Bài giảng: Đánh giá tác động của môi trường - Pdf 15

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
BỘ MÔN MÔI TRƯỜNG
BÀI GIẢNG MÔN HỌC
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG PGS.TS NGUYỄN VĂN THẮNG
THS NGUYỄN VĂN SỸ
Thành) 80
Bảng 4-
1: Bảng tổng hợp các tác động tiêu cựccủa dự án xây dựng đập, hồ chứa 93
và các biện phá
p giảm thiểu 93 DANH MỤC HÌNH


1.1.1 Quá trình phát triển kinh tế xã hội và tác động đến môi trường
1
1.1.2 Phát triển bền vững
4
1.2 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 9
1.2.1 Khái niệm, mục đích của đá
nh giá tác động môi trường 9
1.2.2 Vai trò của đánh giá tác động m
ôi trường 10
1.2.3 Lợi ích của đánh giá tác động môi trường
11
1.3 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA ĐTM
12
1.3.1 Trên thế giới
12
1.3.2 Ở Việt Nam
13
1.4 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA ĐTM
13
1.4.1 Giới thiệu chung về cơ sở pháp lý của ĐTM
13
1.4.2 Quá trình thực hiện ĐTM
15
1.4.3 Chu trình dự án và trình tự thực hiện ĐTM
15
1.4.4 Phân cấp dự án phải lập bá
o cáo ĐTM ở Việt Nam 24
CHƯƠNG 2
: PHÂN TÍCH NHẬN BIẾT VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI
TRƯỜNG 27

53
2.6.1 Giới thiệu chung
53
2.6.2 Nội dung đánh giá tác động môi trường xã hội
54
2.6.3 Phương pháp đá
nh giá tác động môi trường xã hội 56
2.7 SỰ THAM GI
A CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI
TRƯỜNG 56
CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG P
HÁP KỸ THUẬT DÙNG TRONG ĐÁNH GIÁ
TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 60
3.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ
60
3.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ NHANH
61
3.2.1. Phương pháp liệt kê các số liệu môi trường
61
3.2.2 Phương pháp kiểm tra
danh mục môi trường 62
3.2.4 Phương pháp ma trận môi trường
78
3.2.5 Phương pháp sơ đồ mạng lưới
81
3.2.6 Phương pháp chập bản đồ môi trường
82
3.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHỨC TẠP, ĐÁNH GIÁ ĐỊNH LƯỢNG
84
3.3.1 Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích mở rộng

146
4.4.2 Các hoạt động của dự á
n 148
4.4.3 Các tác động m
ôi trường chủ yếu 148
4.4.4 Một số giải pháp trong quy hoạch, thi công xây dựng và quản lý để̉ giảm th
iểu
các tác động tiêu cực đến môi trường của dự án 149
LỜI NÓI ĐẦU

Hiện nay bảo vệ môi trường và phát triển bền vững là một vấn đề vô cùng cấp
thiết, đang được sự quan tâm hàng đầu của thế giới cũng như của nước ta nhằm đối
phó với tình trạng môi trường sống trên trái đất đang ngày càng xuống cấp, đe doạ sự
phát triển lâu bền của nhân loại.
Tập Bài giảng môn học "Đánh giá tác động môi trường” của Bộ môn Môi trường -
Khoa Môi trường của Trường Đại học Thủy lợi nhằm cung cấp các kiến t
hức cơ bản về
đánh giá tác động môi trường cho sinh viên các ngành trong toàn trường để sinh viên có
thể nắm bắt các kiến thức chủ yếu để học tập môn học trên lớp và tự học ở nhà.
Tập bài giảng do PGS.TS Nguyễn Văn Thắng và Th.s nguyễn Văn Sỹ biên soạn,
dựa theo đề cương môn học đã cải tiến và đã được Trường Đại Học Thủy Lợi thông
qua. Các sinh viên khi học tập cần tham khảo thêm các
kiến thức trong tập giáo trình “
Môi trường và dánh giá tác động môi trường ” của Bộ môn Môi trường đã xuất bản

các thực thể của tự nhiên mà ở đó cá thể, quần thể, loài có quan hệ trực tiếp hoặc
gián tiếp bằng các phản ứng thíc
h nghi của mình. Từ khái niệm này có thể phân biệt
được đâu là môi trường của loài này, đâu là môi trường của loài khác.
Môi trường tự nhiên bao gồm thành phần vô sinh và thành phần hữu sinh. Môi
trường vô sinh bao gồm những yếu tố không sống, như là các yếu tố vật lý, hóa học
của đất, nước, không khí… gọi chung là môi trường vật lý. Môi trường hữu sinh ba
o
gồm các thực thể sống như là các loài động vật, thực vật và các vi sinh vật tren cạn và
dưới nước, gọi chung môi trường sinh thái. Cách phân loại này cần nhớ vì nó là cơ sở
để nhận biết cũng như tiến hành đánh giá các tác động môi trường mà chúng ta sẽ học
trong các phần sau của môn học này.
Môi trường sống của con người
Đối với con người thì môi trường chứa đựng nội dung rộng hơn. Theo định nghĩa
của UNESCO (1981) thì “môi trường sống của con người ba
o gồm toàn bộ các hệ
thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, như những cái hữu hình (như các
thành phố, các hồ chứa ) và những cái vô hình (như tập quán, nghệ thuật ), trong đó
con người sống và bằng lao động của mình họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và
nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình”. Như vậy, môi trường sống của con
người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật là
con người, mà còn là “khung cảnh của c
uộc sống, của lao động và sự nghỉ ngơi của
con người”.
Trong môn học này, đánh giá tác động môi trường chúng ta sẽ học không chỉ là
đánh giá tác động đến thành phần môi trường tự nhiên (vật lý, sinh thái) mà còn phải
đánh giá tác động đến thành phần môi trường xã hội để xem
dự án có tác động gì xấu
tới cuộc sống của cộng đồng dân cư sống trong vùng dự án hay không và tác động đó
như thế nào.

Một định nghĩa khác của phát triển theo Davit Munro thì “phát triển là bất kỳ và
toàn bộ những loại hoạt động và quá trình làm tăng được năng lực của con người hoặc
môi trường để đáp ứng những nhu cầu của con người hoặc nâng cao chất lượng cuộc
sống con người”.
Sản phẩm của sự phát triển là mọi người được mạnh khoẻ, được nuôi dưỡng tốt,
có quần áo mặc, có nhà ở, đư
ợc tham gia vào công việc sản xuất mà họ được đào tạo
tốt và có thể hưởng thụ thời gian rảnh rỗi và giải trí mà tất cả mọi người có nhu cầu.
Như vậy, phát triển không chỉ bao hàm
việc khai thác và chế biến các nguồn tài
nguyên, xây dựng cơ sở hạ tầng, mua và bán sản phẩm mà còn gồm cả những hoạt
động không kém phần quan trọng như chăm sóc sức khoẻ, an ninh xã hội, giáo dục,
bảo tồn thiên nhiên và hỗ trợ văn học nghệ thuật.
Các hoạt động phát triển nhằm đạt tới một mục tiêu nhất định. Các mục tiêu đó
thường được cụ thể hóa bằng những chỉ tiêu về đời sống vật chất như lương thực, nhà
ở, năng lượng, vật liệu, điều kiện sức khỏe và về đời sống tinh thần như giáo dục,
hoạt động văn hóa nghệ thuật, bì
nh đẳng xã hội, tự do chính trị Mục tiêu của các
hoạt động phát triển tuỳ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế, chính trị, truyền thống lịch sử
của mỗi nước, mỗi dân tộc. Mỗi nước trên thế giới đều có những đường lối, chính
sách, mục tiêu và c
hiến lược phát triển riêng, do đó đã đem lại những hiệu quả phát
triển rất khác nhau và tạo ra sự phân hoá ngày càng lớn lao về kinh tế - xã hội.
Tác động của hoạt động phát triển đến môi trường
Các hoạt động phát triển đều có thể tác động đến môi trường thông qua:

3
- Tiêu tốn một lượng tài nguyên tự nhiên nhất định như sử dụng các loài động,
thực vật để sinh sống, khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên như sử
dụng đất, nước, khoáng sản và các nguồn năng lượng từ đó có thể làm cạn kiệt các

bừa bãi, tiêu tốn nó một cách nhanh chóng và lãng phí cho cuộc sống mà không tính
toán đến sự bù đắp lại hay sự vượt quá khả năng tái tạo của tự nhiên. Phát triển theo
hình thức này đã có từ lâu đời gọi chung là “ phát triển truyền thống” trong đó con
người chỉ quan tâm đến khía cạnh kinh tế của việc sử dụng tài nguyên mà không quan
tâm đến các yếu tố xã hội và sinh thái hay các hậu quả môi trường của việc sử dụng tài
nguyên.
Trong c
ác thế kỷ trước đây khi dân số còn ít và trình độ của nền kinh tế còn thấp
nên phát triển truyền thống chưa bộc lộ những hậu quả xấu tới môi trường, chưa nảy
sinh các mâu thuẫn gay gắt giữa môi trường và phát triển. Tuy nhiên, với dân số ngày
càng tăng, trình độ nền kinh tế cũng như tốc đô khai thác sử dụng tài nguyên ngày
càng tăng cao nên kể từ nửa cuối thế kỷ 20 đến nay mâu thuẫn giữa môi trường và
phát triển đã nảy sinh và ngày càng ngay gắt tại nhiều nơi, nhất là tại các nước công
nghiệp phát triển và có xu thế là: 4.

Tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Môi trường sống của con người họp năm
1972 ở Thuỵ Sĩ đã đi đến kết luận rằng nguyên nhân của nhiều vấn đề quan trọng về
môi trường không phải là do phát triển mà chính là do hậu quả của sự kém phát triển.
Những đe doạ do sự phát triển hiện nay của thế giới đối với môi trường chủ yếu là:
- Sự suy giảm về độ lớn và chất lượng của một số tài nguyên thi
ên nhiên có ý
nghĩa cơ bản đối với đời sống con người như đất, nước, rừng, thủy sản, khoáng sản và
các dạng tài nguyên năng lượng. Sự suy thoái này trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21 có
khả năng dẫn tới tình trạng thiếu thốn nghiêm trọng về lương thực cho nhân loại.

bằng với môi trường. Đó là xuất phát điểm của việc ra đời khái niệm phát triển bền
vững thay cho phát triển truyền thống trước đây.
1.1.2 Phát triển bền vững
Phát triển càng tăng
cường độ
Chất lượng môi trường
sống càng bị suy giảm.

5
1.1.2.1 Sự ra đời của phát triển bền vững
Phát triển bền vững (PTBV) là một khái niệm mới về sự phát triển xuất hiện trên
thế giới trong vài thập kỷ gần đây. Khái niệm này được đưa ra khi mà mâu thuẫn giữa
môi trường và phát triển đã trở thành sâu sắc ở nhiều nước trên thế giới do con người
đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế mà không quan tâm đúng mức tới bảo vệ môi
trường. Điều đó khiến cho nhiều tài nguyê
n thiên nhiên bị sử dụng quá mức đang tiến
tới nguy cơ bị cạn kiệt, ô nhiễm môi trường gia tăng, đe doạ sự phát triển lâu bền của
nhân loại.
Thuật ngữ PTBV có nguồn gốc từ những năm 70 của thế kỷ 20 và lần đầu tiên đã
khuấy động thế giới về Môi trường và phát triển quốc tế nhờ sự ra đời và
xuất bản
cuốn sách có nhan đề “Chiến lược bảo tồn thế giới” (1980). Tác phẩm này đã được
phổ biến rộng rãi nhờ có Báo cáo Brundland “Tương lai của chúng ta” (1987) và đã
được làm chi tiết hơn trong hai tài liệu khác là “Chăm lo cho trái đất ” (1991) và “Lịch
trình Thế kỷ 21” (1992).
PTBV theo Hội đồng thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) được nêu
trong cuốn “Tương lai của chúng ta” là “sự phát
triển nhằm đáp ứng nhu cầu của thế
hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ
tương lai”.


6
đến một tương lai lâu bền cho nhân loại. Tìm kiếm sự PTBV có nghĩa là phải chỉ ra
các kiểu của phát triển cũng như cường độ của nó trong mỗi điều kiện môi trường nhất
định, những mốc và mức độ cần thiết của hoạt động và nội dung quản lý môi trường
cần tiến hành trong mỗi thời kỳ.
Để tiến tới PTBV cần phải duy trì và bảo vệ các nguồn tài nguyên một cách chặt
chẽ. Các tài nguyên không tái tạo cần phải sử dụng tiết kiệm và hiệu quả theo các
phương thức và kỹ thuật phù hợp nhất. Các tài nguyê
n tái tạo cần khai thác sử dụng
hợp lý, duy trì năng lực sản xuất và sự phục hồi tự nhiên của nó. Các nguồn thu được
từ khai thác tài nguyên, một phần phải đầu tư lại cho các biện pháp bảo vệ và làm sạch
môi trường.
Sau hội nghị Stockhom, môi trường và PTBV đã trở thành vấn đề quốc tế. Tuy
nhiê
n, những năm sau đó, việc đưa môi trường thành một phần trong kế hoạch phát
triển quốc gia và trong việc ra quyết định cũng mới thu được kết quả rất hạn chế.
Dựa trên các khuyến nghị của WCED, tháng 6 năm 1992 hội nghị Thượng đỉnh
về Môi trường và Phát triển lần đầu tiên được tổ chức tại Rio de Janeiro (Bradin) với
sự tham gia của chính phủ 172 nước trên thế giới, trong đó có 108 vị đứng đầu nhà
nước. Hội nghị đã nhất trí lấy PTBV làm mục tiêu của toàn nhân loại để tiến vào thế
kỷ 21. Hội nghị đã đạt được sự thoả thuận của các nước về 4 văn kiện quan trọng là
“Tuyên ngôn các nguyên tắc, Tuyên bố Rio và Chương trình hành động, Lịch trình Thế
kỷ 21, Công ước khung về biến đổi khí hậu và đa dạng sinh học ”.
Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển đã xác định quyền và trách nhiệm của
tất cả các quốc gia đối với những nguyên tắc cơ bản của môi trường và phát triển. Thí

dụ như các quốc gia được toàn quyền khai thác các nguồn lợi riêng của mình, nhưng
không được gây phương hại tới môi trường của các nước khác; việc xoá bỏ sự nghèo
đói và giảm sự chênh lệch về mức sống trên phạm vi toàn thế giới là không thể thiếu
Bảo vệ Xã hội
môi trường chấp nhận
KINH TẾ
Hình 1-
1: Tiếp cận khái niệm kinh tế, xã hội, sinh thái trong phát triển bền vững
PTBV đòi hỏi trong khi tiến hành các hoạt động phát triển ngoài việc đảm bảo
các mục tiêu kinh tế, còn phải đảm bảo các mục tiêu phát triển xã hội và bảo toàn các
nhân tố sinh thái của môi trường. Nói cách khác, trong phát triển phải thực sự coi
trọng yêu cầu bảo vệ môi trường.
Bảo vệ là sự quản lý sinh quyển một cách chặt chẽ để đảm bảo cho sử dụng các
nguồn tài nguyên tái tạo đúng với khả năng của chúng, mang lại lợi ích tối đa, không
làm giảm sút khả năng hồi phục và tiềm năng sản xuất của tài nguyên trong tương lai.
Nó là hoạt động có ý nghĩa tích cực, bao gồm cả bảo quản, duy trì, sử dụng hợp l
ý, hồi
phục và nâng cao hiệu suất sử dụng các tài nguyên thiên nhiên, nhất là đối với các
nguồn tài nguyên tái tạo. Vì thế, bảo vệ là một nhân tố không thể thiếu trong PTBV.
Phát triển truyền thống trước đây chỉ chú ý tới hiệu quả kinh tế của khai thác và
sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, còn PTBV như định nghĩa của nó có mục
tiêu rộng hơn, đòi hỏi các hoạt động phát triển phải xem xét một cách tổng hợp cả ba
khía cạnh kinh tế, xã hội và sinh thái trong quá trình khai thác và sử dụng các tài
nguyên thiên nhiên cho phát triển kinh tế xã hội. Nói cách khác, để PTBV phải biết
tiếp cận các hệ thống kinh tế, xã hội và sinh thái trong khai thác và sử dụng tài nguyên
để đem lại đồng thời các hiệu quả kinh tế, sự công bằng xã hội và sự toàn vẹn môi
trường như ba đỉnh của một tam giác trong hình 1-1.
1.1.2.3 Các điều kiện của phát triển bền vững

công bằng xã hội. Giáo dục, đào tạo, y tế, phúc lợi xã hội phải được bảo vệ và phát
huy.
(3). Sự bền vững về sinh thái
Sự bền vững về sinh thái thể hiện ở chỗ các hoạt động phát triển khi thực hiện
phải duy trì được năng lực của hệ sinh thái, đảm bảo cho các sinh vật trong hệ duy trì
được năng suất, khả năng thích nghi, năng lực tái sinh. Điều đó cũng có nghĩa là phải
tiết kiệm v
à sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, duy trì và phát triển các hệ sinh
thái, tính đa dạng sinh học, bảo vệ chất lượng môi trường sống. Các nguồn phế thải từ
hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người phải được quản lý chặt chẽ, xử lý tái
chế kịp thời.
1.1.
2.4 Thực hiện Phát triển bền vững trên thế giới và ở Việt Nam
Sau hội nghị trên, xuất phát từ các nguyên tắc của PTBV, nhiều nước trên thế
giới đã xây dựng Lịch trình thế kỷ 21 cho nước mình. Thế giới cũng có bước chuyển
biến mới trong nhận thức và hành động về bảo vệ môi trường và PTBV.
Ở Việt Nam, những năm qua một số tài nguyên tái tạo đang bị khai thác quá mức
trong đó có tài nguyê
n rừng. Tài nguyên nước cũng đang có nguy cơ thiếu hụt nghiêm
trọng trong từng vùng và từng thời gian nhất định. Một số tài nguyên không tái tạo như
là một số khoáng sản trữ lượng cũng không còn nhiều.
Sự phát triển kinh tế hiện đang gây sức ép rất mạnh, làm suy giảm chất lượng
môi trường đất, nước, không khí, do ảnh hưởng của các chất thải sinh hoạt v
à công
nghiệp, cũng như sử dụng quá mức phân bón hoá học, thuốc trừ sâu trên các đồng

9
ruộng. Theo xu thế phát triển kinh tế của đất nước, sức ép của phát triển tới môi trường
trong tương lai vẫn là rất lớn. Vì thế, thực hiện mục tiêu PTBV càng là yêu cầu cấp
thiết của đất nước.

phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các
biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó”.
Theo GS.Lê Thạc Cán, 1994, thì: ″ ĐTM của một hoạt động phát triển kinh tế xã
hội là xác định, phân tích, dự báo những tác động lợi và hại, trước mắt và lâu dài của
việc thực h
iện hoạt động đó đối với tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường
sống của con người. Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp phòng tránh, khắc phục
hoặc giảm nhẹ các tác động tiêu cực của dự án đối với môi trường ” .
Các định nghĩa trên đều nêu lên các nội dung chủ yếu mà đánh giá tác động môi
trường phải thực hiện. Tuy nhiên, ở đây cần thấy rõ là đánh giá tá
c động môi trường
bao gồm đánh giá cả các tác động tới môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, đánh
giá các nguy cơ xảy ra các sự cố môi trường cũng như phân tích hiệu quả kinh tế môi

10
trường của dự án.
Mục đích
Thực hiện đánh giá tác động môi trường đối với các hoạt động/dự án phát triển
kinh tế xã hội nhằm các mục đích sau:
(1). Nhằm đảm bảo cho dự án nếu được thực hiện giảm một cách tối đa các tác động
xấu và bền vững về mặt môi trường: ĐTM nhằm xác định và đánh giá những ảnh hưởng
tiềm năng của dự án
đến môi trường tự nhiên, xã hội và sức khoẻ của con người. Điều đó
giúp cho mọi sự đề xuất, mọi hoạt động trong các dự án và chương trình phát triển dự
kiến, ngoài đảm bảo tốt về mặt kinh tế, kỹ thuật còn phải không có những tác động xấu có
ảnh hưởng đáng kể xảy ra làm suy giảm chất lượng tới môi trường. Nói cách khác, đảm
bảo c
ho các dự án khi thực hiện đều bền vững về mặt môi trường;
(2). Cung cấp nhưng thông tin trợ giúp cho việc ra quyết định về thực hiện dự án
mang tính hợp lý với môi trường : Đánh giá tác động môi trường được sử dụng để

triển bền vững như là : qua bắt buộc các dự án/ hoạt động phát triển phải lập báo cáo
ĐTM và trình cho cơ quan quản lý môi trường Nhà nước có thẩm quyền thẩm định và
phê
duyệt báo cáo, Nhà nước sẽ xác định được những dự án nào là tốt và không có tác

11
động tiêu cực đáng kể tới môi trường và những dự án nào có nhiều tác động tiêu cực
được coi là đáng kể tới môi trường. Trên cơ sở đó ra quyết định loại bỏ không cho
thực hiện đối với các dự án có nhiều tác động tiêu cực rất khó giảm thiểu. Đối với các
dự án được phép thực hiện thì thông qua thực hiện đánh giá tác động môi trường sẽ
đảm bảo cho dự án khi thực hiện sẽ giảm một cách tối đa các tác động xấu và bền
vững về mặt môi trường. Điều đó cho t
hấy ĐTM là công cụ quan trọng để bảo vệ môi
trường và phát triển bền vững.
(2). Đánh giá tác động môi trường là công cụ để quy họach và quản lý các hoạt động
phát triển kinh tế xã hội
Ngoài vai trò là công cụ quan trọng để bảo vệ môi trường và phát triển bền vững,
việc thực hiện đánh giá tác động môi trường còn là công cụ để quy hoạch
và quản lý
các hoạt động phát triển như là:
Về quy hoạch phát triển
Giữa môi trường và phát triển luôn có mối quan hệ rất chặt chẽ và giữa chúng
cũng tồn tại một mâu thuẫn, đó là phát triển càng nhanh thì càng có nhiều tác động tiêu
cực đến môi trường và càng có xu thế làm suy giảm chất lượng môi trường sống. Việc
tăng trưởng kinh tế nếu không tính tới yêu cầu bảo vệ môi trường cũng như việc sử
dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên thì đến một thời điểm
nào đó chất lượng môi
trường sẽ bị suy giảm nghiêm trọng và sẽ cản trở phát triển, tác động xấu tới kinh tế xã
hội của vùng.
ĐTM là một quá trình phân tích một cách hệ thống, nó cho phép đánh giá và dự

trường xã hội nên sẽ giảm đến thấp nhất tác động xấu của dự án tới xã hội. Kết quả
đánh giá được công bố rộng rãi và lấy ý kiến của cộng đồng dân cư những người
hưởng lợi cũng như những người bị ảnh hưởng làm thiệt hại. Vì thế, nhờ thực hiện
ĐTM mà dự án đáp ứng đư
ợc tối đa yêu cầu của xã hội và dễ được sự chấp nhận và
ủng hộ rộng rãi của công chúng.
Lợi ích về môi trường
- Đánh giá tác động môi trường sẽ trợ giúp cho c
ác nhà kỹ thuật lựa chọn được
phương án hợp lý và bền vững về mặt môi trường.
- Đánh giá tác động môi trường sẽ giúp cho các dự án tuân thủ tốt các tiêu
chuẩn môi trường quốc gia, không gây phá vỡ và làm tổn hại tới môi trường. Mặt
khác, nó đẩy nhanh quá trình xét duyệt dự án, làm giảm thời gian và chi phí để dự án
được chấp thuận.
1.3 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA ĐTM
1.3.1 Trên thế giới
Sự ra đời của ĐTM đã góp phần kiểm so
át và từng bước ngăn chặn tình trạng
suy thoái đó. Mặc dù mới ra đời không lâu, nhưng ĐTM đã được sự quan tâm và đồng
tình của hầu hết các quốc gia phát triển và đang phát triển trên toàn thế giới để phát
triển kinh tế xã hội, coi đó là một biện pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường trong quá
trình phát triển kinh tế theo mục tiêu của phát triển bền vững.
Trên thế giới đến những t
hập kỷ 60, 70 một số nước công nghiệp đã bắt đầu quan
tâm đến việc bảo vệ môi trường. Năm 1970, ở Mỹ đã ban hành luật và chính sách quốc
gia về môi trường, trong đó quy định tất cả các kiến nghị quan trọng ở cấp Liên bang
về luật pháp, các hoạt động kinh tế kỹ thuật lúc đưa ra xét duyệt để được Nhà nước
chấp nhận đều phải kèm theo một báo cáo c
hi tiết về tác động đến môi trường của hoạt
động được kiến nghị.

việc phổ biến, nằm trong khung pháp luật của Nhà nước mà tất cả các dự án đều thực
hiện.
Hiện nay, ở Việt Nam đã có một đội ngũ tương đối đông đảo những người làm
đánh giá tác động môi trường,
trong đó có nhiều chuyên gia được đào tạo trong và
ngoài nước, bước đầu đã tập hợp được những kinh nghiệm ứng dụng qua những công
trình đã đánh giá trong thực tế. Việc thực hiện ĐTM cũng còn những vấn đè tồn tại
cần tiếp tục giải quyết, tuy nhiên có thể nói sau hơn một thập ky, cho đến nay hệ thống
văn bản pháp lỹ cho thực hiện ĐTM đã tương đối đầy đủ và tiếp cận được yêu cầu của
thực tế. Việc thực hiện ĐTM đã đần đi và
o nề nếp dã có đóng góp rất đáng kể cho
thựcnhieenj phát triển bền vững của đất nước.
1.4 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA ĐTM
Trong những năm vừa qua Nhà nước ta đã rất cố gắng xây dựng một khung
pháp lý cho việc cho việc tổ chức và quản l
ý việc thực hiện ĐTM trong thưc tế. Cho
đến nay khung pháp lý đã tương đối đầy đủ và phù hợp với thực tế. Trong mục này
giới thiệu những điểm chính về cơ sở pháp lý và tổ chức thực hiện ĐTM ở Việt Nam
đẻ sinh viên tiếp cận và nắm được yêu cầu thực tế của đánh giá tác động môi trường
làm cơ sở cho quá trình công tác sau này.
Về các cơ sở phá
p lý của ĐTM có rất nhiều tài liệu tham khảo sinh viên có thể
trực tiếp lấy trên mạng internet nên tại lớp giáo viên chỉ giới thiệu những điểm chính,
còn lại sinh viên phải tự tìm hiểu và đọc ở nhà để tiếp cận kiến thức và nắm vững các
quy định của luật pháp, tiến hành thảo luận nhóm đẻ hiểu sâu về các vấn đề này.
1.4.1 Giới thiệu chung về cơ sở pháp lý của ĐTM
Cơ sở p
háp lý của việc thực hiện ĐTM thể hiện trong các văn bản phát luật của
Nhà nước đã ban hành như Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn hiện
ĐTM như Nghị định, Quyết định, Thông tư của Chính phủ, Bộ Tài nguyên & Môi

trường theo đường link
/>219.
2) Các Nghị định, Thông tư của Nhà nước liên quan đến ĐTM
Để cụ thể hóa việc thực hiện ĐTM ở Việt Nam, Chính phủ đã ban hành nhiều
Nghị định, Quyết định, Thông tư quy định cụ thể và hướng dấn việc thực hiện ĐTM.
Tại tại thời điểm hiện tại, những người thực hiện ĐTM phải thực hiện theo một số văn
bản phá
p luật sau:
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều Luật Bảo vệ môi trường, theo đường link sau:
/>303
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP về Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường , theo đường
link sau:

15

- Thông tư 05/2008/TT-BTNMT thông tư hướng dẫn về đánh giá môi trường
chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường.
-
Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;Các văn bản pháp luật trên và một số
văn bản khác nữa sinh viên truy cập trong Website của Bộ Tài nguyên và Môi trường
theo đường link
vào phần tra cứu Văn bản pháp luật. Để hiểu rõ
cơ sở pháp lý của việc thực hiện ĐTM ở Việt nam sinh viên phải đọc và tham khảo kỹ
các quy định của luật BVMT 2005 và các nghị định, thông tư nêu trên đẻ nắm vững
những quy định của nhà nước liên quan đến thực hiện ĐTM ở Việt Nam, đặc biệt là
chú trọng tìm hiểu về:

16
Chu trình dự án và trình tự thực hiện ĐTM được quy định thế nào trong các văn
bản pháp luật của Việt nam là nội dung sẽ giới thiệu trong mục này.
1) Chu trình dự án
Nói chung, bất kỳ một dự án nào cũng đều thực hiện theo một trình tự từ quy
hoạch, đến nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật, thi công xây
dựng và cuối cùng là quản lý vận hành dự án, các giai đoạn đó tạo nên chu trình dự án.
a)
Giai đoạn quy hoạch:
Phần lớn các dự án được đề xuất trong quá trình lập các quy hoạch phát triển của
các lĩnh vực sử dụng tài nguyên. Thí dụ trong lĩnh vực tài nguyên nước là quy hoạch
về tài nguyên nước (còn gọi là quy hoạch thuỷ lợi) để xác định phương án khai thác sử
dụng hợp lý nguồn nước lưu vực hoặc khu vực (như tỉnh), cũng như đề xuất các công
trình chủ yếu cần xâ
y dựng để nhà nước xem xét.
Các công trình khai thác sử dụng nguồn nước được đề xuất trong giai đoạn quy
hoạch mới chỉ là những đề xuất ban đầu nhằm hình thành bước đầu khái niệm về dự
án (như hình thức công trình, vị trí xây dựng, quy mô đề nghị ) mà chưa đi sâu và
tính toán về mặt kỹ thuật của công trình.
b) Giai đoạn lập báo cáo đầu tư:
Giai đoạn này còn gọi là nghiên cứu tiền khả thi là giai đoạn tiếp sau giai đoạn
quy hoạc
h khi công trình đề xuất trong quy hoạch được chấp thuận và cho nghiên cứu
sâu hơn. Báo cáo đầu tư cần phải tính toán các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cho các
phương án đề xuất và phương án chọn ở mức sơ bộ nhằm cung cấp các cơ sở để chủ
dự án xem xét có nên đầu tư dự án hay không.
c) Giai đoạn lập dự án đầu tư:
Giai đoạn này còn gọi là nghiên cứu khả thi, là giai đoạn tiếp theo sau khi báo
cáo nghiên cứu tiền khả thi đư
ợc chấp nhận. Dự án đầu tư đi sâu vào tính toán chi tiết


ĐTM sơ bộ Hình 1-2: Chu trình dự án và trình tự thực hiện ĐTM
a) Giai đoạn quy hoạch: sàng lọc (hay lược duyệt) môi trường
Trong giai đoạn quy hoạch, tùy thuộc vào quy mô của quy hoạch mà có thể phải
thực hiện đánh giá về mặt môi trường cho các phương án quy hoạch để lựa chọn
phương án tối ưu. Nếu quy hoạc
h có quy mô lớn cấp quốc gia hoặc liên vùng, liên tỉnh
hoặc quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội mang ý nghĩa chiến lược (Mục 1 Luật
BVMT 2005) thì giai đoạn này phải thực hiện đánh giá môi trường chiến lược
(ĐGMTCL). Nếu quy mô quy hoạch không thuộc đối tượng phải thực hiện ĐGMTCL
thì phải tiến hành sàng lọc môi trường (sàng lọc MT) hay còn gọi là lược duyệt môi
trường để xem xét một cách sơ lược xem khả năng gây tác động đến môi trường của
các hoạt động (hoặc dự án cụ thể) đư
ợc đề xuất trong các phương án quy hoạch, đặc
biệt là đối với phương án quy hoạch được chọn.
Thí dụ như trong quy hoạch thuỷ lợi của một lưu vực sông có thể đề xuất sự cần
thiết xây dựng một công trình cung cấp nước tưới cho một khu vực nông nghiệp quan
trọng còn đang rất thiếu nước, nhưng chưa xác định r
õ nên dùng hồ chứa hay đập dâng
hoặc quy mô công trình tưới cho bao nhiêu ha là hợp lý nhất.
LẬP BÁO CÁO ĐẦU TƯ

hoạch.
Trong Sàng lọc môi trường, cần phải phân tích để nhận biết các tác động môi
trường của dự án
đề xuất và sau đó tiến hành sàng lọc để thấy được các vấn đề môi
trường chủ yếu có liên quan đến dự án, đặc biệt là quy mô dự án, vị trí xây dựng công
trình.
Qua sàng lọc môi trường, người làm quy hoạch có thể loại ra các vấn đề môi
trường không quan trọng và chỉ ra các hoạt động nào của dự án có khả năng gây ra
những tác động đáng kể và những vấn đề môi trường tiềm tàng nào c
hứa ẩn trong
vùng dự án cần phải quan tâm khi tiến hành dự án. Từ đó, phán đoán những tác động
đến môi trường của dự án đang nghiên cứu nhằm đề xuất ý kiến để điều chỉnh dự án
theo hướng tốt hơn.
b) Giai đoạn lập báo cáo đầu tư
Ở nước ta giai đoạn lập báo cáo đầu tư trước đây còn gọi là giai đoạn nghiên cứu
tiền khả thi (NCTKT). Trong giai đoạn này nhiều nước trên thế giới quy định phải
đánh gi
á tác động môi trường sơ bộ.
ĐTM sơ bộ có yêu cầu cao hơn sàng lọc môi trường, trong đó yêu cầu là đánh giá
một cách khái quát các tác động môi trường của dự án và chỉ ra được trong các tác
động môi trường thì tác động tiêu cực nào là đáng kể nhất. Cũng như sàng lọc môi
trường, ĐTM sơ bộ cũng cần trợ giúp cho việc hình thành rõ hơn khái niệm về dự án
nếu trong quy hoạch dự án trước đây vẫn c
òn những vấn đề chưa kết luận rõ ràng. Thí
dụ như vấn đề chọn vị trí tuyến công trình nào trong một số vị trí tuyến có thể được
trong dự án xây dựng hồ chứa nước. Phương án chọn phải là phương án vừa đảm bảo
các yêu cầu về kinh tế, kỹ thuật, lại phải đảm bảo sa
o cho các tổn hại đối với môi
trường là ít nhất. Kết quả của đánh giá tác động môi trường sơ bộ cũng cần chỉ ra có
tiếp tục tiến hành đánh giá tác động môi trường chi tiết ở giai đoạn tiếp sau hay không.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status