Luận Văn
Thực trạng và giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh nhập
khẩu của VINACONEX
trong thời gian qua LuËn v¨n tèt nghiÖp Khoa th¬ng
m¹i 1
LỜI NÓI ĐẦU
Thương mại Quốc tế có vai trò rất quan trọng đối với mọi nền kinh tế
quốc dân. Đối với tất cả quốc gia trên thế giới, trong tiến trình mở cửa thị
hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của VINACONEX".
Kết cấu của luận văn:
- Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương:
Chương I : Những vấn đề lý luận chung về Thương mại quốc tế nói chung
và hoạt động nhập khẩu nói riêng.
Chương II : Thực trạng hoạt động kinh doanh nhập khẩu của Tổng Công
ty VINACONEX trong thời gian qua.
Chương III : Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu
hàng hoá tại Tổng Công ty VINACONEX
LuËn v¨n tèt nghiÖp Khoa th¬ng
m¹i 3
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
NÓI CHUNG VÀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU NÓI RIÊNG
I. THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.Khái niệm về Thương mại Quốc tế
Hoạt động thương mại Quốc tế xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 2 -3 sau
công nguyên điển hình là "con đường tơ lụa". Những lái buôn chở hàng từ
Châu Á(chủ yếu là tơ lụa nổi tiếng của Trung Quốc) bằng lạc đà vượt qua
sang các nước Châu Âu và mua hàng hoá Châu Âu trở về để bán. Họ đã đi
những bước đầu tiên trên con đường Thương mại quốc tế (TMQT). Qua năm
tháng, hoạt động TMQT ngày càng phát triển.
Ngày nay, TMQT không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà là
sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế.
mới, giả quyết công ăn việc làm cho người lao động,
- TMQT ngày càng gắn liền với cạnh tranh gay gắt mà trung tâm cạnh
tranh hướng vào hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm và thị hiếu tiêu
dùng. Các quốc gia là các hệ thống kinh tế phụ thuộc nhau và mâu thuẫn
nhau gay gắt vì chúng vừa có khuynh hướng bảo hộ vừa có khuynh hướng
mở cửa. Muốn tồn tại các quốc gia phải tự nâng mình lên, sản phẩm sản xuất
ra phải có chất lượng ngày càng cao mới đáp ứng được nhu cầu phong phú,
đa dạng của con người.
Như vậy, TMQT là tất yếu khách quan, tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất
trong nền sản xuất của mỗi quốc gia cũng như toàn thế giới.
II. HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU
VỚI NỀN KINH TẾ QUÔC DÂN
Thế giới ngày càng phát triển thì vai trò TMQT trở thành tất yếu cho sự
phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Có TMQT nói chung và hoạt động
nhập khẩu nói riêng mới đáp ứng được nhu cầu của công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá hiện nay.
Có thể nói, nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến
sản xuất và đời sống. Nhập khẩu là để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật,
công nghệ tiên tiến, hiện đại cho sản xuất và các hàng hoá tiêu dùng mà trong
nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất không hiệu quả.
LuËn v¨n tèt nghiÖp Khoa th¬ng
m¹i 5
Cụ thể, vai trò của hoạt động nhập khẩu thể hiện qua một vài điểm sau :
- Nhập khẩu cho phép bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền
kinh tế, đảm bảo một sự phát triển cân đối và ổn định. Khai thác đến mức tối
đa tiềm năng và khả năng của nền kinh tế. Sản xuất trong nước phải học tập,
nghĩa cho việc ra quyết định trong kinh doanh vì đây là thị trường đầu ra của
doanh nghiệp.
Khi nghiên cứu thị trường trong nước, doanh nghiệp cần trả lời được các
câu hỏi sau:
Thị trường trong nước đang cần mặt hàng gì? Tìm hiểu về mặt
hàng, quy cách, mẫu mã, chủng loại,
Tình hình tiêu thụ mặt hàng ấy ra sao?
Đối thủ cạnh tranh trong nước như thế nào?
Tỷ suất ngoại tệ là bao nhiêu?
1.2. Nghiên cứu thị trường nước ngoài
Mục đích của giai đoạn này là lựa chọn được nguồn hàng nhập khẩu và
đối tác giao dịch một cách tốt nhất. Vì đây là thị trường nước ngoài nên việc
nghiên cứu gặp phải một số khó khăn và không được kĩ lưỡng như thị trường
trong nước. Doanh nghiệp cần biết các thông tin về khả năng sản xuất, cung
cấp, giá cả và sự biến động của thị trường. Bên cạnh đó cần am hiểu về chính
trị, luật pháp, tập quán kinh doanh, của nước bạn hàng.
2. Lập phương án kinh doanh
Dựa vào kết quả thu được của việc nghiên cứu thị trường, các đơn vị kinh
doanh nhập khẩu cần xây dựng một kế hoạch kinh doanh cụ thể nhằm ứng
phó với những dự đoán về diễn biến của quá trình nhập khẩu hàng hoá cũng
như mục tiêu sẽ đạt được khi thực hiện được quá trình này.
Nội dung của việc lập phương án kinh doanh bao gồm nhiều công việc,
trong đó có các công việc sau:
+ Vấn đề cơ bản đầu tiên là phải xác định được mặt hàng nhập khẩu.
+ Xác định số lượng hàng nhập khẩu.
+ Lựa chọn thị trường, bạn hàng, phương thức giao dịch,
+ Đề ra các biện pháp để đạt được mục tiêu như chiêu đãi, mời khách,
quảng cáo,
LuËn v¨n tèt nghiÖp Khoa th¬ng
Cụ thể, một hợp đồng nhập khẩu có thể gồm các điều khoản như sau:
Điều 1: Các khái niệm chung (đặc biệt cần với hợp đồng nhập khẩu dây
chuyền sản xuất).
LuËn v¨n tèt nghiÖp Khoa th¬ng
m¹i 8
Điều 2: Hàng hoá và số lượng.
Điều 3: Giá cả.
Điều 4: Thanh toán.
Điều 5: Giao hàng.
Điều 6: Kiểm tra hàng hoá.
Điều 7: Trọng tài.
Điều 8: Phạt.
Điều 9: Bất khả kháng.
Điều 10: Thực hiện hợp đồng.
Điều 11: Các quy định khác.
Đi kèm với hợp đồng có thể có các bản phụ lục tài liệu kỹ thuật, các bản
kê chi tiết tuỳ thuộc vào từng mặt hàng và yêu cầu của các bên.
4. Thực hiện hợp đồng
Sau khi hợp đồng mua bán ngoại thưong đã được ký kết, các bên tham
gia ký kết phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Đây là công việc phức tạp đòi
hỏi phải tuân thủ luật quốc gia và quốc tế, đồng thời đảm bảo quyền lợi quốc
gia và đảm bảo uy tín kinh doanh của doanh nghiệp.
Trình tự thực hiện hợp đồng nhập khẩu bao gồm các bước sau:
tục hải
quan(Nh
ập khẩu)
Nhận
hàng(Kiểm
tra SL, CL)
Làm thủ tục
thanh toán
Xử lý tranh
chấp(nếu có)
LuËn v¨n tèt nghiÖp Khoa th¬ng
m¹i 9
Trình tự trên đây cũng chỉ mang tính chất tương đối. Có những công việc
tất yếu phải làm, có những công việc có thể làm hay không tuỳ từng hợp
đồng và có những công việc thay đổi vị trí cho nhau.
5. Đánh giá hiệu quả thực hiện
Kết quả kinh doanh nhập khẩu được xác định bằng lợi nhuận đem lại. Lợi
nhuận được tính toán trên cơ sở chi phí và doanh thu. Ngoài việc hạch toán lỗ
lãi còn phải đánh giá về bạn hàng, về thị trường, về mối quan hệ tiếp theo
giữa doanh nghiệp với bạn hàng.
Qua việc đánh giá này để rút ra kinh nghiệm, mặt mạnh phát huy, mặt
yếu khắc phục nhằm đạt được hiệu quả cao hơn trong các thương vụ sắp tới.
IV. CÁC NHÂN TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU
CỦA DOANH NGHIỆP
1. Nhóm nhân tố bên trong
hạn sẽ thuận lợi cho những hợp đồng sau này. Uy tín của doanh nghiệp là
nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh và vị thế của doanh nghiệp. Nếu có
chức năng nhập khẩu uỷ thác thì khi doanh nghiệp có uy tín sẽ có nhiều các
đơn vị trong nưóc uỷ thác việc nhập khẩu cho doanh nghiệp. Hàng hoá của
doanh nghiệp dễ tiêu thụ hơn những doanh nghiệp làm ăn không đứng đắn,
mất uy tín với khách hàng.
Ngoài ra, một doanh nghiệp có kinh nghiệm trong nhập khẩu một sản
phẩm nào đó sẽ lựa chọn được nguồn hàng tốt nhất phù hợp với nhu cầu và
thị hiếu của người tiêu dùng trong nước do am hiểu về thị trường, có những
mối quan hệ rộng, lâu năm.
2. Nhóm nhân tố bên ngoài
2.1. Chính sách của Chính phủ
Chính sách của Chính phủ có tác động không nhỏ đến hiệu quả của hoạt
động nhập khẩu. Các chính sách tài chính tín dụng ưu đãi cho các nhà nhập
khẩu sẽ tạo cho họ nắm được cơ hội kinh doanh và thu lợi nhuận. Chính sách
bảo hộ nền sản xuất trong nước và khuyến khích thay thế hàng nhập khẩu đã
làm giảm hiệu quả kinh doanh của các nhà nhập khẩu muốn thu lợi nhuận qua
việc bán hàng nhập khẩu trong nước, nhưng mang lại hiệu quả kinh tế xã hội,
LuËn v¨n tèt nghiÖp Khoa th¬ng
m¹i 11
tạo công ăn việc làm cho người lao động, hơn nữa khuyến khích các ngành
sản xuất trong nước phát huy được khả năng của mình.
2.2. Thuế nhập khẩu
Thuế nhập khẩu là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá hoặc tính
theo phần trăm đối với tổng trị giá hàng hoá hay là kết ọp cả hai cách nói trên
đối với hàng nhập khẩu. Theo đó người mua trong nước phải trả cho những
hàng hoá nhập khẩu một khoản lớn hơn mức mà người xuất khẩu nước ngoaì
có tác động tương đối giống với thuế nhập khẩu tức là do có hạn ngạch làm
giá hàng nhập khẩu trong nước sẽ tăng lên. Nhưng hạn ngạch không làm tăng
thu ngân sách. Đối với cả Chính phủ và các doanh nghiệp trong nước, việc cấp
hạn ngạch nhập khẩu có lợi là xác định được khối lượng nhập khẩu biết trước.
Hiện nay Nhà nước ta tiến hành đấu thầu hạn ngạch chứ không phân bổ
trực tiếp cho các doanh nghiệp như trước đây nữa. Doanh nghiệp nào thắng
thầu thì sẽ có quyền nhập khẩu mặt hàng đó với số lượng quy định.Tuy nhiên
việc nhập khẩu nhiều hay ít khi doanh nghiệp đã thắng thầu phụ thuộc vào
đinh ngạch (tổng hạn ngạch) mà Chính phủ đưa ra.
2.4. Tỷ giá hối đoái
Các phương tiện thanh toán quốc tế được mua và bán trên thị trường hối
đoái bằng tiền tệ quốc gia của một nước theo một giá cả nhất định. Vì vậy,
giá cả của một đơn vị tiện tệ nước này thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ của
nước kia được gọi là tỷ giá hối đoái (TGHĐ).
Việc áp dụng loại TGHĐ nào, cao hay thấp đều ảnh hưởng trực tiếp đến
hoạt động xuất nhập khẩu.
Việc phá giá đồng nội tệ hay chính là TGHĐ cao lên sẽ có tác dụng
khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Ngược lại, TGHĐ thấp sẽ hạn
chế xuất khẩu và đẩy mạnh nhập khẩu.
2.5. Nhân tố cạnh tranh
Cạnh tranh được xem xét theo hai góc độ: cạnh tranh trong nội bộ ngành
sản xuất trong nước và cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài. Trong một thời
kỳ, nếu có nhiều doanh nghiệp cùng nhập khẩu một loại mặt hàng và tiêu thụ
ở thị trường nội địa hay nhập khẩu để sản xuất cùng một loại mặt hàng thì
việc cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn tới giá cả, doanh số bán hàng, ảnh
hưởng tới mức tiêu thụ và do đó ảnh hưởng tới kết quả và hiệu quả kinh
doanh. Khi có nhiều nhà nhập khẩu cùng quan tâm đến một loại hàng hoá,
LuËn v¨n tèt nghiÖp Khoa th¬ng
m¹i
viên mới là các công ty trực thuộc Bộ xây dựng trước đây. Từ đó đến nay,
LuËn v¨n tèt nghiÖp Khoa th¬ng
m¹i 14
nhiều công ty của các địa phương như Hải Phòng, Hải Dương, Huế, Hà Nội,
Đắc Lắc, Quảng Nam, Đồng Tháp, Hà Tây, Bà Rịa - Vũng Tàu cũng đã gia
nhập làm thành viên của Tổng công ty, cùng với nhiều công ty cổ phần thành
lập mới, liên doanh tạo ra một đại gia đình VINACONEX. Trải qua những
năm tháng xây dựng và trưởng thành, cho đến nay, VINACONEX đã trở
thành Tổng công ty đa doanh hàng đầu của Bộ Xây dựng, với chức năng
chính là: xây lắp, tư vấn đầu tư - thiết kế - khảo sát quy hoạch, kinh doanh
xuất nhập khẩu thiết bị, vật tư phục vụ ngành xây dựng và các ngành kinh tế
khác, sản xuất công nghiệp và vật liệu xây dựng, xuất khẩu chuyên gia và lao
động ra nước ngoài, và đặc biệt, đầu tư vào các lĩnh vực của nền kinh tế đang
là nhiệm vụ chiến lược quan trọng hàng đầu nhằm chuyển đổi cơ cấu và mở
rộng quy mô sản xuất kinh doanh, xứng tầm với tập đoàn kinh tế mạnh.
Cho đến nay, Tổng công ty đã có một đội ngũ lớn mạnh với hơn 26.000
cán bộ, kỹ sư, chuyên gia, công nhân viên, nhiều người trong số đó đã được
đào tạo và làm việc ở nước ngoài, có kiến thức chuyên sâu và giàu kinh
nghiệm, có thể đáp ứng được những yêu cầu đa dạng của khách hàng.
1.1. Về hoạt động kinh doanh xây lắp
Hoạt động xây lắp đã trở thành lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của Tổng
công ty kể từ năm 1995. VINACONEX đã thực hiện đa dạng hoá công tác
xây lắp ở các lĩnh vực: dân dụng, công cộng, công nghiệp, giao thông, truyền
tải điện, viễn thông, cấp thoát nước, xử lý môi trường, thuỷ lợi và thiết kế các
loại công trình với kỹ thuật chuyên ngành khác nhau, qui mô lớn trong và
ngoài nước Ngày nay VINACONEX được biết đến như một trong những
Tổng công ty hàng đầu về xây lắp ở Việt Nam, ngày càng khẳng định được vị
yêu cầu của khách hàng. VINACONEX đã đầu tư mở rộng và nâng cấp hệ
thống trường học, thiết bị phương tiện phục vụ đào tạo, đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của khách hàng về số lượng cũng như chất lượng, phù hợp với
sự phát triển của nền kinh tế.
1.3. Kinh doanh xuất nhập khẩu và đầu tư phát triển
Kinh doanh xuất nhập khẩu cũng là một trong những lĩnh vực hoạt động
chính của VINACONEX, với mạng lưới bán hàng rộng khắp thế giới, có uy
LuËn v¨n tèt nghiÖp Khoa th¬ng
m¹i 16
tín và hiệu quả. Lĩnh vực xuất nhập khẩu của VINACONEX ngày càng được
mở rộng, hoạt động và tăng trưởng của nó gắn chặt với hoạt động và sự tăng
trưởng chung của các lĩnh vực kinh doanh khác của VINACONEX. Kim
ngạch xuất nhập khẩu trung bình hàng năm của VINACONEX tăng xấp xỉ
20%.
Đẩy mạnh đầu tư vào các lĩnh vực trọng điểm của nền kinh tế đang là
chiến lược ưu tiên số một cho sự phát triển lâu dài của VINACONEX. Đồng
thời, cùng với việc sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp, sẽ tạo cơ sở nền tảng và
hội đủ các yếu tố cho sự hình thành một tập đoàn đa doanh vững mạnh.
VINACONEX sẽ đón đầu được các thành tựu khoa học công nghệ, khoa học
quản lý tiên tiến của thời đại, khi mà kinh tế tri thức đã trở thành cốt yếu cho
sự phát triển của kinh tế toàn cầu. Các lĩnh vực mà VINACONEX đang tập
trung đầu tư là: phát triển đô thị, bất động sản, các công trình hạ tầng kỹ
thuật, sản xuất công nghiệp và vật liệu xây dựng, thương mại, công nghệ cao,
v.v
VINACONEX đã và đang hợp tác với các trường đại học trong nước và
nước ngoài, các công ty quốc tế có uy tín trong lĩnh vực tư vấn thiết kế. Hiện
nay, Tổng công ty là một đơn vị lớn mạnh, có nhiều các đơn vị thành viên
vị trực thuộc Bộ Xây dựng, hoạt động dưới hình thức Tổng công ty 90. Tổng
công ty đã là một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực xây dựng.
LuËn v¨n tèt nghiÖp Khoa th¬ng
m¹i 18
*BẢNG 1 : KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA TỔNG
CÔNG TY(NĂM 2002 - 2004)
Đơn vị : Tỉ đồng
Năm
Chỉ tiêu
2002
2003
2004
1. Tổng giá trị sản
lượng
1767
1780
1948
- GT KD XNK hàng
hoá
436
máy xi măng Nghi Sơn, Trạm phân phối xi măng Hiệp Phước, công trình
thuỷ lợi Tân chi, công trình cầu Bến Hồ bắc qua sông Đuống, Tất cả các
công trình lớn này đều mang lại lợi nhuận cho Tổng công ty.
LuËn v¨n tèt nghiÖp Khoa th¬ng
m¹i 19
Tổng công ty luôn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước, các khoản
nộp ngân sách được hoàn thành hàng năm, tránh nợ đọng năm này qua năm
khác.
Để phục vụ nhu cầu trong nước, hoạt động xuất nhập khẩu của Tổng công
ty đã tận dụng lợi thế của mình, hướng vào các mặt hàng chủ yếu trong lĩnh
vực xây dựng.
Các mặt hàng nhập khẩu của Tổng công ty gồm:
- Nhập khẩu máy móc thiết bị xây dựng.
- Nhập khẩu nguyên vật liệu xây dựng.
- Nhập khẩu hàng điện dân dụng.
- Nhập khẩu xe máy.
- Nhập khẩu một số mặt hàng khác
Các mặt hàng xuất khẩu gồm :
- Xi măng, gạch Granit (sang Lào)
- Chất tẩy rửa (sang Nhật Bản)
- Đá xẻ, đá Marble (sang Singapore)
*BẢNG 2 : KIM NGẠCH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA TỔNG CÔNG TY
(NĂM 2002 - 2004)
Đơn vị : USD
Năm
2002
m¹i 20
các loại nguyên vật liệu xây dựng sang Lào, Singapore và Nhật Bản nên kim
ngạch xuất khẩu đã dần đạt được chuyển biến qua từng năm. Kim ngạch nhập
khẩu năm nào cũng chiếm trên 90% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu.
LuËn v¨n tèt nghiÖp Khoa th¬ng
m¹i 21
1. Hoạt động nhập khẩu tại Tổng công ty VINACONEX
Nhập khẩu hàng hoá là một mảng khá lớn trong số các hoạt động sản xuất
kinh doanh của Tổng công ty VINACONEX. Vì vậy để xem xét đánh giá
một cách chi tiết, tỉ mỉ thật khó. Ta chỉ đi phân tích một số mặt chính sau :
1.1. Về thị trường nhập khẩu
Trong kinh doanh nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng, việc tìm
kiếm thị trường là vấn đề rất quan trọng, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh
được diễn ra liên tục, đạt hiệu quả cao. Kinh doanh vượt ra khỏi phạm vi biên
giới quốc gia thì việc nghiên cứu thị trường càng trở nên phức tạp. Trong
những năm vừa qua, Tổng công ty VINACONEX đã luôn cố gắng trong việc
tìm kiếm và lựa chọn thị trường.
Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt từ khi gia
nhập khối ASEAN thì mối quan hệ của Tổng công ty với các thị trường ngày
càng mở rộng và gắn bó, thuận lợi hơn trong hoạt động kinh doanh.
Nhìn chung thị trường nhập khẩu của Tổng công ty có xu hướng tăng qua
các năm (khoảng 10% một năm). Những thị trường thường xuyên như Nhật
bản, Hàn Quốc, có giá trị kim ngạch lớn và chiếm tỉ trọng ngày càng cao.
Cùng một loại hàng hoá như nhau nhưng Tổng công ty đã có xu hướng nhập
Kim
Ngạch
(USD)
Tỉ
Trọn
g
(%)
Nhật Bản
12.053.113
42,83
13.651.431
46,89
14.036.04
2
49,22
Hàn Quốc
1.468.904 5,34 5.473.341 18,8
10.620.36
4
37,24
Các thị trường
khác
13.980.339 51,83 9.983.634 34,31 3.859.750 13,54
Tổng 27.502.356 100 29.108.406
100
28.516.15
6
Mặt hàng nhập khẩu của Tổng công ty chiếm phần lớn là máy móc thiết
bị xây dựng và nguyên vật liệu xây dựng. Máy móc thiết bị xây dựng thường
là những dây chuyền sản xuất, những máy móc có giá trị lớn nhưng lại nhập
với số lượng nhỏ nên kim ngạch nhập khẩu của mặt hàng máy móc thiết bị
thường nhỏ hơn nguyên vật liệu. Những chủng loại mặt hàng thuộc nguyên
vật liệu thường có giá trị thấp hơn nhưng lại được nhập với số lượng lớn nên
mặt hàng nguyên vật liệu vẫn chiếm tỉ trọng cao hơn.
*BẢNG 4 : KIM NGẠCH NHẬP KHẨU THEO MẶT HÀNG (2002 - 2004)
Năm
2002 2003 2004
Chỉ tiêuMặt hàng
Kim
Ngạch
(USD)
Tỉ
Trọng
(%)
Kim
Ngạch
(USD)
Tỉ
Trọng
(%)
Kim
Ngạch
(USD)
Tỉ
28.516.15
6
100
LuËn v¨n tèt nghiÖp Khoa th¬ng
m¹i 24
Nguồn : Trích báo cáo tổng kết hàng XNK hàng năm(2002 -2004)
Cụ thể, năm 2002 giá trị kim ngạch nhập khẩu của mặt hàng máy móc
thiết bị là 16.365.271 USD chiếm tỉ trọng 59,51%. Nhưng năm 2003 kim
ngạch nhập khẩu của mặt hàng này chỉ còn 15.397.075 USD chiếm 52,89%.
Và năm 2004 kim ngạch nhập khẩu là 8.314.301 USD chiếm 29,12% kim
ngạch nhập khẩu cả năm và giảm 23,77% so năm 2003.
Kim ngạch nhập khẩu hàng nguyên vật liệu xây dựng luôn tăng lên theo
các năm. Kim ngạch năm 2002 là 9.770.372 USD chiếm 35,53% , năm 2003
là 12.126.124 USD chiếm 41,66% . Do nhu cầu xây dựng cao nên nhu cầu
về nguyên vật liệu xây dựng lớn, kim ngạch nhập khẩu nguyên vật liệu xây
dựng năm 2004 là 18.520.334 USD chiếm 64,95% cả năm.
Bên cạnh hai mặt hàng có giá trị kim ngạch nhập khẩu cao ở trên thì hàng
điện dân dụng và hàng xe máy, và các mặt hàng khác có giá trị nhập khẩu
nhỏ.
Nói chung, hoạt động kinh doanh nhập khẩu của Tổng công ty trong
những năm qua tuy gặp nhiều khó khăn nhưng với sự phấn đấu nỗ lực hết
mình của Ban lãnh đạo và toàn thể công nhân viên Tổng công ty nên đã đạt
được nhiều kết quả đáng khích lệ. Góp phần tạo ra sự tăng trưởng không
ngừng của nền kinh tế Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế
giới.