khan hiếm, làm cho hệ thống 1.25 MHz trở
nên hấp dẫn hơn nhiều so với hệ thống 5 MHz (3x), chỉ cần đạt được hiệu suất
tương đương. Những nhà khai thác và người dùng sẽ được lợi từ những hệ thống
này thông qua:
- Tốc độ cao và dung lượng cao của hệ thống truyền dẫn dữ liệu gói.
- 13 -
- Hiệu quả sử dụng dải phổ cao hơn cho chuyển mạch gói.
- Thoại với hiệu quả sử dụng dải phổ cao hơn.
- Sự nâng cấp và linh hoạt của hệ thống CDMA2000 1x tốt hơn nhiều so với
hệ thống 3x trong việc phát triển lên từ hệ thống 2G hiện tại.
- Hệ thống CDMA2000 1x tối thiểu hóa tác động trên các thiết bị trong vùng
tế bào và các thiết bị cầm tay trong việc cung cấp các dịch vụ dữ liệu gói tốc
độ cao.
Để đạt được các yêu cầu của nhà khai thác CDMA2000 trong việc triển khai các
dịch vụ dữ liệu gói tốc độ cao trong sóng mang 1.25 MHz, 1xEV sẽ được định nghĩa
trong hai giai đoạn:
vẫn bị ngừng trệ. 1xEV-DO được dựa trên công nghệ dữ liệu tốc độ cao HDR hoặc dữ
liệu gói tốc độ cao HRPD, phát triển bởi Qualcomm. Chuẩn quốc tế gọi là IS-856.
2.2.2. 1xEV – DV
1xEV-DV là một chuẩn trong họ các tiêu chuẩn vô tuyến của CDMA2000 1x. EV-
DV là viết tắt của “Evolution, Data and Voice”. 1xEV-DV kết hợp cả công nghệ tốc độ
cao HDR từ 1xEV-DO với chuẩn 1xRTT được triển khai rộng rãi. Nó tích hợp liền mạch
với 1xRTT, cung cấp khả năng tương thích với các hệ thống cũ và đồng thời cả thoại và
dữ liệu.
Có hai phiên bản của 1xEV-DV: "Revision C" và "Revision D"
- Revision C cung cấp tốc độ dữ liệu cao chỉ cho chiều xuôi, có nghĩa là tốc độ
download sẽ nhanh hơn. Chiều ngược giống như chuẩn 1xRTT.
- Revision D cung cấp tốc độ dữ liệu cao cho cả hai chiều, lý tưởng cho các ứng
dụng như hội thoại video và tải lên các file dung lượng lớn. Revision D cũng tích
hợp việc nhận dạng thiết bị di động MEID.Sự phát triển 1xEV-DV đang bị chững
lại, bị cản trở bởi 1xEV-DO Revision A và công nghệ VoIP.
- 15 -
2.3. Cấu trúc hệ thống CDMA2000 :
Hình 2. Cấu trúc hệ thống CDMA2000
2.3.1. Các thành phần của hệ thống
Trạm di động MS (Mobile Station): là thiết bị cho người sử dụng truy cập vào
mạng. MS có thể là điện thoại cầm tay, máy tính…
Trạm thu phát gốc BTS (Base Transceiver Station): chịu trách nhiệm cấp phát
các tài nguyên cho các thuê bao. BTS chứa các thiết bị thu phát vô tuyến, nó là
- 16 -
giao diện giữa mạng CDMA2000 và thiết bị của người sử dụng UE (User
Equipment).
định nghĩa giao diện giữa MSC, HLR, VLR, và AC, cũng như giao diện giữa các
MSC với nhau.
2.4. Cấu trúc giao thức trong CDMA2000
Hình 3. Cấu trúc giao thức trong CDMA2000
Hình 3 minh họa cấu trúc giao thức sử dụng trong CDMA2000. Cấu trúc phân lớp
trong hình trên tương tự với cấu trúc phân lớp trong mô hình tham chiếu OSI. Một điểm
- 18 -
khác biệt về cấu trúc giữa cdmaOne và CDMA2000 là CDMA2000 nêu ra rõ ràng chức
năng của bốn lớp giao thức khác nhau. Bốn lớp giao thức đó là lớp vật lý, lớp điều khiển
truy cập phương tiện MAC (Media Access Control), lớp điều khiển truy cập đường báo
hiệu LAC (Signaling Link Access Control), và lớp cao hơn.
Lớp vật lý (lớp 1): Lớp vật lý chịu trách nhiệm phát và thu các bit thông qua
phương tiện vật lý. Vì phương tiện vật lý trong trường hợp này là không trung, nên
lớp vật lý phải chuyển đổi bit sang dạng sóng (ví dụ như điều chế) để cho phép
truyền qua không trung. Bên cạnh việc điều chế, lớp vật lý còn thực hiện các chức
năng mã hóa để thực hiện các chức năng điều khiển lỗi tại mức bit và mức khung.
Lớp con MAC (lớp 2): Lớp con MAC điều khiển việc truy cập của lớp cao hơn
vào phương tiện vật lý được chia sẻ bởi các người dùng khác nhau. Về mặt này,
MAC thực hiện các chức năng tương tự như thực thể MAC điều khiển mạng cục
bộ LAN. Trong khi LAN MAC điều khiển truy cập từ các máy tính khác nhau tới
bus dùng chung, lớp con CDMA2000 MAC quản lý việc truy cập của các người
dùng khác nhau (thoại tốc độ thấp và dữ liệu tốc độ cao) tới giao diện trên không
dùng chung.
Lớp con LAC (lớp 2): Lớp con LAC chịu trách nhiệm đảm bảo sự tin cậy của các
bản tin báo hiệu được trao đổi. Cần nhớ rằng các phương tiện truyền qua không
trung là rất dễ xảy ra lỗi, nên bản tin tại thời điểm nhận được (và được chấp nhận)
là có thể có lỗi. Mặt khác, vì bản tin báo hiệu cung cấp các chức năng điều khiển
quan trọng, các bản tin này cần phải được truyền và nhận một cách tin cậy. Lớp
con LAC thực hiện một tập các chức năng để đảm bảo việc chuyển phát một cách
người dùng được trao đổi giữa thực thể SRBP/RLP và các thực thể lớp cao hơn. Có
hai loại đơn vị dữ liệu: đơn vị dữ liệu truyền tải PDU và đơn vị dữ liệu dịch vụ
SDU. PDU được sử dụng cho các đơn vị dữ liệu được nhận bởi nhà cung cấp dịch
vụ từ yêu cầu dịch vụ, và SDU được sử dụng cho các đơn vị dữ liệu được gửi tới
nhà cung cấp bởi người yêu cầu dịch vụ.
Trong lớp con MAC, có bốn loại thực thể: SRBP, RLP, lớp con hợp nhất các
kênh dùng chung, và lớp con hợp nhất các kênh dùng riêng. Lớp con hợp nhất
các kênh dùng chung thực hiện việc ánh xạ giữa các kênh logic dùng chung (kênh
được chia sẻ giữa nhiều người dùng) và kênh vật lý dùng chung. Lớp con hợp nhất
các kênh dùng riêng thực hiện việc ánh xạ giữa các kênh logic dùng riêng (kênh
được dành riêng cho một số người dùng) và kênh vật lý dùng riêng. Cần lưu ý rằng
- 20 -
kênh dùng riêng có thể sử dụng cho cả báo hiệu và dữ liệu người dùng, còn kênh
dùng chung chỉ được dùng cho báo hiệu. SRBP và RLP là các thực thể giao thức
dùng trong lớp con MAC. SRBP xử lý việc báo hiệu kênh chung (ngược lại với
báo hiệu kênh riêng) và RLP xử lý thông tin người dùng.
2.5. Các tính năng của hệ thống CDMA2000
2.5.1. Loại lưu lượng
CDMA2000, cũng như các công nghệ 3G khác, hỗ trợ các loại lưu lượng sau (tốc độ
dữ liệu từ 9.6 kbps đến 2 Mbps):
Thoại truyền thống và VoIP
Các dịch vụ dữ liệu
- Dữ liệu gói: Các dịch vụ này dựa trên nền IP với giao thức TCP hoặc UDP tại lớp
giao vận. Nằm trong loại này là các ứng dụng Internet, các dịch vụ đa phương tiện
loại H.323 vv
- Dữ liệu băng rộng mô phỏng kênh (circuit-emulated broadband data): ví dụ như
fax, truy cập dial-up không đồng bộ, các dịch vụ đa phương tiện loại H.321 nơi mà
audio, video, dữ liệu, điều khiển và chỉ thị được truyền trên mô phỏng kênh qua
ATM
- SMS (Short Messaging Service)
đảm bảo chất lượng yêu cầu mà không có sự sút giảm đáng kể trong QoS đã quy ước với
khách hàng.
2.5.4. Các dịch vụ dữ liệu gói
CDMA2000 hỗ trợ các dịch vụ dữ liệu gói. Từ lúc khởi đầu, nếu có một gói để gửi,
người dùng cố gắng thiết lập các kênh điều khiển dùng chung và dùng riêng sử dụng
phương thức đa truy cập phân khe Aloha. Trong phương thức này, một xung nhịp tham
- 22 -
chiếu được sử dụng để tạo ra một dãy các khe thời gian có độ dài bằng nhau. Khi người
dùng có một gói cần gửi, nó có thể bắt đầu truyền, nhưng chỉ tại lúc bắt đầu của một khe
thời gian chứ không phải tại khoảng thời gian bất kỳ lúc nào. Lưu ý rằng mặc dù người
dùng được đồng bộ hóa nhờ xung nhịp tham chiếu, có một vài xác suất rằng có thể có hai
người dùng hoặc nhiều hơn có thể bắt đầu truyền tại cùng một thời điểm. Khi các kênh
này được thiết lập, người dùng có thể gửi các gói tin thông qua kênh điều khiển dùng
riêng, và có thể yêu cầu một kênh lưu lượng hoặc một độ rộng băng thích hợp. Một khi
kênh lưu lượng đã được cấp, người dùng truyền gói tin, việc bảo trì sự đồng bộ hóa và
điều khiển công suất là cần thiết, và việc giải phóng kênh lưu lượng ngay sau khi truyền
xong hoặc sau một khoảng thời gian nhất định. Nếu không còn gói nào để gửi, kênh điều
khiển dùng riêng cũng được giải phóng sau một khoảng thời gian, nhưng kết nối lớp
mạng và lớp liên kết vẫn được duy trì trong một khoảng thời gian để nếu có gói mới đến
thì vẫn sẽ được truyền mà không bị mất thời gian thiết lập kênh. Tại cuối khoảng thời
gian đó, các gói ngắn và không thường xuyên sẽ được gửi qua một kênh điều khiển dùng
chung. Người dùng có thể ngắt kết nối tại thời điểm đó, hoặc tiếp tục trong trạng thái đó
vô hạn, hoặc tái thiết lập kênh điều khiển dùng riêng và kênh lưu lượng nếu có các gói lớn
hoặc thường xuyên cần gửi.
2.6. Các kênh trong CDMA2000
2.6.1. Kênh xuôi
Các kênh xuôi trong CDMA2000 chia làm kênh báo hiệu và kênh người dùng.
Bảng 1. Kênh xuôi trong CDMA2000
- 23 -
Kênh
báo hiệu
Kênh dùng chung
R-ACH (Access Channel)
R-EACH (Enhanced Access Channel)
R-CCCH (Reverse Common Control Channel)
- 24 -
Kênh dùng riêng
R-PICH (Reverse Pilot Channel)
R-DCCH (Reverse Dedicated Control Channel)
Kênh người dùng
R-FCH (Reverse Fundamental Channel)
R-SCH (Reverse Supplemental Channel)
R-SCCH (Reverse Supplemental Code Channel)
2.7. Chức năng truyền dẫn của kênh xuôi và kênh ngược
2.7.1. Chức năng truyền dẫn của kênh xuôi
Hình 5 minh họa sơ đồ đơn giản của các chức năng truyền dẫn của kênh xuôi của
hệ thống CDMA2000 đơn sóng mang trải phổ trực tiếp. Để đơn giản, chỉ có một số kênh
xuôi vật lý được đưa ra trong hình. CDMA2000 có hai loại kênh lưu lượng – kênh cơ bản
và kênh phụ. Một số tốc độ dữ liệu được hỗ trợ. Tùy thuộc vào tốc độ dữ liệu, mã xoắn
với tốc độ 1/2, 3/8, 1/3, hoặc 1/4 có thể được sử dụng. Cả hai loại khung 10 ms và 5 ms
đều được hỗ trợ. Các biểu tượng của kênh I và kênh Q được nhân với các hệ số tích lũy
(gain factor) để cung cấp thêm một số điều khiển công suất. Cũng như trong IS-95, các tế
bào được phân tách bởi các độ lệch (offset) của các dãy PN hoa tiêu khác nhau (chu kì
của các dãy PN này là 2
15
– 1 chip). Tuy nhiên, giờ đây, các phương pháp trải phổ phức
được sử dụng bằng cách, đầu tiên, thêm các giá trị thực của dãy I và Q trong phép cầu
phương (quadrature) để kết quả trở thành số phức và sau đó nhân nó với một số phức