ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA
Dƣơng Xuân Hùng
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ
VỆ SINH MÔI TRƢỜNG CỦA NGƢỜI DÂN Ở HAI XÃ
VÙNG SÂU HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC THÁI NGUYÊN 2008
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN
3
1.1.
Tình hình vệ sinh môi trường.
3
1.1.1.
Các khái niệm cơ bản.
3
1.1.2.
Tình hình vệ sinh môi trường.
4
1.2.
Những yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ,
thực hành về vệ sinh môi trường. 11
1.2.1
Một số khái niệm về kiến thức, thái độ, thực
hành
2.3
Thời gian nghiên cứu
22
2.4
Phương pháp nghiên cứu
22
2.4.1.
Phương pháp chọn mẫu
23
2.4.2.
Chỉ số nghiên cứu
23
2.4.3.
Kỹ thuật thu thập thông tin và công cụ nghiên
cứu
27
2.4.4.
Phương pháp khống chế sai số
39
3.4
Một số kết quả nghiên cứu định tính.
43
Chƣơng 4: BÀN LUẬN
47
4.1.
Tình hình kinh tế văn hoá xã hội ở các điểm
điều tra
47
4.2.
Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về vệ
sinh môi trường của người dân ở hai xã điều tra. 51
4.3.
Mối liên quan giữa các yếu tố với thực hành
về vệ sinh môi trường của người dân
:
Bảo vệ thực vật
CS
:
Cộng sự
ĐTNNNTTS
:
Điều tra nông nghiệp nông thôn và thủy sản
HX
:
Hố xí
KAP
:
Knowledge Attitude Practice
(Kiến thức, thái độ, thực hành)
PTTT
:
Phương tiện truyền thông
TC
:
Tiêu chuẩn
TH
:
Tiểu học
THCS
:
Trung học cơ sở
UNEP
:
United Nations Evironment Programme
Bảng 3.4
Kết quả điều tra về nguồn nước
33
Bảng 3.5
Kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về
nguồn nước.
34
Bảng 3.6
Kết quả điều tra về quản lý phân
35
Bảng 3.7
KAP của người dân về quản lý phân.
35
Bảng 3.8
KAP của người dân về chuồng gia súc
36
Bảng 3.9
Thái độ và thực hành của người dân về hoá chất
bảo vệ thực vật.
37
Bảng 3.10
KAP của người dân về vệ sinh môi trường
38
Bảng 3.11
Mối liên quan giữa tình hình kinh tế
với thực hành vệ sinh môi trường của người dân
39
Bảng 3.12
42
Bảng 3.18
Mối liên quan giữa thái độ của người dân với thực
hành về vệ sinh môi trường
43
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Thứ tự
Tên biểu
Trang
Biểu đồ 3.1
Phân bố đối tượng theo giới
30
Biểu đồ 3.2
Tình hình kinh tế của các hộ điều tra
31
Biểu đồ 3.3
Tình hình PTTT của các hộ điều tra
32
Biểu đồ 3.4
KAP của người dân về nguồn nước
34
Biểu đồ 3.5
KAP của người dân về quản lý phân
36
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vệ sinh môi trường là một trong những vấn đề được quan tâm không chỉ
ở phạm vi một quốc gia, một khu vực mà đang là vấn đề được quan tâm trên
phạm vi toàn cầu bởi tầm quan trọng của nó với sức khỏe con người [48].
Chính vì vậy trong các chính sách ưu tiên nhằm nâng cao đời sống cho người
dân ở vùng nông thôn, vùng đặc biệt khó khăn, miền núi ở nước ta hiện nay
thì vệ sinh môi trường nông thôn là một vấn đề được Đảng, Nhà nước quan
tâm đặc biệt và xác định là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát
triển khu vực này. Trong nhiều năm qua, công tác này đã liên tục được đề cập
đến trong nhiều loại văn bản của Đảng, Nhà nước như nghị quyết Trung ương
VIII, IX, chiến lược toàn diện về tăng trưởng xóa đói, giảm nghèo, chiến lược
quốc gia về nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2000 - 2020
[5], nhằm tăng nhanh tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch và có
nhà tiêu hợp vệ sinh, thực hiện mục tiêu cải thiện điều kiện sống và sức khỏe
của người dân nông thôn, góp phần thực hiện công cuộc xóa đói, giảm nghèo
và từng bước hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, đặc biệt đối với các vùng
cao, vùng sâu, vùng khó khăn, vùng dân tộc ít người [3].
Tuy nhiên, thực tế cho thấy sự phát triển kinh tế, văn hoá và xã hội tại
khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng khó khăn, vùng dân tộc ít người vẫn còn
rất thấp kém. Mức sống chung của người dân còn thấp, trình độ dân trí chưa
được nâng cao, phong tục tập quán còn lạc hậu, hệ thống đường giao thông
khó khăn, điều kiện chăm sóc y tế và phúc lợi xã hội còn thiếu thốn. Bên cạnh
tình trạng bệnh tật nói chung, tình trạng ô nhiễm môi trường do con người gây
ra đang là vấn đề đáng lo ngại, ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và sự phát
triển ở những khu vực khó khăn này [1], [2], [3], [8]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN
1.1. Tình hình vệ sinh môi trƣờng
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
* Khái niệm môi trường
- Theo nghĩa rộng: Là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng
đến một vật thể hay một sự kiện [42].
- Đối với con người: Môi trường sống là tổng hợp các điều kiện vật lý,
hoá học, sinh học, kinh tế, xã hội bao quanh và ảnh hưởng đến sự sống, sự
phát triển của mỗi cá nhân và cả cộng đồng. Môi trường bao gồm môi trường
tự nhiên và môi trường xã hội.
Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố như độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng,
bức xạ, nồng độ các chất hoá học có trong đất, nước, không khí, các vi sinh
vật
Môi trường xã hội bao gồm vấn đề chính trị, đạo đức, tôn giáo, văn
hoá, pháp luật, phong tục, tập quán, văn hoá ứng xử, chính sách
Ngày nay, môi trường hài hoà với sức khoẻ gắn liền với việc sử dụng
hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường phát triển bền vững, đảm bảo gắn chặt
phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và phát triển văn hoá [10].
*Khái niệm về sức khoẻ: Theo Tổ chức Y tế Thế giới: “ Sức khoẻ là
trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ
đơn thuần là không có bệnh hay tật” [23].
Theo định nghĩa đó sức khoẻ bao gồm ba khía cạnh: Sức khoẻ về thân
thể, sức khoẻ về tinh thần, sức khoẻ về xã hội. Cả ba mặt này làm thành một
thể thống nhất tác động qua lại lẫn nhau không thể coi nhẹ một mặt nào. Một
sạch hoặc trong tình trạng thiếu sinh hoạt và ăn uống, trong số đó 63% thuộc
Châu Á và 28% ở Châu Phi, trong khi tỷ lệ này tương ứng ở Châu Mỹ và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Châu Âu là 7% và 2%. Điều đó cho thấy các nước đang phát triển và kém
phát triển thì tỷ lệ dân số không được cung cấp nước sạch rất cao [50].
Theo qui định của Bộ Y tế nước ta: nước máy, nước mưa, nước giếng
khoan, nước máng lần không có nguồn ô nhiễm trong vòng 7 m tính từ nguồn
nước được coi là nước sạch. Theo qui định này thì hiện nay 80% dân số nước
ta đang ăn uống bằng nguồn nước sạch. Tuy nhiên ở nước ta, nước giếng
khoan, nước máng lần, nước giếng khơi nếu sử dụng để ăn uống ngay mà
không qua xử lý sẽ không đảm bảo vệ sinh và không coi là nguồn nước sạch
được [9].
Theo kết quả điều tra y tế quốc gia năm 2001-2002: tỷ lệ người dân
được sử dụng một số nguồn nước cho ăn uống và sinh hoạt ở nước ta năm
1992 như sau: 20% dân số dùng nước máy, 12% dùng nước giếng khoan, 4%
dùng nước mưa, 11% dùng nước giếng khơi, 20% dùng nước sông hồ [9].
Năm 1997 tỷ lệ này tương ứng là 30,6%, 15%, 13%, 10% và 12%. Năm 2001
tỷ lệ dân số sử dụng các nguồn nước trên tương ứng là 45,9%, 16%, 21%,
14% và 10% [9].
Kết quả trên cho thấy, ở nước ta vào thời điểm năm 2001, tỷ lệ số dân
sử dụng nước máy cao nhất với 45,9%; 16% dân số sử dụng nguồn nước
giếng khoan và 14% sử dụng nước giếng khơi. Kết quả trên cũng cho thấy, tỷ
lệ số hộ dân sử dụng nguồn nước sạch như nước máy tăng nhanh qua các năm
và tỷ lệ dân số sử dụng nguồn nước sông hồ có giảm đi. Nhưng theo báo cáo
của Bộ y tế chỉ 1/3 dân số xử lý nước trước khi sử dụng. Hơn 1/3 dân số dùng
nước giếng khơi và nước mưa để ăn uống nhưng trong đó chỉ có 2,9% dân số
Phân người và gia súc là yếu tố truyền nhiễm chủ yếu của nhiều bệnh
nhiễm trùng, ký sinh trùng, đặc biệt là các bệnh đường ruột. Sử dụng các hố
xí không hợp vệ sinh hoặc không có hố xí gây ô nhiễm môi trường tạo nguy
cơ mắc bệnh hệ tiêu hóa như tiêu chảy, lỵ trực khuẩn, tả, thương hàn, viêm
gan A, giun sán , các bệnh này góp phần gây suy dinh dưỡng và thiếu máu
do thiếu sắt, làm kém sự phát triển thể chất và tăng nguy cơ tử vong ở trẻ em Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
và làm giảm sức khỏe cho người lớn cũng như cộng đồng dân cư. Người chết
bởi những bệnh liên quan đến tiêu chảy chủ yếu là trẻ em [9].
Theo báo cáo của tổ chức UNEP vào thời điểm năm 2002, thế giới có
2,4 tỷ người không được tiếp cận với các công trình vệ sinh, trong đó có 1,3
tỷ người ở Ấn Độ và Trung Quốc. Trong tổng số những người không được
tiếp cận với nhà tiêu hợp vệ sinh thì 80% là ở Châu Á, 13% là Châu Phi, trong
khi chỉ có 5% dân số Châu Mỹ Latinh và 2% dân số Châu Âu không được
tiếp cận với hố xí hợp vệ sinh [50]. Như vậy khu vực các nước đang và chậm
phát triển tỷ lệ số người không được tiếp cận với hố xí hợp vệ sinh rất cao, Rõ
ràng đói nghèo đang đặt ra nhiều vấn đề sức khỏe đối với người dân ở khu
vực này, trong đó có vấn đề vệ sinh môi trường.
Cũng theo UNEP, tình hình ô nhiễm môi trường do chất thải của con
người tỷ lệ nghịch với tỷ lệ số hộ gia đình có hố xí hợp vệ sinh, điều đó có
nghĩa là tỷ lệ số hộ có hố xí cao chưa hẳn là nguy cơ ô nhiễm môi trường từ
chất thải của con người đã giảm đi, mà quan trọng nó đánh giá bằng số hộ dân
cư có hố xí hợp vệ sinh. Tức là chất thải của con người phải được sử lý trước
khi đổ vào môi trường. Ở rất nhiều nơi trên thế giới hiện nay, nhất là các nước
đang phát triển và chậm phát triển, mối liên quan giữa hệ thống vệ sinh và
chất thải của con nguời đang là vấn đề cần lưu tâm [50].
2006 của Tổng cục thống kê thì cả nước có 16,91% số hộ dùng hố xí tự hoại,
5,77% dùng hố xí thấm dội nước, 22,6% sử dụng hố xí 2 ngăn, 1,68% dùng
hố xí chìm có ống thông hơi, 41,81% dùng hố xí khác và 11,18% số hộ không
có hố xí. Trong đó khu vực các khu vực đồng bằng sông Cửu Long có số hố
xí không hợp vệ sinh và không có hố xí cao nhất (81,58%), khu vực Tây Bắc
có tới 58,65 số hộ có hố xí không hợp vệ sinh và 27,18 số hộ không có hố xí,
tiếp đến là khu vực Tây nguyên tương ứng là 45,58 và 30%, khu vực Đông
Bắc: 40,28 và 14,56% [40].
Như vậy, ở nước ta vấn đề hố xí hợp vệ sinh còn rất nhiều yếu kém. Hoạt
động vệ sinh môi trường còn chưa được chú ý nhất là ở các vùng nông thôn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Nguy cơ môi trường bị ô nhiễm do phân người khá cao. Số hộ gia đình có hố
xí được xem là hợp vệ sinh gồm hố xí dội nước và 2 ngăn chiếm một tỷ lệ
thấp. Nơi có tỷ lệ loại hố xí này cao nhất ở đồng bằng sông Hồng (36,9% và
48%), thấp nhất ở đồng bằng sông Cửu Long (7,0% và 2,4%). Loại hố xí
thùng, một ngăn rất phổ biến ở các vùng với tỷ lệ chung 40,6%, cao nhất ở
vùng Bắc Trung Bộ (68,3%) và thấp nhất ở duyên hải miền Trung (13,0%). Ở
vùng đồng bằng sông Cửu Long loại hố xí thường gặp là hố xí cầu chiếm tỷ lệ
46,4% [4], [5], [6].
1.1.2.2. Tình hình vệ sinh môi trường ở miền núi phía Bắc.
Miền núi phía Bắc nước ta là một khu vực kinh tế, chính trị, văn hoá
quan trọng nhưng lại là một khu vực còn nghèo nàn về kinh tế và vẫn còn
nhiều phong tục tập quán lạc hậu. Đây là nơi cư trú đan xen giữa dân tộc đa
số với dân tộc thiểu số. Mỗi dân tộc có trình độ kinh tế, văn hoá và phong tục
tập quán với những sắc thái riêng biệt [13]. Tình hình vệ sinh môi trường ở
miền núi phía Bắc chịu ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện kinh tế - văn hoá - xã
Nam Hoà (Đồng Hỷ - Thái Nguyên): 32,22% [28]. Nghiên cứu tại xã Quang
Thuận ở huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn (1996-1997) cho thấy tỉ lệ hộ gia
đình sử dụng giếng nước hợp vệ sinh còn thấp, mặc dù sau can thiệp đã có sự
gia tăng đáng kể (từ 28,57% trước can thiệp, tăng lên 37,93% sau can thiệp)
[31]. Một nghiên cứu khác được tiến hành ở hai xã Chiềng Sinh và Tạ Bú
(Sơn La) cho thấy tỷ lệ giếng nước hợp vệ sinh rất thấp (13,9% và 0%) [15].
Nước dùng để ăn uống và sinh hoạt hàng ngày cho đồng bào dân tộc miền núi
hầu hết không đạt tiêu chuẩn vệ sinh. Nguồn nước cũng bị ô nhiễm nặng nề
do tệ phá rừng đầu nguồn, do các chất thải của con người và súc vật Trong
khi đó ở một số dân tộc vẫn còn tập quán sử dụng nước khe suối, nước sông
các nguồn nước này đều không đạt tiêu chuẩn vệ sinh, bị ô nhiễm cả về mặt
hoá học và vi sinh vật. Đặc biệt, ở Cán Tỷ (Hà Giang) cho thấy 100% mẫu
nước có vi sinh vật [29]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Nhìn chung, thực trạng vệ sinh môi trường sống của đồng bào các dân
tộc miền núi, chúng ta thấy đây là vấn đề nghiêm trọng. Một trong những
nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường là thiếu kiến thức về vệ
sinh môi trường, nước sạch, hố xí hợp vệ sinh còn thấp, đặc biệt là kiến thức
về vai trò và tác hại của nguồn nước, hố xí không hợp vệ sinh liên quan đến
sức khoẻ và bệnh tật của con người ở đây. Đây cũng là vấn đề quan trọng mà
ngành y tế cần phải quan tâm đặc biệt, cần có những giải pháp can thiệp thích
hợp cho miền núi để góp phần thực hiện có hiệu quả nội dung chăm sóc sức
khoẻ ban đầu tại khu vực này.
1.2. Những yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh
môi trƣờng
và gây bỏng, từ đó trẻ không bao giờ đưa tay vào lửa nữa. Trẻ em có thể nhìn
thấy một con vật chạy ngang đường và bị xe cán phải, từ sự việc này trẻ em
biết được rằng chạy ngang đường có thể nguy hiểm và từ đó khi đi ngang
đường chúng phải cẩn thận. Kiến thức là một trong các yếu tố quan trọng giúp
con người có các suy nghĩ và tình cảm đúng đắn, từ đó dẫn đến hành vi phù
hợp trước mỗi sự việc. Kiến thức của mỗi người được tích lũy trong suốt cuộc
đời. Có các kiến thức hay hiểu biết về bệnh tật, sức khỏe và bảo vệ, nâng cao
sức khỏe là điều kiện cần thiết để mọi người có cơ sở thực hành các hành vi
sức khỏe lành mạnh. Các kiến thức về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe mỗi
người có thể thu được từ các nguồn khác nhau, được tích lũy thông qua các
hoạt động thực tiễn [23].
*Khái niệm về thái độ. Thái độ được coi là trạng thái chuẩn bị của cơ
thể để đáp ứng với những tình huống hay hoàn cảnh cụ thể. Thái độ phản ánh
những điều người ta thích hoặc không thích, mong muốn hay không mong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
muốn, tin hay không tin, đồng ý hay không đồng ý, ủng hộ hay ngăn cản. Thái
độ thường bắt nguồn từ kiến thức, niềm tin và kinh nghiệm thu được trong
cuộc sống, đồng thời thái độ cũng chịu ảnh hưởng của những người xung
quanh. Những người sống gần chúng ta có thể làm cho chúng ta thay đổi suy
nghĩ, cách nhìn nhận vấn đề, mức độ quan tâm đến vấn đề, từ đó dẫn đến thay
đổi thái độ. Thái độ của chúng ta có thể bắt nguồn từ những người khác, đặc
biệt là những người mà chúng ta kính trọng. Thái độ chịu ảnh hưởng của môi
trường, hoàn cảnh. Trong một số hoàn cảnh nhất định không cho phép người
ta hành động phù hợp với thái độ của họ. Ví dụ một bà mẹ rất muốn đưa con
bị sốt cao đến trạm y tế để khám và điều trị nhưng vì ban đêm, trạm y tế lại xa
nên bà mẹ buộc phải đem con đến khám bác sỹ tư gần nhà. Hành động này
thải của con người gây ra. Chỉ có 18,3% trong số họ biết rằng sử dụng hố xí
hợp vệ sinh có thể phòng chống được bệnh tiêu chảy và bệnh ký sinh trùng.
Tỷ lệ người kể tên được các bệnh do nguồn nước gây ra thấp như tiêu chảy
(62%), ký sinh trùng (18,6%), bệnh về da (17,6%), bệnh về mắt (11%) và
bệnh phụ khoa (3,8%) [49]. 2,3% số người được hỏi biết rằng rửa tay bằng xà
phòng có thể phòng chống được bệnh tiêu chảy và bệnh ký sinh trùng. Về
nguồn nước sạch: 44,7% cho rằng đó là nước giếng đào; 33,9% cho rằng đó là
nước giếng khoan; 24,4% cho rằng đó là máng lần; 16% là nước mưa và 14%
là nước ao hồ. Cũng theo Nguyễn Huy Nga và CS: Khoảng 1/4 số người trong
diện điều tra không biết tên của 5 loại hố xí hợp vệ sinh, hầu hết chỉ cho rằng
đó là hố xí tự hoại (54,9%), hố xí dội nước (20,7%) và hố xí hai ngăn
(13,6%). Đồng thời chỉ có 43,8% hộ gia đình ở miền núi chưa có hố xí có kế
hoạch xây dựng hố xí trong tương lai. Tuy nhiên 57,2% hộ gia đình ở miền
núi mong muốn có các khoản hỗ trợ tài chính cho xây dựng các công trình vệ
sinh. Vấn đề xử lý phân: 30% số hộ gia đình sử dụng phân tươi để bón ruộng,
20% số hộ gia đình xử lý phân đúng cách, còn lại 80% xử lý không đúng kỹ
thuật làm tăng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước và thực phẩm. Điều tra cũng cho
thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa tỷ lệ hố xí hợp vệ sinh với trình độ học Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
vấn, giới, dân tộc, khu vực sống và thu nhập của người dân. Riêng về khía
cạnh dân tộc thì thực hành về vệ sinh môi trường của người dân tộc thiểu số
thấp hơn so với người Kinh. Bốn nhóm có thực hành vệ sinh môi trường thấp
nhất là: người có trình độ học vấn thấp, đàn ông, dân tộc thiểu số và nhóm
người ở các khu vực còn có các phong tục tập quán lạc hậu. Bên cạnh đó,
nhiều vấn đề về vệ sinh môi trường ở Việt Nam được đặt ra không chỉ ở các
hộ gia đình mà ngay cả nơi công cộng, chỉ có 18% hộ gia đình; 11,7% trường
màu. Phân súc vật, phân người không được thu gom và xử lý tốt, vẫn thải một
cách rất “tự nhiên” ra ngoài môi trường, trôi theo nước mưa và gây ô nhiễm
các nguồn nước [13]. Nghiên cứu ở khu vực miền núi phía Bắc, Hoàng Khải
Lập và cộng sự cũng cho rằng: Nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm nguồn
nước ăn uống và sinh hoạt của người dân miền núi phía Bắc là do tập quán thả
rông gia súc, chất thải (phân) không được xử lý. Cần thay đổi, cải thiện tập
quán, thói quen vệ sinh của người dân là một trong những vấn đề quan trọng
và cấp bách nhất hiện nay. Để làm được điều đó đòi hỏi phải có sự tham gia
của cộng đồng, sự kết hợp giữa các hoạt động khác nhau của các đoàn thể xã
hội mà công tác giáo dục và truyền thông có một vai trò và ý nghĩa to lớn
[29].
1.2.3.2. Điều kiện về địa lý, kinh tế, văn hoá, xã hội tại khu vực sống của
người dân
Người dân ở miền núi nước ta sống chủ yếu ở khu vực có địa hình
phức tạp, hệ thống giao thông chưa phát triển, việc đi lại giữa các tỉnh, hoặc
các huyện trong tỉnh cũng gặp rất nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, kinh tế của
các tỉnh của khu vực miền núi nói chung còn ở mức thấp, nền kinh tế vẫn còn
mang tính tự túc, tự cấp, năng suất lao động xã hội chưa cao. Thu nhập bình
quân hàng năm khoảng 150 đến 300 kg thóc/người, mặc dù nhiều chương
trình xoá đói giảm nghèo trong 10 năm qua đã cải thiện rõ rệt đời sống của đại
bộ phận dân cư (Năm 2000 GDP bình quân đạt 400 USD/người, lương thực
bình quân quy thóc đạt 455 kg/người, mức sống dân cư tăng 1,5 lần so với Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
năm 1990 ). Tuy vậy, số hộ nghèo ở khu vực này vẫn chiếm một tỷ lệ cao (hộ
dân tộc Tày: 6,9%, Sán Dìu: 13,55%, Mông: 42,19%, Thái: 6,45%, Giáy:
21,6%, Mường: 14,47%), tỷ lệ hộ ở nhà tạm (Tày: 17,48%, Sán Dìu: 30,12%,
khăn. Có như vậy mới mong rằng hành vi vệ sinh về môi trường của người
dân mới được cải thiện và nâng cao. Nếu cán bộ y tế xã, y tế thôn bản, vệ
sinh viên chưa được tập huấn đầy đủ, chưa nắm vững kiến thức, chưa có đủ
kỹ năng truyền thông về vệ sinh môi trường. Vai trò của các già làng, trưởng
bản, những cá nhân có uy tín, lãnh đạo cộng động chưa được phát huy, chưa
khai thác được những mặt mạnh của các phong tục truyền thống tốt đẹp trong
nhân dân nhưng hương ước bản làng, quy định dòng họ thì đây là những khó
khăn, cản trở việc thực hiện các biện pháp can thiệp giải quyết ô nhiễm môi
trường, làm ảnh hưởng rất lớn đến kiến thức, thái độ và thực hành về vệ sinh
môi trường của người dân [10], [23], [30], [32].
1.2.3.4. Chính sách của Quốc tế và của Đảng, Nhà nước ta về vệ sinh môi
trường:
*Chính sách của Quốc tế
Liên hiệp quốc đã tuyên bố lấy thập niên 1981-1990 làm thập niên cấp
nước và vệ sinh Quốc tế. Năm 1992, Liên hiệp quốc cũng đã chính thức chọn
ngày 22 tháng 3 hàng năm là ngày Quốc tế về nước nhắc nhở mọi người quan
tâm hơn về nguồn nước [41]. Từ năm 1982 với sự tài trợ của tổ chức
UNICEF, dự án cung cấp nước sinh hoạt nông thôn bắt đầu được triển khai có
tính thử nghiệm đối với hộ dân tại một số vùng kinh tế mới thuộc 3 tỉnh:
Minh Hải, Kiên Giang và Long An và từ năm 1984, UNICEF chính thức tài
trợ và dần mở rộng ra các tỉnh khác. Từ đó tới nay UNICEF đã không ngừng
tài trợ đầu tư mở rộng chương trình nước sinh hoạt nông thôn. Tính đến hết
năm 1990, sau 3 tài khóa trợ giúp của UNICEF với tổng kinh phí 15,095 triệu
USD Chương trình đã thực hiện được 33.489 giếng khoan lắp máy bơm tay,
đáp ứng cho khoảng 4 triệu người dân nông thôn có nước sạch sử dụng cho
nhu cầu sinh hoạt. Từ năm 1996 đến 2000 UNICEF điều chỉnh mục tiêu chiến