ĐỀ TÀI
Phân tích ma trận Swot của ga
Đà Nẵng
ĐỀ TÀI Error: Reference source not found
Trường: Đại học Dân lập Duy Tân Error: Reference source not found
Mã Sinh viên: 162350488 Error: Reference source not found
A. PHÂN TÍCH MA TRẬN SWOT CỦA GA ĐÀ NẴNG Error: Reference source
not found
Một số lý luận về Ma trận SWOT : Error: Reference source not found
Khái niệm phân tích ma trận SWOT : Error: Reference source not found
Vai trò của việc phân tích ma trận SWOT : Error: Reference source not found
Ý nghĩa và sự cần thiết phải phân tích ma trận SWOT : Error: Reference source not
found
B. Thực trạng : Error: Reference source not found
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG MA TRẬN SWOT CỦA GA ĐÀ NẴNG Error:
Reference source not found
I. Đặc điểm của Ga Đà Nẵng : Error: Reference source not found
II. Quá trình phát triển và những thành quả đạt đươc của Ga Đà Nẵng : Error:
Reference source not found
III. Những thế mạnh, yếu kém, cơ hội và nguy cơ của Ga Đà Nẵng : Error: Reference
source not found
2, Điểm yếu : Error: Reference source not found
3, Cơ hội : Error: Reference source not found
4, Nguy cơ : Error: Reference source not found
5, Nguyện vọng đặt ra cần giải quyết : Error: Reference source not found
C. Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động :
Error: Reference source not found
Trường: Đại học Dân lập Duy Tân
Lớp: B16QTC(Văn bằng hai – Chuyên ngành Tài Chính Doanh nghiệp)
thông tin hữu ích cho việc kết nối các nguồn lực và khả năng
của công ty với môi trường cạnh tranh mà công ty đó hoạt động.
SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và
đánh giá vị trí, định hướng của một công ty hay của một đề án
kinh doanh.
SWOT phù hợp với làm việc và phân tích theo nhóm, được sử
dụng trong việc lập kế hoạch kinh doanh, xây dựng chiến lược,
đánh giá đối thủ cạnh tranh, tiếp thị, phát triển sản phẩm và dịch
vụ , cho phép phân tích các yếu tố khác nhau có ảnh hưởng
tương đối đến khả năng cạnh tranh của công ty.
Ý nghĩa và sự cần thiết phải phân tích ma trận SWOT :
Việc phân tích ma trận SWOT là rất cần thiết vì bất cứ một tổ
chức nào hay một doanh nghiệp nào cũng như một con người
nào bao giờ cũng có bốn vấn đề là thế mạnh, yếu kém, cơ hội và
nguy cơ. Do đó, trong quá trình thực hiện mục tiêu quản trị đòi
hỏi phải khai thác các tiềm năng, thế mạnh; hạn chế các yếu
kém; tranh thủ cơ hội và đẩy lùi nguy cơ nhằm đạt được mục
tiêu đã đề ra trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định.
Điểm mạnh và điểm yếu thường xuất phát từ nội tại trong tổ
chức của doanh nghiệp trong khi cơ hội và nguy cơ thường liên
quan tới những nhân tố từ bên ngoài. Vì thế, có thể coi SWOT
chính là một công cụ quan trọng do có tầm bao quát lớn đối với
một tổ chức. Nó có thể giúp doanh nghiệp tập trung vào điểm
mạnh của mình, giảm thiếu những điểm yếu, xem xét tất cả các
cơ hội mà doanh nghiệp đó có thể tận dụng được; và bằng cách
hiểu được điểm yếu của mình trong kinh doanh thì doanh
nghiệp sẽ có thể quản lý và xóa bỏ các rủi ro mà doanh nghiệp
đó không thể nhận thức hết.
Hơn nữa, doanh nghiệp có thể áp dụng SWOT cho chính đối thủ
cạnh tranh để từ đó tìm ra phương thức hiệu quả trong cạnh
doanh nghiệp.
Từ hai nhóm trên, người ta chia thành bốn loại nhân tố sau:
Strengths : là thế mạnh của doanh nghiệp. Là tổng hợp
tất cả các thuộc tính, các yếu tố bên trong làm tăng khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh
tranh. Hay nói cách khác, đó là tất cả các nguồn lực mà
doanh nghiệp có thể huy động, sử dụng để thực hiện các
hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn so với đối thủ cạnh
tranh.
Thế mạnh của doanh nghiệp thường thể hiện ở lợi thế
của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh trên thị
trường. Như lợi thế về quy cách, mẫu mã, chi phí,
thương hiệu, tính chất quản lý, phẩm chất kinh doanh,
uy tín doanh nghiệp trên thị trường.
Strengths: thường trả lời cho các câu hỏi: Lợi thế của
mình là gì? Công việc nào mình làm tốt nhất? Nguồn
lực nào mình cần, có thể sử dụng? Ưu thế mà người
khác thấy được ở mình là gì? Phải xem xét vấn đề từ
trên phương diện bản thân và của người khác. Cần
thực tế chứ không khiêm tốn hay tự sáng tạo thái quá.
Các ưu thế thường được hình thành khi so sánh với
đối thủ cạnh tranh. Chẳng hạn, nếu tất cả các đối thủ
cạnh tranh đều cung cấp các sản phẩm chất lượng cao
thì một quy trình sản xuất với chất lượng như vậy
không phải là ưu thế mà là điều cần thiết phải có để
tồn tại trên thị trường.
Weaknesses : là những điểm yếu của doanh nghiệp, là tất
cả những thuộc tính làm suy giảm tiềm lực của doanh
nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. Khả năng cạnh tranh
của một doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp có
tốt đang ở đâu? Xu hướng đáng quan tâm nào mình đã
biết? Cơ hội có thể xuất phát từ sự thay đổi công nghệ
và thị trường dù là quốc tế hay trong phạm vi hẹp, từ
sự thay đổi trong chính sách của Nhà nước có liên
quan tới lĩnh vực hoạt động của công ty, từ sự thay đổi
khuôn mẫu xã hội, cấu trúc dân số hay cấu trúc thời
trang…, từ các sự kiện diễn ra trong khu vực. Phương
thức tìm kiếm hữu ích nhất là rà soát lại các ưu thế của
mình và tự đặt câu hỏi liệu các ưu thế ấy có mở ra cơ
hội mới nào không. Cũng có thể làm ngược lại, rà soát
các yếu điểm của mình và tự đặt câu hỏi liệu có cơ hội
nào xuất hiện nếu loại bỏ được chúng.
Threats : là nguy cơ của doanh nghiệp, là những đe dọa,
nguy hiểm bất ngờ xảy ra sẽ gây thiệt hại, tổn thất hoặc
mang lại tác động xấu đến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp như thiệt hại về hàng hóa, tài sản, thu hẹp
thị trường và tổn hại đến uy tín thương hiệu.
Threats: thường trả lời cho các câu hỏi: Những trở
ngại đang phải đối mặt? Các đối thủ cạnh tranh đang
làm gì? Những đòi hỏi đặc thù về công việc, về sản
phẩm hay dịch vụ có thay đổi gì không? Thay đổi
công nghệ có nguy cơ gì với công ty hay không? Có
vấn đề gì về nợ quá hạn hay dòng tiền? Liệu có yếu
điểm nào đang đe dọa công ty? Các phân tích này
thường giúp tìm ra những việc cần phải làm và biến
yếu điểm thành triển vọng.
=> Opportunities và Threats là những yếu tố bên ngoài của
doanh nghiệp. Quá trình tự do thương mại là thời cơ đem lại
cho các doanh nghiệp được tự do kinh doanh, ít gặp rào cản
thương mại, tự do mở rộng thị trường mua bán sản phẩm của
- Nguồn tài chính.
- Hợp đồng chính yếu.
- Bản quyền và bí mật thương mại.
- Máy móc
- Nguyên liệu
- Quản lý
Các yếu tố bên ngoài cần phân tích có thể là:
- Khách hàng.
- Đối thủ cạnh tranh (hiện hữu và tiềm năng).
- Xu hướng thị trường.
- Nhà cung cấp.
- Đối tác.
- Thay đổi xã hội.
- Công nghệ mới.
- Môi truờng kinh tế.
- Môi trường chính trị và pháp luật (Luật pháp, chính
sách quy định của Nhà nước về loại hình kinh doanh của
công ty)
- Sản phẩm thay thế
- Xu hướng nền kinh tế vĩ mô
- Văn hóa xã hội
- Công nghệ
- Nhân khẩu học: dân số, tuổi tác, trình độ…
- Điều kiện tự nhiên của vùng cần phát triển.
B. Thực trạng :
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG MA TRẬN SWOT CỦA GA ĐÀ NẴNG
I. Đặc điểm của Ga Đà Nẵng :
Ga Đà Nẵng là một doanh nghiệp Nhà nước và trực thuộc Tổng
công ty Đường sắt Việt Nam. Ga Đà Nẵng được thành lập từ thời
Pháp thuộc và được đưa vào hoạt động từ tháng 11 năm 1983, với
GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1989 ĐẾN NĂM 1994:
Thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ VI đề ra, Đảng bộ Đường sắt Việt Nam đã đề ra những chủ
trương, phương hướng và mục tiêu đổi mới trong ngành Đường sắt,
trong đó đã xác định sản xuất kinh doanh là nhiệm vụ trọng tâm,
kiên quyết đoạn tuyệt với cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, xây
dựng khối đoàn kết vững mạnh, phấn đấu thực hiện ba mục tiêu:
“Làm cho nhân dân đỡ kêu ca ngành Đường sắt, đời sống cán bộ
công nhân viên đỡ khó khăn, Nhà nước bớt gánh nặng về tài chính
đối với ngành Đường sắt” và thực hiện ba phương châm: “Gắn
quyền lực với trách nhiệm, gắn quyền lợi với nghĩa vụ, không để
bất kỳ một tài sản nào không có người làm chủ cụ thể”.
Quán triệt chủ trương đổi mới của Đảng và ngành Đường sắt,
cán bộ công nhân viên Ga Đà Nẵng phấn khởi và nhanh chóng
nghiên cứu triển khai các phương án đổi mới tổ chức và các biện
pháp nâng cao chất lượng phục vụ hành khách, chủ hàng; mở rộng
các khâu sản xuất kinh doanh dịch vụ ngoài vận tải, nhằm giải
quyết việc làm cho số lao động dôi dư sau khi tinh giảm biên chế,
đồng thời qua đó cải thiện đời sống cho cán bộ công nhân viên.
Kết quả của việc thực hiện quá trình đổi mới đó là số cán bộ
công nhân viên của ga đã giảm khoảng 10%, bắt đầu hình thành lực
lượng lao động làm việc trong dây chuyền 2 (kinh doanh dịch vụ
ngoài vận tải) với tỉ lệ 8%, nhân viên nhà ga được trang bị đồng
phục trang nhã, lịch sự, thích hợp đối với công việc của tưng chức
danh. Về quản lý, Ga Đà Nẵng được phân cấp quản lý nhiều hơn
trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo cho ga có thêm phần tự
chủ về kinh tế. Về cơ sở hạ tầng, quảng trường ga đã được cải tạo
với những mảng cây xanh, hoa cảnh tươi mát; phòng bán vé, phòng
chờ tàu được cải tạo lại rộng rãi và thoáng mát, với đầy đủ tiện
nghi, tạo thuận lợi cho sự giao tiếp gần gũi hơn giữa nhân viên bán
tông hóa, xây dựng kéo dài đường sắt số 6 vào Trạm chỉnh bị để
tạo khả năng thực hiện tác nghiệp song trùng, tăng cường năng lực
thông qua ghi yết hầu, thuận lợi cho công tác chạy tàu. Thiết bị
thông tin tín hiệu phục vụ cho công tác tổ chức chạy tàu được đầu
tư mới, đó là hệ thống đóng đường nửa tự động, trang bị máy bộ
đàm, nhờ đó công tác điều hành được nhanh chóng, thuận lợi và an
toàn tuyệt đối.
Đưa tin học vào công tác quản lý và bán vé hành khách, bán vé
cước hành lý, hàng hóa, quản lý thu chi vận doanh, tài chính kế
toán, quản lý lao động, tiền lương, thông báo, quảng cáo, tiếp thị;
tiếp tục mở rộng mạng lưới đại lý bán vé tàu lửa tại các quận trên
thành phố và một đại lý bán vé tại Hội An.
Công tác xếp dỡ hành lý đã được cơ giới hóa, ga trang bị máy
nâng hàng, rơ-moóc kéo phục vụ cho việc vận chuyển hành lý từ
kho đến tận đoàn tàu; ga đã chủ động thực hiện đề án đóng thùng
sắt vận chuyển xe máy hai bánh thay cho đóng thùng gỗ trước đây,
trang bị ô tô tải, thực hiện dịch vụ nhận hành lý tận nhà, vận
chuyển hành lý từ nhà đến kho và ngược lại.
Cùng với việc đầu tư đổi mới trang thiết bị phục vụ hành khách,
chủ hàng, sự đổi mới trong phong cách phục vụ của cán bộ công
nhân viên nhà ga, Ga Đà Nẵng luôn quan tâm chú trọng công tác
giữ gìn an ninh trật tự khu ga với mục tiêu tạo môi trường lành
mạnh, văn minh, trật tự phục vụ hành khách, chủ hàng.
Với những nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên, Ga Đà
Nẵng đã cải thiện một bước đáng kể trong việc phục vụ hành
khách, chủ hàng, tạo công ăn việc làm ổn định, thu nhập của cán bộ
công nhân viên được cải thiện năm sau cao hơn năm trước, bước
đầu tạo ra thương hiệu “Ga Đà Nẵng”, thực hiện hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ cấp trên giao.
Ngày 23-12-1999 Ga Đà Nẵng một lần nữa đã vinh dự đón nhận
điểm.
Nhà ga luôn chú trọng nâng cao chất lượng phục vụ hành khách,
luôn tìm mọi biện pháp cải tiến và đổi mới nhằm phục vụ hành
khách ngày càng tốt hơn, đặc biệt là công tác bán vé tàu. Ga Đà
Nẵng thực hiện nhiều hình thức bán vé tàu như bán vé tàu qua
Internet, qua Email, đặt chỗ qua điện thoại, giao vé đến tận nơi
theo yêu cầu, bán vé tại các đại lý, lắp đặt thiết bị lấy số thứ tự tự
động, xếp hàng mua vé qua tin nhắn SMS. Ngoài ra ga còn xây
dựng trang web riêng của ga nhằm quảng bá thông tin đến với hành
khách, chủ hàng. Từ những cố gắng đó hiện nay tại Ga Đà Nẵng
không còn cảnh xếp hàng rồng rắn, chen lấn mất trật tự như trước
đây, đặc biệt là trong các đợt cao điểm vận tải hè, lễ, Tết.
Xác định an toàn là điều kiện sống còn của một đơn vị kinh
doanh vận tải, trong những năm qua Ga Đà Nẵng đã có nhiều cố
gắng để khắc phục những khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị
chạy tàu; triển khai thực hiệt tốt các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên
và đơn vị về đảm bảo an toàn giao thông đường sắt, phòng ngừa tai
nạn chạy tàu. Tổ chức nhiều buổi tọa đàm với chủ đề “Giữ vững an
toàn chạy tàu”. Thường xuyên duy trì công tác kiểm tra an toàn; tổ
chức phân tích, rút kinh nghiệm mỗi khi xuống ban; tuyên truyền
giáo dục về vai trò và ý nghĩa của công tác đảm bảo an toàn giao
thông đường sắt, tổ chức học tập quy trình quy phạm, thi sát hạch
luật lệ định kỳ 6 tháng, năm; duy trì việc viết bài sát hạch luật lệ
hàng tháng đối với những chức danh làm công tác chạy tàu, hàng
quý đối với các chức danh khác. Phát động phong trào thi đua đảm
bảo an toàn trong những đợt cao điểm vận tải Tết, hè và khen
thưởng xứng đáng đối với những cá nhân và tập thể có thành tích
giữ vững an toàn chạy tàu. Từ những cố gắng như trên, trong
những năm qua Ga Đà Nẵng luôn đảm bảo an toàn chạy tàu tuyệt
đối, không có chậm tàu do chủ quan; không có tai nạn lao động.
doanh, nâng cao chất lượng phục vụ hành khách, chủ hàng.
Với nhiều biện pháp đã thực hiện, kết quả sản xuất kinh doanh
của Ga Đà Nẵng trong giai đoạn từ năm 2003 đến nay tăng trưởng
ổn định, doanh thu năm sau cao hơn năm trước bình quân trên 5%,
riêng năm 2009 doanh thu đạt 92 tỷ đồng tăng trưởng 7% so với
năm 2008, thu nhập bình quân đầu người hàng năm đều tăng từ 5%
trở lên. Với phương hướng, nhiệm vụ năm 2010, Ga Đà Nẵng phấn
đấu hành khách lên tàu đạt 307,726 lượt người, tăng 6% so với
năm 2009; Tấn.km tính đổi: 286,030,421, tăng 8% so với năm
2009; doanh thu ngoài vận tải là hơn 92,886 tỷ đồng, tăng trưởng
10% so với năm 2009; phấn đấu thu nhập bình quân người lao
động tăng 5% so với năm 2009. Hàng năm đều tổ chức cho 100%
cán bộ công nhân viên tham quan du lịch trong và ngoài nước với
kinh phí trên 100 triệu đồng/năm. Ga Đà Nẵng đã bước đầu xây
dựng được thương hiệu trong lòng hành khách, chủ hàng –
nhà ga “Chính quy, văn hóa, an toàn”.
Với những kết quả đạt được trong sản xuất kinh doanh và xây
dựng đơn vị, ngày 27-03-2009 Ga Đà Nẵng một lần nữa đã vinh dự
được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ký tặng
thưởng Huân chương Lao động hạng nhất vì đã có thành tích xuất
sắc trong công tác từ năm 2004 – 2008 góp phần vào sự nghiệp xây
dựng Chủ nghĩa Xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
III. Những thế mạnh, yếu kém, cơ hội và nguy cơ của Ga Đà
Nẵng :
1, Điểm mạnh :
- Thế mạnh của ngành Đường sắt cũng như của Ga Đà Nẵng là có
thể vận chuyển các loại hàng hóa với số lượng và quy mô lớn đến
mọi địa điểm trên mọi miền Tổ quốc.
- Trong mùa mưa bão, lũ lụt, tàu lửa cũng có thể vận chuyển hành
khách và hàng hóa trong khi những phương tiện vận chuyển khác
điều hòa…). Giá thành hiện nay tương đối hạ.
- Ga Đà Nẵng đã lập một trang web riêng thuận tiện cho việc đăng
ký vé, đặt chỗ và lắp đặt một tổng đài điện thoại gồm nhiều đường
line hoạt động liên tục để phát thanh giờ tàu trực tuyến, cập nhật
thông tin, tiếp nhận những đóng góp và trả lời những thắc mắc của
hành khách, thực hiện dịch vụ bán vé qua điện thoại và giao vé đến
tận nơi theo yêu cầu của hành khách (miễn phí trong cự ly bán kính
7km). Hành khách có thể mua vé và thanh toán tiền qua ngân hàng
hoặc qua thẻ ATM.
- Nhà ga mở thêm nhiều quầy bán vé để phục vụ cho hành khách.
Đặc biệt vào dịp Tết, nhà ga bố trí năm cửa bán vé tàu tại Ga Đà
Nẵng, một quầy tại quận Sơn Trà và một quầy ở Hội An, thời gian
bán vé 24/24 giờ. Ngoài các điểm bán vé này, Ga Đà Nẵng còn tổ
chức bộ phận tiếp thị đến các trường đại học trên địa bàn thành phố
để thông báo kế hoạch tàu chạy Tết; qua đó, sinh viên có nhu cầu
đi lại sẽ được ưu tiên giải quyết.
- Ga Đà Nẵng hiện đang thay đổi phương thức tiếp cận khách hàng
bằng các chương trình kích cầu (giảm giá, khuyến mãi) nhân các
dịp lễ, hoặc lúc thấp điểm trong năm.
- Đội ngũ nhân viên nhà ga tận tụy, ham học hỏi và có khả năng
tiếp cận nhanh các kiến thức, kỹ thuật hiện đại, được trang bị
phong cách phục vụ chuyên nghiệp (từ khâu bán vé đến khâu phục
vụ hành khách trên suốt hành trình), ân cần, vui vẻ, lịch thiệp, thân
thiện với hành khách.
- Thiết bị toa xe đầy đủ, hầu hết đều được nhập khẩu từ nước
ngoài.
- Nhà ga luôn cung cấp đủ số lượng vé để đáp ứng đủ lượng cầu
của hành khách. Vào thời gian cao điểm (mùa thi, dịp hè, lễ Tết,
thời điểm nhập học…), nhà ga chạy thêm tàu, nối thêm toa, tăng
cường các toa xe để giải quyết nhu cầu đi lại tăng đột biến.
của ga là hết sức khó khăn, tốc độ tăng trưởng trong năm nay so
với các năm trước có phần giảm sút, mặc dù nhà ga đã có nhiều cố
gắng trong việc tổ chức thực hiện. Có rất nhiều nguyên nhân làm
ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của ga, đó là kinh tế thế giới suy
thoái, tình hình dịch bệnh, đặc biệt là dịch cúm A/H1N1 bùng phát,
lây lan trên diện rộng, tình hình bão lũ trong nước liên tiếp xảy ra
với mức độ tàn phá nặng nề, sự cạnh tranh khốc liệt của các
phương tiện vận tải đường bộ, đường hàng không, đường biển và
những nguyên nhân khách quan, chủ quan khác,…,những nhân tố
đó đã làm giảm sút nhu cầu đi lại của nhân dân và vận chuyển hàng
hóa bằng phương tiện đường sắt.
- Tàu lửa chỉ vận chuyển hàng hóa từ ga đến ga, chứ không cung
cấp đến tận chân công trình trong khi ô tô có thể vận chuyển hàng
hóa từ kho đến kho.
- Cơ sở hạ tầng và các trang thiết bị (đường ray, gác chắn…) ngày
càng xuống cấp. Đường ray quá hẹp, còn ở 1 mét, chưa được nâng
cấp và mở rộng ra 1,435 mét (chiều rộng đường ray tiêu chuẩn),
đường độc đạo (một chiều) làm hạn chế tốc độ cho phép của tàu,
tàu phải mất rất nhiều thời gian để chờ và tránh tàu khác, góp phần
làm tàu đến ga chậm, không đúng giờ so với kế hoạch dự kiến.
- Chính sách tiền lương thưởng chưa thỏa đáng. Lương cán bộ
công nhân viên còn thấp (chỉ từ 2 – 3 triệu). Đặc biệt là công nhân
làm ca phải trực đêm và những ngày lễ Tết không được nghỉ, với
mức lương thấp nhưng lại phải làm việc vất vã nên họ không có
động lực trong công việc. Chưa có chính sách khen thưởng và
trọng dụng xứng đáng, chưa phân công đúng người, đúng việc, dễ
dẫn đến tình trạng “chảy máu chất xám”.
- Chất lượng nguồn nhân lực kém. Trình độ học vấn của cán bộ
công nhân viên Ga Đà Nẵng phần lớn chỉ ở sơ, trung cấp, năng lực
thấp, độ tinh và tính kỷ luật chưa cao, ít được đào tạo bậc cao. Đội
thành tựu khoa học – công nghệ tiên tiến, hiện đại để áp dụng vào
việc chế tạo các loại tàu tốc hành, tàu trên cao, tàu điện ngầm,
tuyến đường sắt cao tốc, đường ray 1,435 mét, đường hai chiều…
để cải thiện độ an toàn và làm tăng vận tốc của tàu.
- Sắp đến, Đảng ủy Đường sắt Việt Nam sẽ thúc đẩy các dự án
trọng điểm, tập trung sửa chữa kết cấu hạ tầng đường sắt, đảm bảo
an toàn, chạy tàu êm thuận và phục vụ kịp thời cho vận tải.
- Với những chính sách giá vé ưu đãi đối với hành khách, năm tới,
Ga Đà Nẵng dự kiến sẽ có tốc độ tăng trưởng doanh thu cao.
- Đà Nẵng là một trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa lớn của
khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Hiện nay, Đà Nẵng đã và
đang trở thành một điểm hấp dẫn khách du lịch trên mọi miền Tổ
quốc cũng như trên thế giới vì ngoài cảnh quan thơ mộng, hữu tình
của một thành phố hội tụ đủ cả núi, sông và biển thì Đà Nẵng còn
là tâm điểm của những tour du lịch sinh thái và du lịch văn hóa lịch
sử (như Cố đô Huế, đèo Hải Vân, thánh địa Mỹ Sơn, kinh đô Trà
Kiệu, Hội An, Bà Nà, Non Nước…) và những sự kiện quốc tế lớn
(Cuộc thi bắn pháo hoa quốc tế hàng năm). Nhờ có tiềm năng du
lịch to lớn như vậy nên số lượng du khách ước tính đến Đà Nẵng
trong thời gian sẽ tăng một cách đột biến. Điều này sẽ góp phần
vào sự tăng trưởng doanh thu của Ga Đà Nẵng.
- Với lợi thế Việt Nam gia nhập WTO, Ga Đà Nẵng có điều kiện
tranh thủ vốn, công nghệ và đào tạo đội ngũ cán bộ. Hội nhập kinh
tế quốc tế tạo động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới, nâng cao năng
lực và trình độ quản lý, cải thiện chất lượng dịch vụ để tăng cường
độ tin cậy đối với khách hàng.
4, Nguy cơ :
- Trên thị trường, ngày càng xuất hiện nhiều phương tiện cạnh
tranh (như ô tô, máy bay, tàu thủy, xe bus…) nên Ga Đà Nẵng
cũng như ngành Đường sắt gặp phải những áp lực cải tiến công
tới.
- Trình độ và kỹ năng của cán bộ công nhân viên Ga Đà Nẵng
ngày càng được cải thiện và nâng cao.
- Uy tín, thương hiệu và hình ảnh, danh tiếng của Ga Đà Nẵng
ngày càng được đánh bóng, được nhiều người biết đến và tin cậy.
- Chất lượng phục vụ tốt hơn, nâng cao sự hài lòng của khách hàng
- Cơ sở hạ tầng, các trang thiết bị, nội thất được nâng cấp hiện đại
hơn.
- Đường ray được sửa chữa và mở rộng, nâng cấp lên 1,435 mét.
- Xây dựng đường đôi (đường hai chiều)
- Ứng dụng bán vé hành lý bằng điện toán
- Tăng vận tốc của tàu, rút ngắn thời gian tàu chạy.
- Dự kiến chính xác giờ tàu
- Hạn chế những rủi ro, tai nạn xảy ra.
- Chế độ lương thưởng được cải thiện, nâng cao đời sống cho
người lao động.
C. Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động :
Trong thời kỳ suy thoái toàn cầu hiện nay, nền kinh tế thế giới
còn đang tiếp tục gặp nhiều khó khăn và đầy biến động có ảnh
hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế trong nước, và với những đặc
điểm riêng của ngành, làm thế nào để thu hút hành khách, chủ hàng
đến với đường sắt nhằm tăng doanh thu, cải thiện tăng thu nhập
cho người lao động trong thời gian tới là vấn đề hết sức nan giải,
đòi hỏi không chỉ nỗ lực của riêng Ga Đà Nẵng mà các nhà lãnh
đạo, quản lý ngành Đường sắt phải có chiến lược và kế hoạch thực
hiện cụ thể.
Là một đơn vị hạch toán phụ thuộc, để Ga Đà Nẵng thực hiện
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao đòi hỏi không chỉ sự nỗ lực
phấn đầu của nhà ga mà còn rất cần sự đầu tư, hỗ trợ, phối hợp của
các đơn vị trong ngành và địa phương. Với những đặc điểm riêng
công khai thông tin cho hành khách, chủ hàng biết rõ về các quy
trình, thủ tục mua vé, gửi hàng, giờ tàu, giá vé, giá cước, các loại
hình dịch vụ…, thường xuyên cập nhật thông tin để tạo điều kiện
thuận lợi khi hành khách, chủ hàng tra cứu thông tin đến với đường
sắt.
- Tăng cường công tác nghiên cứu thị trường. Nghiên cứu thị
trường là một công việc cần thiết đối với bất cứ công ty nào trong
quá trình kinh doanh. Một công ty không thể khai thác hết tiềm
năng của mình cũng như không thỏa mãn được tất cả nhu cầu của
khách hàng nếu không có được đầy đủ các thông tin chính xác về
thị trường. Thông qua việc nghiên cứu thị trường, nhà ga sẽ nắm
được những thông tin cần thiết về giá cả, cung cầu hàng hóa và
dịch vụ mà nhà ga đang kinh doanh để đề ra những phương án
chiến lược và biện pháp cụ thể để thực hiện được mục tiêu mà nhà
ga đề ra.
- Xây dựng và phát triển uy tín và thương hiệu. Xây dựng hình ảnh
phải khơi dậy cảm xúc của khách hàng. Để xây dựng một thương
hiệu được khách hàng tin cậy thì nhà ga phải hiểu rõ khách hàng
của mình hơn ai hết và luôn lấy sự hài lòng của khách hàng làm
trọng tâm cho mọi hoạt động. Đi đôi với việc xây dựng hình ảnh,
thương hiệu, thì nhà ga cần phải thúc đẩy quá trình phát triển
thương hiệu của mình. Nên thúc đẩy quan hệ sẵn có với những
khách hàng “trung thành”.
- Nên xây dựng chiến lược dựa trên hiểu biết sâu sắc về khách
hàng, mục tiêu cũng như khả năng của nhà ga. Giới thiệu rõ ràng
và nhất quán chiến lược đó tới các nhân viên, khách hàng. Chỉ điều
chỉnh chiến lược của mình khi cần đáp ứng những thay đổi trên thị
trường – ví dụ như khi có công nghệ mới xuất hiện hoặc có các quy
định mới của Chính phủ.
- Luôn nhắc nhở và giữ cho những nhà quản lý, người lãnh đạo,
khách đến ga như đến công viên, siêu thị.
Giao thông vận tải đường sắt có vị trí, vai trò rất quan trọng đối
với sự phát triển của đất nước, phục vụ nhu cầu đi lại, vận chuyển
hàng hóa của nhân dân, góp phần vào tăng trưởng kinh tế chung
của đất nước, đồng thời đóng vai trò chiến lược trong bảo vệ an
ninh quốc phòng.