LUẬN VĂN:
Văn hóa và sự hình thành nhân cách trẻ em
(Trước tuổi đi học) ở nước ta hiện nay
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Điều quan trọng cần nhấn mạnh là khả năng, năng khiếu và kỹ năng của con
người không phải là bẩm sinh, chỉ có một tố chất nhất định nào đó là tiền đề về sinh
học. Còn để hình thành nhân cách trở thành con người văn hóa, trẻ em phải lĩnh hội các
giá trị và chuẩn mực văn hóa, những khuôn mẫu hành vi trong quá trình hoạt động có sự
tham gia của người lớn với tư cách là "người môi giới" hay "người tổ chức giáo dục".
Trẻ em là tương lai của đất nước. Không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam là nước
đầu tiên ở Đông Nam á và là nước thứ hai trên thế giới đã phê chuẩn và cam kết thực
hiện công ước về Quyền trẻ em do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày
12/08/1991.
Như vậy, việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được pháp luật bảo vệ nhằm
đảm bảo cho trẻ em được chăm sóc sức khỏe, được vui chơi bổ ích, được giáo dục học
hành, tạo điều kiện cho trẻ phát triển lành mạnh, có tương lai tốt đẹp.
Với những lý do vừa nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài "Văn hóa và sự hình
thành nhân cách trẻ em (Trước tuổi đi học) ở nước ta hiện nay" làm luận văn tốt
nghiệp cao học, chuyên ngành lý luận và lịch sử văn hóa. (Trong luận văn này, thuật
ngữ "nhân cách trẻ em" xin được hiểu là "trẻ em trước tuổi đi học", "quá trình nhập thân
văn hóa", hay còn gọi là "văn hóa tuổi ấu thơ" - Chú thích của tác giả).
Đã có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu văn hóa, đề tài luận văn sẽ đi theo hướng
tiếp cận liên ngành (tâm lý, xã hội, văn hóa ) để nghiên cứu vấn đề vừa nêu trên.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong tài liệu bằng tiếng Việt đã công bố mà chúng tôi biết được hiện chưa có
công trình nào nghiên cứu trọn vẹn vấn đề "Văn hóa và sự hình thành nhân cách trẻ em
(trước tuổi đi học) ở nước ta". Đương nhiên, đã có những bài viết đăng trên tạp chí, báo,
hoặc những báo cáo khoa học tại các hội thảo, chương sách viết về tuổi ấu thơ từ các
góc độ tâm lý, xã hội học, tôn giáo
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
Mục đích
khảo sát thực tế.
5. Đóng góp mới về khoa học của đề tài
- Nhận thấy ở nước ta chưa có công trình nào chuyên nghiên cứu vấn đề "Văn
hóa và sự hình thành nhân cách trẻ em (trước tuổi đi học) ở nước ta hiện nay", chúng tôi
hy vọng luận văn sẽ nêu được vấn đề, như một hướng nghiên cứu trong văn hóa học, để
tiếp tục nghiên cứu về sau.
Đây mới là bước đầu nghiên cứu văn hóa tuổi ấu thơ ở trẻ em người Kinh
(Việt), chúng tôi mong rằng, khi có điều kiện sẽ đầu tư tâm sức để nghiên cứu văn hóa
nuôi dạy trẻ ở nhiều dân tộc khác trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Một trong những xu hướng nghiên cứu văn hóa học hiện tại là xu hướng "Văn
hóa và Nhân cách", đã xuất hiện từ nửa đầu thế kỷ XX, với nhiều tên tuổi nổi tiếng như: R.
Benedict (1934), A. Kroeber (1948), M. Herskovits (1948), M. Mead (1964), J. Bastide
(1971), E.V. Xôcôlốp (1972)
Đề tài luận văn nằm trong xu hướng nghiên cứu trên đây, nên có thể có những
đóng góp nhất định về lý luận. Khi vận dụng lý luận trên vào hoạt động thực tiễn sẽ
hình thành nên văn hóa xây dựng con người, trong đó có văn hóa nuôi dạy trẻ trong điều
kiện hiện thời ở nước ta. Đây là ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương, 6 tiết.
Chương 1
Mấy vấn đề lý luận về văn hóa và sự hình thành nhân cách trẻ em (trước tuổi đi
hóa cá nhân và văn hóa cộng đồng [28]. Văn hóa cá nhân là toàn bộ tri thức (vốn kinh
nghiệm), quan niệm được tích lũy vào mỗi cá nhân, quy định ứng xử của nó trong quá trình
hoạt động thực tiễn - lịch sử - xã hội; văn hóa cộng đồng không phải là con số cộng đơn
giản của những văn hóa cá nhân sống trong cộng đồng xã hội ấy, mà là văn hóa của một
nhóm xã hội. Đó là toàn bộ những quan niệm và hành xử được cộng đồng chia sẻ và chấp
nhận, đã trở thành truyền thống của cộng đồng xã hội. Chính hệ thống những quan niệm và
hành xử này làm nên bản sắc văn hóa của cộng đồng xã hội ấy.
Trong luận văn này khi nói: "Tác động của văn hóa "- tức là nói đến tác động
của "văn hóa cộng đồng", đối với sự hình thành "nhân cách trẻ em"- tức là nói đến sự
hình thành "văn hóa cá nhân" ở mỗi trẻ em. Như vậy, luận văn sử dụng cả hai nghĩa của
từ văn hóa.
Để tiếp cận đối tượng nghiên cứu, đề tài sẽ phân tích văn hóa dưới góc nhìn xã hội
học và với phương pháp liên ngành: tâm lý, văn hóa, xã hội học.
Phù hợp với cách tiếp cận trên đây, đề tài vận dụng định nghĩa văn hóa (cộng
đồng) của nhà xã hội học Ba Lan Giăng Sê-pan-xki. Ông viết: "Văn hóa là toàn bộ sản
phẩm vật chất và tinh thần của hoạt động người, những hệ thống giá trị và khuôn mẫu
ứng xử được cộng đồng xã hội thừa nhận và truyền lại cho các cộng đồng người khác và
cho những thế hệ tương lai thông qua các thiết chế xã hội - văn hoá của nó" [28, tr. 52].
Định nghĩa trên đây xuất phát từ quan điểm mác-xít xem văn hóa là hoạt động
sáng tạo tích cực của con người, sống trong một cộng đồng xã hội nhất định. Hoạt động
sáng tạo ấy đã tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần nhằm đáp ứng các nhu cầu tồn
tại và phát triển, nó còn tạo ra những hệ thống giá trị và chuẩn mực xã hội đóng vai trò nền
tảng tinh thần, điều tiết và thúc đẩy xã hội đi lên theo hướng nhân bản. Toàn bộ những
thành quả sáng tạo ấy được tích lũy lại, thông qua các thiết chế xã hội - văn hóa như gia
đình và trường học mà truyền đạt cho các thế hệ tương lai và cho các cộng đồng khác
nữa. Như vậy, văn hóa chẳng những là chất keo liên kết làm cho xã hội bền vững và
phát triển, nó còn là cầu nối giữa các thế hệ và giữa các cộng đồng người, tạo nên sự đa
các cấp cộng đồng (mà cá nhân ấy sở thuộc vào), chủ yếu là cộng đồng dân tộc - quốc
gia, khi ấy ta có nhân cách văn hóa.
Từ góc nhìn văn hóa học, nhân cách văn hóa có thể hình dung như là diện mạo
tâm lý người lao động sáng tạo, người đại biểu mang vác hệ giá trị và chuẩn mực xã hội
của một cộng đồng xã hội nhất định (ở đây là cộng đồng dân tộc - quốc gia). Đặc điểm
ưu trội của nhân cách văn hóa có thể biểu hiện ở năng lực sáng tạo của nó. Lao động
sáng tạo trong văn hóa như là hình thức tự khẳng định, tự bộc lộ và phát huy "các lực
lượng bản chất người" (C. Mác) của nhân cách văn hóa.
Vấn đề xây dựng văn hóa suy cho cùng, là vấn đề con người văn hóa, nhân cách
văn hóa. Hồ Chí Minh là Một nhà văn hóa, Một nhân cách văn hóa tiêu biểu của dân
tộc Việt Nam. ở con người Bác, nhân cách văn hóa được thể hiện trước hết là các giá trị
văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, và điều quan trọng, nó luôn tỏa sáng, ảnh hưởng tới
trong cuộc sống mọi con người Việt Nam nói riêng và làm rung động không ít tâm hồn
con người các dân tộc trên thế giới.
Để phát triển toàn diện con người, hình thành nhân cách văn hóa ở con người,
đặc biệt ở lứa tuổi thơ, vai trò của Văn hóa và Giáo dục là cực kỳ to lớn và có ý nghĩa
then chốt trong thời kỳ phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước. Đưa các
giá trị văn hóa truyền thống dân tộc - hiện đại vào giáo dục gia đình, nhà trường nhằm
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và văn hóa văn minh nhân loại, hình thành nhân cách
văn hóa cho thế hệ trẻ thơ là đã đưa Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương
lần thứ năm (khóa VIII) của Đảng vào cuộc sống.
1.1.3. Khái niệm "trẻ em trước tuổi đi học"
Trong cuộc đời con người, có một giai đoạn được gọi là "tuổi ấu thơ", đồng thời
cũng là giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành nhân cách mà một số nhà tâm lý gọi
là "trẻ em trước tuổi đi học". Về mặt thuật ngữ, tuy chưa có sự thống nhất chung, nhưng
có sự thừa nhận chung trẻ em trước tuổi đi học được tính từ 0-6 tuổi.
Trong lứa tuổi này, các nhà khoa học giáo dục, tâm lý lại chia ra các giai đoạn
hoàn thiện hoạt động tiếp thu và nhận thức của não bộ các cháu. Muốn nuôi dạy trẻ có
kết quả, làm cho chúng khỏe mạnh và phát triển toàn diện, chúng ta không thể không
tính đến vai trò của văn hóa và nắm chắc các đặc điểm trên.
Tuy nhiên, đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự sống của con người không
chỉ bắt đầu từ lúc chào đời, mà trước đó - thời kỳ thai nhi - vào khoảng tuần thứ tư sau
thụ thai đã xuất hiện nhịp đập của tim, và vào tháng thứ năm thì não bộ đã được hình
thành với chừng 12 tỷ tế bào thần kinh Người ta còn ghi nhận ở thai nhi sự kế tiếp
nhau của hoạt động và nghỉ ngơi mà người mẹ cảm nhận được khi thai "máy", "đạp",
"ngủ" ở trong bụng. Ngược lại, điều mà chúng ta biết chắc chắn là, những tình cảm,
những hy vọng, sự hiểu biết của người mẹ có ảnh hưởng sâu sắc đến đứa trẻ trong bụng.
Do đó, trong xã hội truyền thống, và hơn bao giờ ở xã hội hiện đại người ta đặt ra vấn
đề "thai giáo" cho các bà mẹ. Những chứng cứ trong nghiên cứu nhân học nhân thể đã
khẳng định "Một đứa trẻ khi còn nằm trong bụng mẹ nó không chỉ là một sinh thể ăn
bám và thụ động. Nó nhận ra bóng tối và ánh sáng, nó nghe và đáp ứng các tiếng ồn, nó
cảm thụ được đau đớn và phản ứng lại, nó mút ngón tay cái " (P. K. Bock) [5, tr. 5].
Như thế cho thấy, mọi tập quán xã hội có liên quan đến hiện tượng mang thai và sinh
nở, từ cách làm việc, nghỉ ngơi, ăn uống, kiêng cữ, những cảm xúc buồn vui của người
mẹ khi mang thai đều ảnh hưởng đến thai nhi.
Trẻ từ khi ra đời đến suốt thời ấu thơ, trải qua một thời kỳ phát triển rất nhanh
và phong phú về các mặt thể chất, tình cảm, trí tuệ. Đó cũng là lứa tuổi đặc biệt nhạy
cảm với mọi tác động bên ngoài, mọi ảnh hưởng của giáo dục cũng như môi trường
xung quanh. Thời kỳ ấu thơ là giai đoạn khơi dậy năng lượng đời người và là thời kỳ
quan trọng nhất đời người. Nhiều công trình nghiên cứu tâm lý - văn hóa chứng minh
việc khai thác đầy đủ năng lượng giai đoạn tuổi ấu thơ có tính quyết định làm nền tảng
thành công của mỗi con người sau này.
Như vậy, văn hóa trong nuôi dưỡng và giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non có tầm
quan trọng đặc biệt. Ngày nay xu hướng giáo dục tiên tiến đều xem trọng việc "nuôi" và
Theo Max Weber - nhà xã hội học người Đức - con người được hình thành mô
hình hành vi (khuôn mẫu tác phong) từ nhỏ để có khả năng tham gia vào giao tiếp
chung với con người, cộng đồng và xã hội. Max Weber là nhà xã hội học đại diện cho
thuyết hành động. Quan điểm văn hóa của ông không coi văn hóa như một hiện tượng
có thể mô tả được, mà là cả một hệ thống các quy định, quy tắc hướng dẫn hành vi ứng
xử của con người, quy định phương thức hành động [24].
Còn theo M. J. Herskovits, cùng trường phái nhân học thì đặc biệt quan tâm vấn
đề "nhập thân văn hóa". Văn hóa ở đây được quan niệm như một công cụ vận thông đặc
biệt giúp cho con người dễ dàng thích nghi với điều kiện sống.
Theo Từ điển Dân tộc học tiếng Pháp của Michel Panoff và Michel Perrin thì:
Nhập thân văn hóa - đó là quá trình hữu thức hoặc vô thức, nhờ đó
một cá thể trong suốt đời người đã hấp thụ các truyền thống, tức các mô hình
ứng xử của nhóm, và hành xử về các mặt chức năng đối với các truyền thống
ấy. Nhờ có thuật ngữ này, người ta đã xác lập được mối liên hệ giữa sự kiện
xã hội, được xem xét như bản thân sự vật, với hành vi của cá nhân, thông qua
đó mà văn hóa biểu lộ ra. Thuật ngữ này thường coi như đồng nghĩa với
thuật ngữ "nhập tâm văn hóa". Một số nhà nghiên cứu khác lại thâu gộp
trong thuật ngữ "nhập thân văn hóa" cả quá trình trao truyền văn hóa, cùng
với các hiện tượng "đổi mới" (phát minh) văn hóa [26].
Bằng khái niệm "nhập thân văn hóa", có thể diễn đạt trình bày sự lĩnh hội của
trẻ em đối với các chuẩn mực văn hóa, khuôn mẫu văn hóa, giá trị văn hóa trong quá
trình hoạt động, chủ động tiếp cận với xã hội và với những cá thể khác. Nhập thân văn
hóa do đó, vừa là một cách thức để con người thích ứng hòa nhập với điều kiện sống,
vừa là cách thức để văn hóa tồn tại và phát triển.
Theo các nhà nhân học, quá trình nhập thân văn hóa kéo dài suốt
cả đời người, chỉ đến chết mới thôi (M. J. Herskovits), song giai đoạn ấu thơ là
quan trọng bậc nhất trong đời sống văn hóa của một cá thể. Theo
gia lề lối nuôi - dạy trẻ đã trở thành những khuôn mẫu ứng xử. Bằng cách đáp ứng các
nhu cầu của trẻ theo những lề lối văn hóa đã lập thành mô hình, những người lớn tuổi
trong môi trường bao quanh nó đã khuôn ứng xử của nó cho phù hợp với chuẩn giá trị
của xã hội. Khuôn mẫu hay lề lối nuôi - dạy trẻ có sự khác nhau giữa các vùng miền,
cộng đồng về tập quán do những khác nhau về địa lý, lịch sử và lề lối nuôi dạy trẻ có
những biến thiên theo thời gian khi tiền đề kỹ thuật xã hội cũ không còn phù hợp với xã
hội mới.
ở Việt Nam, giai đoạn tiền ngôn ngữ, đứa trẻ được nuôi dạy với nhiều tập tục
khi người mẹ mang thai và sau khi sinh. Do những đặc điểm địa lý, lịch sử, xã hội
truyền thống hình thành nên môi trường văn hóa trong đó đứa trẻ chịu sự tác động của
người lớn: ăn thế nào? ăn ở đâu? ăn những gì? và cách vận tã lót, quần áo sơ sinh. Ví
dụ: phong tục Việt Nam thường thích xin những tã lót, áo quần cũ của những đứa trẻ
khỏe mạnh, dễ nuôi, hay ăn chóng lớn của một gia đình khác để vận cho trẻ sơ sinh hy
vọng nó cũng hay ăn chóng lớn, dễ nuôi
Người mẹ sau sinh trong thời gian còn ở cữ (từ 1 tháng- 3 tháng) phải kiêng
khem nhiều thứ trong ăn uống, nhằm giữ sức khỏe cho cả mẹ
và con.
- Giai đoạn ngôn ngữ: Đây là giai đoạn trẻ bước sang tuổi thứ hai, "Trẻ lên ba
(tuổi mụ) cả nhà tập nói" là như vậy. Giai đoạn ấu thơ này trẻ tiếp tục tiếp thu các chuẩn
mực và khuôn mẫu của xã hội. Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong đời sống văn hóa,
đặt nền tảng nhân cách ban đầu của một cá thể. Trẻ ở tuổi lên 2 - 3 được "học ăn, học
nói". Nó không còn có thể tự ngã hướng tâm mà phải tuân theo cách truyền dạy, áp đặt
khuôn mẫu mà cha mẹ, người lớn mong muốn ở nó. Đây cũng là giai đoạn phát triển
mạnh mẽ hệ thần kinh và não bộ của trẻ, do đó cái tốt trong trẻ giai đoạn này thật bền
vững (có khi theo nó suốt cả cuộc đời), nhưng cái xấu cũng thật khó sửa. Bởi vậy,
truyền thống nuôi dạy con trẻ ở các nước á Đông rất được coi trọng và gia đình được
xem là hạt nhân quan trọng quyết định tính cách, nhân cách của trẻ qua cách nuôi dưỡng
tuổi này trẻ được học qua "sự chơi" nhằm phát triển tối đa khả năng sáng tạo của mình.
Trò chơi cho trẻ ở thời kỳ này là hoạt động quan trọng phát triển năng lực trí tuệ, nhận
thức và khuôn mẫu hành vi, hình thành nhân cách ban đầu và kỹ năng sống ở trẻ. Qua
hoạt động trò chơi trẻ nắm được kỹ năng có nguồn gốc văn hóa dân tộc (folklore). Ví
dụ, trẻ được học cách chơi "bịt mắt bắt dê", "nu na nu nống" hoặc cho trẻ hoạt động
ngoài trời, tham quan, du khảo những nơi có phong cảnh đẹp, có lễ hội, tiếp xúc với thế
giới động vật, qua đó hình thành ở trẻ tình yêu thiên nhiên đất nước, yêu thương con
người và bảo vệ môi sinh.
Tóm lại, tuổi ấu thơ, nói như A. Kroeber "là một sự bùng nổ văn hóa độc đáo"
[4, tr. 163], tiêu biểu nhất ở nhu cầu được khám phá thế giới sự vật, và một tiềm năng
sáng tạo to lớn. Nghiên cứu "Văn hóa tuổi ấu thơ" là chúng ta đi vào các nghi thức liên
quan đến vấn đề "thai giáo", vấn đề văn hóa nuôi, dạy trẻ đáp ứng đặc điểm cuộc sống
của trẻ thơ và yêu cầu về nguồn nhân lực đất nước. Đồng thời để đảm bảo quá trình
nhập thân văn hóa của trẻ em diễn ra hài hòa, toàn vẹn, chúng ta cần có những giải pháp
văn hóa để biến nó thành nhân tố tự điều chỉnh bên trong mỗi đứa trẻ.
Thời đại ngày nay khi khoa học - kỹ thuật không ngừng phát triển và xu thế hội
nhập văn hóa đang diễn ra từng ngày trên toàn thế giới, thì yếu tố văn hóa và sáng tạo
của văn hóa càng được chú trọng trong sự nghiệp "trồng người " của mỗi quốc gia.
Chương 2
Khảo sát thực trạng
về văn hóa tuổi ấu thơ ở nước ta
Khảo sát thực trạng về văn hóa tuổi ấu thơ ở nước ta tác giả sẽ đi vào hai thời kỳ
chủ yếu là: Xã hội truyền thống (từ Cách mạng tháng 8 năm 1945 trở về trước) và xã hội
hiện nay (từ đổi mới năm 1986 tới nay).
phương diện tinh thần. Thành hoàng có thể là anh hùng liệt sĩ, cũng có thể là ông tổ lập
nên làng xóm, dạy dân cách làm ruộng, phát triển nghề, làng có một họ thì ông tổ còn là
người sáng lập ra dòng họ. Biết ơn các vị Thành hoàng và tổ tiên tức là đã có một niềm
tin sâu sắc, thiêng liêng về cội nguồn. Hàng năm vào dịp hội làng, các thành viên trong
cộng đồng "nhập thân" vào sinh hoạt tâm linh của ngày hội với niềm cộng cảm say mê,
từ đó hình thành nên ở mỗi thôn dân một tâm thức làng quê sâu sắc.
Trong đời sống xã hội, bất cứ dân tộc nào cũng thường phải định ra những
chuẩn mực ứng xử cho các thành viên xã hội. Điểm đặc biệt trong ứng xử của người
Việt Nam là dựa trên nguyên tắc tôn trọng sự đồng thuận trong cộng đồng. Vì thế, cộng
đồng thường yêu cầu các thành viên sống phải nghĩ đến gia tộc, dòng họ làng xã chứ
không được chỉ nghĩ đến bản thân. Trong xã hội cộng đồng ấy không thể có "cái tôi" cá
nhân, mà chỉ có "cái ta" cộng đồng. Điều này cũng có nghĩa là, tự do cá nhân là điều
cấm kỵ, không bao giờ được đặt ra, khi có người nào dám phản ứng thì dư luận cộng
đồng sẽ lên án. Thêm vào đó, sống ở trong làng mọi người đều rõ gốc tích của nhau nên
nếu không tuân thủ những quy định của cộng đồng thì sẽ gây nên những điều tiếng thị
phi đe dọa sự an sinh của gia đình.
Như vậy, một mặt cộng đồng giúp cho mỗi thành viên tồn tại, nhưng mặt khác,
nó lại đặt ra trước mọi người những cái "ngưỡng" mà mỗi người không thể vượt qua.
Sống trong cộng đồng, mỗi người nếu muốn được an toàn thì phải biết dẹp "cái tôi" của
mình lại để hòa vào "cái ta" cộng đồng. Xét về phương diện phát triển của mỗi người thì
đó là điều rất hạn chế, nhưng xét về mặt bảo tồn lợi ích cộng đồng trong một giai đoạn
lịch sử nhất định thì đó chính là một biện pháp cần thiết.
Trong họ mạc, láng giềng, làng xã thì tính chất quan hệ của con người vẫn nặng
về tình cảm. Cách ứng xử giữa những người trong dòng họ, làng xã chủ yếu là do khía
cạnh tình nghĩa chi phối. Sống ở làng, người ta biết rõ về nhau đến bao nhiêu đời nên
cách ứng xử của người Việt thường vị tình chứ không vị lý. Người ta không thể "cạn tàu
ráo máng", khi xử sự bao giờ cũng nhớ nguyên tắc "chém cây ai nỡ dứt chồi". Muốn tạo
nhà". Nhà nghiên cứu Phan Ngọc có nhận xét: "Tâm thức Việt Nam nói "nước nhà" tức
là khi nói đến nhà (gia đình) phải xét trong quan hệ với nước, ngược lại, khi xét đến
nước phải xét trong quan hệ với nhà ". Lý do người Việt Nam, chủ yếu người Kinh
(Việt), làm ruộng nước trên đồng bằng buộc phải chống chọi với hạn hán, lũ lụt, đắp đê,
giữ đê. Hoàn cảnh này tạo nên sự gắn bó không chỉ trong gia đình mà cả với làng và
nước. Cùng với đắp đê trị thủy, người Việt Nam còn nhiệm vụ chống ngoại xâm - hai
đặc điểm lớn nhất của dân tộc Việt Nam đòi hỏi sự đoàn kết cao giữa gia đình - làng -
nước. Mặt khác, với đặc điểm cơ cấu xã hội Nhà - Làng - Nước, ở đó, con người sống
trong cộng đồng gia đình, gia đình trong cộng đồng làng xã, làng xã trong cộng đồng
đất nước, tạo nên nhân cách con người truyền thống chỉ là những thôn dân, dân làng, và
là con người cộng đồng. Do đó, có thể xem sự gắn bó con người - gia đình - dòng họ -
làng xã - đất nước là nét cố hữu của đời sống tinh thần người Việt trong xã hội truyền
thống.
Trong xã hội truyền thống, Nho giáo có vai trò quan trọng trong đời sống chính
trị và xã hội. Điều mà gia đình Nho giáo bảo vệ là trật tự trên dưới: cha - mẹ, vợ -
chồng, anh chị em có vai trò xã hội và phận vị của mình. Đạo lý quan trọng bậc nhất
của gia đình kiểu này là giữ nghiêm trật tự kỷ cương giữa chức năng "sử" là quyền hạn
sai khiến với "sự" là nghĩa vụ phải phục tùng của bề dưới với bề trên. Ví dụ: giữa cha
mẹ (bề trên) với con cái (bề dưới), giữa chồng (bề trên) với vợ (bề dưới), giữa anh chị
(bề trên) với em (bề dưới) v.v
Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình Nho giáo được chế định thành lễ
nghĩa. Theo lễ nghĩa cũng có nghĩa là theo cái "chuẩn chung" của xã hội, chứ không
theo ý muốn riêng của bản thân mỗi người. Mọi người cho rằng, con người sống theo ý
riêng của mình là ích kỷ, là gây tổn thương tới sự hòa thuận của gia đình. Do đó, trong
đời sống cộng đồng làng xã cũng như gia đình người ta khuyến khích tinh thần "vị tha"
(vì người khác) và chê bai tính "vị kỷ", tức chỉ nghĩ đến bản thân mình.
Như vậy, gia đình truyền thống thường quan tâm đào tạo ra những con người